Đại Trí Độ Luận quyển 37
Tên chữ Hán:大智度論
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ - QUYỂN 37
QUYỂN 37
GIẢI THÍCH PHẨM BA: TẬP TƯƠNG ƯNG
Phần 3
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát hành Bát-nhã Ba-
la-mật, Tát-bà-nhã (trí tuệ) không cùng đời quá khứ hợp. Vì sao? Vì đời
quá khứ không thể thấy, huống gì Tát-bà-nhã cùng đời quá khứ hợp.
Tát-bà-nhã không cùng đời vị lai hợp. Vì sao? Vì đời vị lai không thể
thấy, huống gì Tát-bà-nhã cùng đời vị lai hợp. Tát-bà-nhã không cùng
đời hiện tại hợp. Vì sao? Vì đời hiện tại không thể thấy, huống gì Tát-
bà-nhã cùng đời hiện tại hợp. Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát tu tập tương
ưng như vậy, ấy gọi là cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng.
LUẬN: Bồ-tát hành Bát-nhã Ba-la-mật, không xem Tát-bà-nhã
cùng đời quá khứ đồng. Vì sao? Vì đời quá khứ là hư vọng, Tát-bà-nhã
là thật pháp; đời quá khứ là tướng sanh diệt, Tát-bà-nhã chẳng phải
tướng sanh diệt. Đời và pháp quá khứ, tìm cầu không thể có được, huống
gì Tát-bà-nhã cùng đời quá khứ hợp.
Lại nữa, Phật tự nói nhân duyên rằng: Bồ-tát ma-ha-tát hành Bát-
nhã Ba-la-mật không thấy đời quá khứ, huống gì Tát-bà-nhã cùng đời
quá khứ hợp. Đời vị lai, hiện tại cũng như vậy. Đời vị lai, trừ tướng sanh
diệt, các nghĩa khác đồng như quá khứ, hiện tại.
Lại nữa, vì Thời nên nói có ba đời. Nghĩa Thời như đã nói trong
chương Nhất thời trước kia.
Lại nữa, Tát-bà-nhã là trí tuệ chân thật của ba đời mười phương chư
Phật. Ba đời là từ tâm phàm phu hư vọng sanh, làm sao cùng trí tuệ hợp;
ví như chân kim vàng ròng không cùng sắt rỉ sét đồng tướng.
THÍCH KINH LUẬN 2
Hỏi: Như trong phẩm Tùy hỷ nói: Bồ-tát ma-ha-tát niệm các công
đức trí tuệ Tát-bà-nhã của chư Phật quá khứ, hiện tại, rồi hồi hướng đến
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; như vậy sao nói đời quá khứ, vị lai
không cùng Tát-bà-nhã hợp?
Đáp: Nếu lấy tâm chấp trước thủ tướng mà niệm Tát-bà-nhã thì
không gọi là hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, ví như đồ
ăn lẫn độc mới ăn vào tuy thơm ngon, mà sau hại thân. Nếu Bồ-tát phân
biệt trí tuệ của chư Phật quá khứ, hiện tại, thì có thể cùng ba đời hợp, còn
nay không chấp thủ tướng thì không có hợp.
Hỏi: Bồ-tát tụng niệm đời vị lai sẽ thành Tát-bà-nhà của Phật, cũng
tự nghĩ ta sẽ được Tát-bà-nhã; ấy gọi là cùng Tát-bà-nhã đời vị lai hợp,
làm sao nói không hợp?
Đáp: Tát-bà-nhã vượt qua ba cõi, ra khỏi ba đời, tướng rốt ráo thanh
tịnh. Hành giả chỉ do ức tưởng phân biệt rằng ta sẽ được Tát-bà-nhã ấy.
Như pháp thế gian ức tưởng ta sẽ có được việc ấy, nhưng việc ấy chưa
sanh chưa có, thời tiết chưa đến, nhân duyên chưa hội, hoàn toàn không
nơi chốn, làm sao sẽ cùng hợp, như sáng mai sẽ uống váng sữa mà ngày
nay đã nhớ mùi thối.
Lại như đệ tử của Ca-chiên-diên nói về quả vị Bồ-đề trong đời vị
lai, nói với Bồ-tát rằng, nếu tu thân tướng hảo, thì ta sẽ đến ở trong thân
đó, như con gái nhà sang, tự do không khổ nạn, sai sứ nói với con trai
nhà nghèo rằng, ngươi hãy trang nghiêm phòng xá màn trướng tốt đẹp,
đầy đủ các thứ, ta sẽ đến ở trong nhà ngươi. Nói như vậy, là không tương
ưng. Vì vậy nên không được cho Tát-bà-nhã cùng ba đời hợp.
Hỏi: Các pháp khác nhiều lắm, cớ sao chỉ nói Tát-bà-nhã?
Đáp: Tát-bà-nhã là chỗ đi về của Bồ-tát, thâm tâm muốn được, tìm
cầu trong ba đời.
Hỏi: Sao không cầu trong pháp hữu vi vô vi?
Đáp: Sau sẽ nói cầu trong hết thảy pháp.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát hànhBát-nhã Ba-la-
mật, sắc không cùng Tát-bà-nhã hợp, vì sắc không thể thấy; thọ, tưởng,
hành, thức cũng như vậy. Mắt không cùng Tát-bà-nhã hợp, vì mắt không
thể thấy; tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như vậy. sắc không cùng Tát-bà-
nhã hợp, vì sắc không thể thấy; tiếng, mùi, vị, xúc, pháp cũng như vậy.
Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát tu tập tương ưng như vậy, ấy gọi là
cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng.
LUẬN: Hỏi: Sao chỉ nói Năm uẩn, Mười hai nhập, mà không nói
Mười tám giới, Mười hai nhân duyên?
Đáp: Đáng lẽ phải nói, hoặc có khi người tụng quên mất. Sao biết?
Phật dạy Năm uẩn, Mười hai nhập, Mười tám giới, Mười hai nhân duyên
vì sự, nhơ, sạch. Năm uẩn, Mười hai nhập, Mười tám giới, Mười hai nhân
duyên gọi là sự; không nhất định là nhơ; không nhất định là sạch; trong
đó hoặc có kiết sử sanh hoặc có thiện pháp sanh, như ruộng nhất định có
thể sanh vật, tùy gieo giống gì đều sanh nấy. uẩn, nhập, giới, Mười hai
nhân duyên, ấy là sự; Sáu Ba-la-mật cho đến Trí nhất thiết chủng, ấy là
giống sạch. Không nói nhơ, là Bồ-tát kiết sử đã mỏng, không tự não hại,
thế nên không nói.
Lại Bồ-tát sâu vào trí tuệ, hiểu các pháp không, không có các phiền
não, chỉ nhóm các công đức, vì vậy nên nói Mười tám giới, Mười hai
nhân duyên, như trong sắc sự... không thể có Tát-bà-nhã hợp. Vì sao?
Vì Tát-bà-nhã trong ba đời không thể có được trong sắc sự... cũng không
thể có được. Ây đều là thế gian nhân duyên hòa hợp, không có tánh nhất
định.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát hành Bát-nhã Ba-
la-mật, Đàn Ba-la-mật không cùng Tát-bà-nhã hợp, vì Đàn Ba-la-mật
không thể thấy; cho đếnBát-nhã Ba-la-mật cũng như vậy. Bôn chỗ quán
niệm không cùng Tát-bà-nhã hợp, vì Bốn chỗ quán niệm không thể thấy;
cho đến Tám thánh đạo phần cũng như vậy.
LUẬN: Hỏi: Năm uẩn là pháp thế gian có thể không cùng Tát-bà-
nhã hợp, còn sáu Ba-la-mật cớ sao không hợp?
Đáp: Sáu Ba-la-mật có hai thứ: 1. Thế gian. 2. Xuất thế gian. Vì
Đàn Ba-la-mật thế gian nên nói không cùng hợp, vì Ba-la-mật xuất thế
gian nên cùng hợp.
Lại nữa, Bồ-tát hành sáu Ba-la-mật, lậu hoặc kiết sử chưa sạch,
không được cùng Tát-bà-nhã của Phật hợp.
Lại nữa, Phật dạy sáu Ba-la-mật không, còn không thể thấy, huống
gì cùng Tát-bà-nhã hợp. Ba mươi bảy đạo phẩm cũng như vậy.
Hỏi: Sáu Ba-la-mật ấy xen lẫn có đạo và tục, còn ba mươi bảy đạo
phẩm hướng đến Niết-bàn, cớ sao không hợp?
Đáp: Ba mười bảy đạo phẩm là pháp Nhị thừa, chỉ vì Niết-bàn, còn
Bồ-tát vì Phật đạo, thế nên không hợp.
Hỏi: Trong chương Đại thừa có nói Ba mươi bảy đạo phẩm, cũng là
Bồ-tát đạo, cớ sao không cùng Tát-bà-nhã hợp?
Đáp: Có vị Bồ-tát lấy tâm chấp trước hành Ba mươi bảy đạo phẩm,
THÍCH KINH LUẬN 2
phần nhiều hồi hướng đến Niết-bàn. Vì vậy nên Phật dạy không hợp.
KINH: Mười lực cho đến Mười tám pháp không chung của Phật,
không eùng Tát-bà-nhã hợp, vì Mười lực cho đến Mười tám pháp không
chung của Phật là không thể thấy.
Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát tu tập tương ưng như vậy, ấy gọi là
cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng.
LUẬN: Mười lực cho đến mười tám pháp không chung tuy là diệu
pháp mà vì Tát-bà-nhã nên tu hành. Vì Bồ-tát chưa dứt hết lậu kiết nên
không thể cùng Tát-bà-nhã hợp.
Lại nữa, pháp Mười lực... của Phật có ba thứ: 1. Đó là pháp tu hành
của Bồ-tát, tuy chưa được Phật đạo, song dần dần tu tập. 2. Đó là pháp
chứng đắc của Phật, mà Bồ-tát ức tưởng phân biệt tìm cầu. 3. Đó là pháp
chứng đắc của Phật tâm.
Hai thứ trước không thể cùng hợp, một thứ sau tuy có thể hợp mà
Bồ-tát chưa được, cho nên không hợp.
Lại nữa, vì không, không thể thấy, không thể thấy nên không hợp;
vì vậy đều nói là không thể thấy.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát hànhBát-nhã Ba-la-
mật, Phật không cùng Tát-bà-nhã hợp, Tát-bà-nhã không cùng Phật hợp;
Bồ-đề không cùng Tát-bà-nhã hợp, Tát-bà-nhã không cùng Bồ-đề hợp.
LUẬN: Hỏi: Bồ-tát và Bồ-tát pháp có thể không cùng Tát-bà-nhã
hợp, cớ sao Phật và Bồ-đề lại không cùng hợp?
Đáp: Phật là người, Tát-bà-nhã là pháp, người là giả danh, pháp là
nhân duyên. Chúng sanh cho đến kẻ biết, kẻ thấy là không, nên Phật
cũng không; bậc tôn thượng đệ nhất, trong chúng sanh gọi là Phật, thế
nên không hợp.
Lại nữa, được Tát-bà-nhã nên gọi là Phật, nếu Phật được Tát-bà-
nhã, như vậy trước đã là Phật, không cần Tát-bà-nhã; nếu chẳng phải
Phật được Tát-bà-nhã, cớ sao nói Phật được Tát-bà-nhã? Vì vậy, hòa
hợp nhân duyên sanh, không được nói trước sau.
Lại nữa, lìa Phật không có Tát-bà-nhã, lìa Tát-bà-nhã không Phật,
được Tát-bà-nhã nên gọi là Phật, sở hữu của Phật nên gọi là Tát-bà-
nhã.
Hỏi: Phật là người nên có thể không cùng hợp, Bồ-đề là vô thượng
đạo, cớ sao không hợp?
Đáp: Bồ-đề gọi là trí tuệ của Phật, Tát-bà-nhã gọi là hết thảy trí tuệ
của Phật. Mười trí là Bồ-đề, trí như thật thứ mười một gọi là Tát-bà-nhã
(xem chương 11 trí ở cuốn 23 - ND). Hai trí không cùng trong một tâm
sanh ra.
Lại nữa, các Phật pháp như Mười lực... và Phật Bồ-đề, đều là Bồ-tát
ức tưởng phân biệt, chẳng phải thật, chỉ có Tát-bà-nhã Phật chứng được
là thật, nay Bồ-đề này là Bồ-đề của Bồ-tát, trong tâm ấy hư vọng chưa
thật, làm sao cùng Tát-bà-nhã hợp được!
KINH: Vì sao? Vì Phật tức là Tát-bà-nhã, Tát-bà-nhã tức là Phật;
Bồ-đề tức là Tát-bà-nhã, Tát-bà-nhã tức là Bồ-đề. Xá-lợi-phất! Bồ-tát
ma-ha-tát hành Bát-nhã Ba-la-mật, tu tập tương ưng như vậy, ấy gọi là
cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng.
Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát hành Bát-nhã Ba-la-mật,
không tu tập sắc có, không tu tập sắc không; thọ, tưởng, hành, thức cũng
thư vậy. Không tu tập sắc có thường, không tu tập sắc vô thường; thọ,
tưởng, hành, thức cũng thư vậy. Không tu tập sắc khổ, không tu tập sắc
lạc; thọ, tưởng, hành thức cũng như vậy. Không tu tập sắc ngã, không tu
tập sắc phi ngã; thọ, tưởng, hành thức cũng như vậy. Không tu tập sắc
tịch diệt, không tu tập sắc phi tịch diệt; thọ, tưởng, hành, thức cũng như
vậy. Không tu tập sắc không, không tu tập sắc phi không; thọ, tưởng,
hành, thức cũng như vậy. Không tu tập sắc hữu tướng, không tu tập sắc
vô tướng; thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Không tu tập sắc hữu tác,
không tu tập sắc vô tác; thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy.
Bồ-tát ma-ha-tát ấy khi hành Bát-nhã Ba-la-mật không khởi niệm
rằng: Ta hành Bát-nhã Ba-la-mật, không hành Bát-nhã Ba-la-mật, không
phải hành không phải chẳng hành Bát-nhã Ba-la-mật.
Xá-lợi-phất! Bồ-tát tu tập tương ưng như vậy, ấy gọi là cùng Bát-
nhã Ba-la-mật tương ưng.
LUẬN: Nếu Bồ-tát quán năm uẩn chẳng phải có chẳng phải không,
nơi ấy cũng không chấp trước, bấy giờ cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương
ưng. Vì sao? Vì hết thảy thế gian chấp trước hai kiến hoặc có hoặc
không. Người thuận dòng sanh tử phần nhiều chấp trước có, người ng¬
hịch dòng sanh tử phần nhiều chấp trước không, người ngã kiến nhiều thì
chấp trước có, người tà kiến nhiều thì chấp trước không.
Lại nữa, người có bốn kiến (thân, biên, tà kiến và giới thủ) nhiều
chấp trước có, người tà kiến nhiều chấp trước không; người hai độc
(tham, sân) nhiều chấp trước có, người vô minh nhiều chấp trước không;
không biết năm uẩn do nhân duyên tập hợp phát sanh nên chấp trước có,
không biết sự tập hợp nên chấp trước không. Vì gần ác tri thức và sách
THÍCH KINH LUẬN 2
ngoại đạo tà kiến nên đọa vào đoạn diệt, không tin tội phước, người vô
kiến thì chấp trước không, các người khác thì chấp trước có.
Hoặc có chúng sanh cho hết thảy đều không, tâm chấp trước cái
không ấy. Vì chấp trước cái không ấy nên gọi là vô kiến; hoặc có chúng
sanh cho các pháp do sáu căn biết được đều là có, ấy là hữu kiến. Người
ái nhiều chấp trước hữu kiến, người kiến nhiều trước vô kiến. Như vậy
là chúng sanh chấp trước hữu kiến vô kiến.
Hai thứ kiến ấy hư vọng phi thật, phá trung đạo, ví như người đi
đường hẹp, một bên nước sâu, một bên lửa lớn, hai bên đều chết; chấp
có chấp không, hai bên đều sai. Vì sao? Vì nếu các pháp thật nhất định
có, thì không nhân duyên; nếu từ nhân duyên hòa hợp sanh, thì pháp ấy
không tự tánh; nếu không tự tánh tức không. Nếu không có pháp là thật,
thì không tội phước, không trói không mở, cũng không có các pháp sai
khác.
Lại nữa, người hữu kiến cùng người vô kiến trái nhau, trái nhau
nên có thị phi, thị phi nên tranh nhau, tranh nhau nên khởi lên các kiết
sử, kiết sử nên sanh nghiệp, sanh nghiệp nên mở cửa ác đạo. Trong thật
tướng không có trái nhau, thị phi đấu tránh.
Lại nữa, người chấp có, nếu việc vô thường xảy đến thì sanh ưu
não, nếu người chấp không, làm các tội nghiệp, chết đọa địa ngục thọ
khổ; người không chấp có không, không có các tội lỗi như vậy. Nên xả
bỏ bệnh chấp ấy thì được thật.
Lại nữa, năm uẩn hoặc thường hoặc vô thường, đều không đúng.
Vì sao? Vì nếu năm uẩn thường, thì không sanh không diệt, không sanh
không diệt thì không tội phước, không tội phước thì không quả báo thiện
ác, thế gian nhưNiết-bàn không hư hoại. Vọng ngữ như vậy, ai tin được.
Hiện thấy chết chóc khóc lóc, ấy là chúng sanh vô thường, như cỏ cây
khô rụng, hoa quả tiêu mòn, ấy là ngoại vật vô thường. Lúc đại kiếp tận,
tất cả đều diệt, ấy là đại vô thường.
Có các nhân duyên như vậy, năm uẩn thường, là không thể có
được.
Lại nữa, vô thường phá thường, không nên cho vô thường là đúng.
Vì sao? Vì nếu tướng các pháp vô thường, mỗi niệm tiêu diệt, thì sáu căn
không thể nhận biết sáu trần. Vì sao? Vì nội tâm ngoại trần đều không
đứng yên, không thể duyên được, không thể biết được, cũng không tu
tập nhân duyên quả báo. Vì nhân duyên nhiều nên quả báo cũng nhiều,
việc ấy không thể được.
Lại vì hữu thường kiến với vô thường kiến tranh nhau, có các nhân
duyên như vậy, năm uẩn vô thường, là không thể có được. Khổ, vui, ngã,
phi ngã, hoặc không, hoặc thật, có tướng, không tướng, có làm không
làm, nghĩa ấy như các nơi ở trước đã nói.
Năm uẩn tịch diệt là vì nhân duyên sanh nên không tự tánh, không
tự tánh nên tịch diệt, tịch diệt nên như Niết-bàn.
Bị ba độc đốt cháy nên không tịch diệt, lửa vô thường đốt nên không
tịch diệt, chấp trước tướng thật ba độc nên không tịch diệt, tướng ba độc
mỗi mỗi phân biệt nên không tịch diệt. Nghĩa này trước chưa nói, cho
nên nay trong đây nói.
Nếu Bồ-tát ma-ha-tát lìa được hai bên như vậy, thì hành trung đạo
và hành Bát-nhã Ba-la-mật cũng không chấp trước. Vì sao? Vì Bồ-tát
không thể có được, Bát-nhã Ba-la-mật cũng không thể có được; không
hành Bát-nhã Ba-la-mật cũng không chấp trước. Vì sao? Vì các người
phàm khác không thể như Bồ-tát quán thật tướng các pháp, làm sao
sẽ nói rằng ta không hành Bát-nhã Ba-la-mật? Hành không hành cũng
không chấp trước, vì cả hai đều lỗi, ấy gọi là cùng Bát-nhã Ba-la-mật
tương ưng.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát không vì Bát-nhã
Ba-la-mật nên hành Bát-nhã Ba-la-mật; không vì Thí Ba-la-mật, Giới
Ba-la-mật, Nhẫn nhục Ba-la-mật, Tinh tấn Ba-la-mật, Thiền Ba-la-mật,
nên hành Bát-nhã Ba-la-mật, không vì địa vị bất thối chưyển nên hành
Bát-nhã Ba-la-mật; không vì thành tựu chúng sanh nên hành Bát-nhã
Ba-la-mật; không vì tịnh Phật độ nên hành Bát-nhã Ba-la-mật; không vì
Mười lực, Bôn không sợ, Bốn trí vô ngại, Mười tám pháp không chung
của Phật nên hành Bát-nhã Ba-la-mật; không vì nội không nên hành Bát-
nhã Ba-la-mật; không vì ngoại không, nội ngoại không, không không,
đại không, đệ nhất nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cánh
không, vô thỉ không, tán không, tánh không, chư pháp không, tự tướng
không, bất khả đắc không, vô pháp không, hữu pháp không, vô pháp hữu
pháp không, nên hành Bát-nhã Ba-la-mật. Không vì như, pháp tánh, thật
tế nên hành Bát-nhã Ba-la-mật. Vì sao? Vì Bồ-tát ma-ha-tát khi hành
Bát-nhã Ba-la-mật, không hoại tướng các pháp. Tu tập tương ưng như
vậy, ấy gọi là cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng.
Hỏi: Sáu Ba-la-mật cho đến như, pháp tánh, thật tế, đó là Phật
pháp, Bồ-tát nếu không vì pháp ấy nên hành Bát-nhã Ba-la-mật, thì còn
có vì pháp gì có thể hành Bát-nhã Ba-la-mật?
THÍCH KINH LUẬN 2
Đáp: Như Phật tự nói trong đây, các pháp không có phá hoại, vì
không hoại tướng các pháp, cũng không phân biệt là bố thí, là xan tham,
cho đến là ba cõi, là thật tế.
Lại nữa, có Bồ-tát đối với thiện pháp ấy, thâm tâm buộc đắm, vì
buộc đắm nên sanh tội, vì hạng người ấy nên nói sáu Ba-la-mật cho đến
thật tế đều không, không có tự tánh như mộng như huyễn, ông chớ sanh
chấp, chân Bồ-tát không vì đó mà tu hành.
Có vị Bồ-tát tâm không chấp trước gì, hành sáu Ba-la-mật cho đến
thật tế. Vì hạng người này nên nói, vì việc đó nên hành Bát-nhã Ba-la-
mật, như trong phẩm sau nói: Vì đầy đủ sáu Ba-la-mật, cho đến vì giáo
hóa chúng sanh, tịnh Phật quốc độ, nên hành Bát-nhã Ba-la-mật.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát hànhBát-nhã Ba-la-
mật, không vì Như ý thần thông nên hành Bát-nhã Ba-la-mật; không vì
Thiên nhĩ, không vì Tha tâm trí, không vì Túc mạng trí, không vì Thiên
nhãn, không vì Lậu tận thần thông nên hành Bát-nhã Ba-la-mật. Vì cớ
sao? Vì Bồ-tát ma-ha-tát hành Bát-nhã Ba-la-mật, còn không thấy Bát-
nhã Ba-la-mật, huống gì thấy Bồ-tát thần thông.
Xá lợi-phất, Bồ-tát ma-ha-tát hành như vậy, ấy gọi là cùng Bát-nhã
Ba-la-mật tương ưng.
LUẬN: Trong Thiền Ba-la-mật nói trước đây, đã nói đủ năm thần
thông, sao nay còn nói lại?
Đáp: Trong kia nói tướng tổng quát, không phân biệt tên gọi, trong
đây nói tướng riêng.
Lại nữa, quả báo của công đức là năm thần thông, Bồ-tát được năm
thần thông ấy, có thể rộng lợi ích chúng sanh.
Lại nữa, tuy có từ bi, Bát-nhã Ba-la-mật, mà không có năm thần
thông, thì như chim không có hai cánh, không thể bay cao, cũng như
người mạnh không có khí giới mà vào trận địch, như cây không có hoa
quả, không có lợi ích, như kênh khô không nước, không thấm ướt gì, vì
vậy lại nói năm thần thông và trong vô lượng Phật pháp khác nói riêng,
không lỗi.
Hỏi: Nếu như vậy, cớ sao Phật dạy chẳng vì năm thần thông nên
hành Bát-nhã Ba-la-mật?
Đáp: Có nhiều Bồ-tát không phương tiện, mà được năm thần thông,
sanh tâm cao ngạo khinh các Bồ-tát khác. Vì hạng người này nên nói.
Vì sao? Vì đối với Bát-nhã Ba-la-mật là mẹ chư Phật, Bồ-tát còn không
chấp trước, huống gì năm thần thông.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát hànhBát-nhã Ba-la-
mật, không khởi niệm rằng: Ta dùng Như ý thần thông bay đến phương
đông cúng dường cung kính hằng hà sa chư Phật; phương tây, nam, bắc,
bôn góc trên, dưới cũng như vậy.
Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát hành Bát-nhã Ba-la-mật,
không khởi niệm rằng: Ta dùng Thiên nhĩ nghe mười phương chư Phật
nói pháp; không khởi niệm rằng: Ta dùng Tha tâm trí biết chúng sanh
mười phương tâm nghĩ gì; không khởi niệm rằng: Ta dùng Túc mạng
thông biết mười phương chúng sanh đời trước làm gì; không khởi niệm
rằng: Ta dùng Thiên nhãn thấy mười phương chúng sanh chết đây sanh
kia.
Này Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát hành như vậy, ấy gọi là cùng
Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng, cũng có thể độ vô lượng vô số chúng
sanh.
LUẬN: Trước tuy nói tên năm thần thông, nay trong đây nói công
dụng của nó.
Hỏi: Sao Bồ-tát không khởi niệm rằng: Ta dùng Như ý thần thông
bay đến mười phương cúng dường cung kính hằng hà sa chư Phật?
Đáp: Vì đã nhổ gốc ngã kiến, vì đã xô ngã núi kiêu mạn, vì khéo
tu ba môn giải thoát, ba tam-muội. Phật thân tuy diệu cũng vào ba môn
giải thoát, như thỏi vàng đỏ nóng, tuy thấy sắc đẹp, không thể lấy tay
rờ đến.
Lại các pháp như huyễn như hóa, không đến không đi, không gần
không xa, không có tướng nhất định, như người huyễn hóa, ai đi ai đến?
Không chấp thủ tướng thần thông, quốc độ, kia đây, gần xa, nên không
lỗi, hoặc có thể ở trước Phật, trú vào thiền định, biến làm vô lượng thân,
đi đến mười phương cúng dường chư Phật, không phân biệt gì, vì đã dứt
pháp ái. Các thần thông khác cũng như vậy.
Bồ-tát được năm thần thông ấy, vì cúng dường chư Phật nên biến ra
vô lượng thân, hiển bày lực đại thần thông, nơi ba đường ác trong mười
phương thế giới, độ vô lượng chúng sanh như trong phẩm vãng sanh
nói.
KINH: Này Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát, như vậy hành Bát-nhã
Ba-la-mật như vậy, ác ma không thể được thuận tiện, mọi việc thế gian,
tùy theo ý muốn, mười phương bằng hà sa chư Phật thảy đều ủng hộ Bồ-
tát ấy, khiến không đọa vào địa vị Thanh văn, Bích-chi Phật. Trời Tứ
thiên vương cho đến trời sắc cứu cánh cũng đều ủng hộ Bồ-tát ấy, khiến
THÍCH KINH LUẬN 2
không chướng ngại. Bồ-tát ấy nếu có trọng tội, hiện đời thọ quả báo nhẹ.
Vì sao? Vì Bồ-tát ma-ha-tát rải khắp lòng từ gia hộ chúng sanh.
Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát tu hành như vậy, ấy gọi là cùng Bát-
nhã Ba-la-mật tương ưng.
LUẬN: Nay tán thán Bồ-tát hành Bát-nhã Ba-la-mật như trên được
đại công đức, ấy gọi là quả báo về công lực trí tuệ của Bồ-tát, được năm
điều lợi ấy.
Hỏi: Ma là chủ cõi Dục, Bồ-tát là người, mắt thịt không được tự tại
cớ sao ma không được thuận tiện?
Đáp: Như trong đây Phật tự nói: Vì Bồ-tát được chư Phật, chư thiên
ủng hộ.
Lại nữa, hạnh Bồ-tát ấy rốt ráo không thể có được, vì tự tướng
không; đối với hết thảy pháp đều không chấp trước, không chấp trước
nên không sai trái, không sai trái nên ma không thể được thuận tiện; ví
như thân người không bị thương, tuy nằm giữa bột độc, độc cũng không
vào thân, nếu có chỗ bị thương nhỏ thì chết.
Lại Bồ-tát ấy đối với chư Phật tâm không chấp trước, đối với các
ma, tâm không giận, thế nên ma không được thuận tiện.
Lại nữa, Bồ-tát thâm nhập Nhẫn Ba-la-mật: Từ tam-muội, nên hết
thảy sự dữ bên ngoài, không thể làm tổn thương, đó là nước, lửa, đao
binh...
Mọi việc thế gian là các sự thích hợp cần để nuôi sống, như gieo
cấy cây quả, đào giếng ở đường trống, dựng lập nhà cửa, đúng như pháp
xử lý công việc, đều được nhưý. Nếu muốn tạo lập chùa tháp, làm phước
đức lớn, hoặc bố thí lớn, hoặc muốn thuyết pháp cứu độ chúng sanh, đều
dược nhưý. Các việc thế gian như vậy, hoặc lớn hoặc nhỏ, đều được như
pháp tùy ý. Vì sao? Vì Bồ-tát ấy đời đời đã nhóm vô lượng phước đức,
trí tuệ vậy.
Lại nữa, Bồ-tát hành Bát-nhã Ba-la-mật, đối với hết thảy pháp
tâm không chấp trước, tâm không chấp trước nên kiết sử mỏng. Kiết sử
mỏng nên hay sanh thiện căn thâm hậu, thiện căn thâm hậu sanh nên sở
nguyện như ý.
Lại nữa, Bồ-tát hành Bát-nhã Ba-la-mật nên các đại thiên đều kính
niệm tán thán xưng dương danh hiệu Bồ-tát ấy. Các rồng, quỷ... nghe
Chư thiên xưng tán cũng đến giúp thành việc ấy. Thế nên mọi việc thế
gian đều được như ý.
Lại nữa, Bồ-tát được chư Phật hộ niệm, oai đức gia bị, đều được
như ý.
Hỏi: Chư Phật mười phương tâm bình đẳng cớ sao hộ niệm riêng
Bồ-tát ấy.
Đáp: Bồ-tát ấy trí tuệ và công đức lớn, chư Phật tâm tuy bình đẳng,
theo pháp nên hộ niệm Bồ-tát ấy, để khuyến tấn các người khác.
Lại vì Bồ-tát ấy được khí phần trí tuệ của Phật, biết phân biệt thiện
ác, thường niệm người tốt, không ai hơn Phật, cho nên Phật hộ niệm.
Lại nữa, Phật hộ niệm nhưng muốn để cho rơi vào Thanh văn, Bích-
chi Phật. Vì sao? Vì khi vào không, vô tướng, vô tác, nhờ Phật hộ niệm
mà không đọa lạc, ví như trứng cá, mẹ hộ niệm thì sanh, không hộ niệm
thì hoại.
Các đại thiên ủng hộ là không muốn để làm mất sự tu hành, vì Chư
thiên bắt chước Phật mà hộ niệm. Có Chư thiên cho Bồ-tát hành Bát-
nhã Ba-la-mật, hoàn toàn không dính mắc gì, không vui cái vui thế gian,
chỉ muốn giáo hóa chúng sanh nên trụ ở đời, biết đó là tôn quý nên hộ
niệm.
Nếu có trọng tội là trọng tội đời trước, đáng vào địa ngục, do hành
Bát-nhã Ba-la-mật nên hiện đời thọ quả báo nhẹ, ví như án tù nặng đáng
chết, nhờ có thế lực ủng hộ, thì bị đánh đòn mà thôi.
Lại như con vua, tuy bị trọng tội, dùng phạt nhẹ trừ bỏ. Vì sanh
trong dòng vua vậy, Bồ-tát cũng như vậy, hành Bát-nhã ba-la mật đắc
trí tuệ thật, nên chính trong dòng Phật sanh ra, vì sanh trong dòng Phật
nên tuy có trọng tội, làm sao thọ nặng?
Lại nữa, ví như đồ sắt trong ruột trông không, nên vẫn nổi được trên
nước, nếu đầy đặc thì bị chìm. Bồ-tát cũng như vậy, hành Bát-nhã Ba-
la-mật, tâm trí tuệ rỗng hư, nên không chìm theo trọng tội. người phàm
phu không trí tuệ nên chìm mất theo trọng tội.
Lại nữa, trong đây Phật tự nói nhân duyên: lý do được năm công
đức là vì rải khắp lòng từ, gia hộ chúng sanh.
Hỏi: Trước nói vì hành Bát-nhã Ba-la-mật nên đầy đủ năm công
đức, sao nay nói dùng lòng từ rải khắp gia hộ chúng sanh?
Đáp: Làm phát sanh vô lượng phước, không gì hơn lòng từ, lòng từ
nhân Bát-nhã Ba-la-mật sanh, được vô lượng lợi ích.
Lại nữa, ác ma không được thuận tiện; được chư Phật hộ niệm;
trọng tội mà hiện đời chịu nhẹ, đều là nhờ lực Bát-nhã Ba-la-mật. Thế
gian mọi việc tùy theo ý muôn, chư thiên ủng hộ; ấy là lực của tâm đại
từ
THÍCH KINH LUẬN 2
Lại nữa, có hai duyên: 1. Chúng sanh duyên. 2. Pháp duyên. Bồ-tát
ấy nếu duyên chúng sanh thì là từ tâm, nếu duyên pháp thì là hành Bát-
nhã Ba-la-mật. Lòng từ ấy từ Bát-nhã Ba-la-mật sanh, tùy thuận pháp
Bát-nhã Ba-la-mật, thế nên nói từ, không lỗi.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát khi hành Bát-nhã
Ba-la-mật, mau được môn Đà-la-ni, các môn tam-muội, nơi sanh ra
thường được gặp chư Phật, cho đến khi chứng Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, trọn không lúc nào lìa sự thấy Phật.
Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát tu tập tương ưng như vậy, ấy gọi là
cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng.
LUẬN: Đà-la-ni, môn tam-muội, trước đã nói.
Mau được là do nhân duyên phước đức nên tâm nhu nhuyễn, do
hành Bát-nhã Ba-la-mật nên trí tuệ lanh lợi, vì vậy nên mau được. Như
năm công đức nói trên, nên mau được.
Nơi sanh ra thường được gặp chư Phật là Bồ-tát ấy ngoại trừ Bát-
nhã Ba-la-mật mẹ chư Phật, hết thảy việc khác đều không ái trước, vì
vậy ở nơi sanh ra thường gặp chư Phật, như người thường ưa đấu tranh,
sanh vào địa ngục “Sống lại” còn cầm dao gậy giết hại lẫn nhau; vì dâm
dục nhiều, thường chịu sanh trong bào thai, và làm loài chim đa dâm; vì
sân nhuế nhiều nên trở lại sanh vào loài rắn rết, thú độc; ngu si nhiều
như con thiêu thân bay vào lửa, loài trùng ẩn trong đất... các Bồ-tát ấy,
vì ái kính chư Phật và thật tướng Bát-nhã Ba-la-mật, và tu nghiệp Niệm
Phật tam-muội, nên nơi sanh ra thường gặp chư Phật.
Lại nữa, như trong chương Bồ-tát nguyện thấy chư Phật trước kia
nói: Trọn không lìa sự thấy Phật. Lại có người tuy một lần thấy Phật lại
không còn gặp, như thời đức Phật Tỳ-bà-thi, ông Bà-la-môn thầy vua,
tuy thấy Phật và Tăng mà ác khẩu mắng nhiếc rằng: “Người này như súc
sanh, không phân biệt người tốt, thấy ta mà không đứng dậy”. Vì tội ấy
nên trải qua chín mươi mốt kiếp đọa vào súc sanh.
Lại nữa, vì niệm Phật sâu, nên trọn không lìa Phật. Vì đời đời khéo
tu niệm Phật tam-muội, không mất tâm Bồ-tát, nguyện không lìa Phật,
nguyện sanh ở đời có Phật, gieo nghiệp nhân gặp Phật tương tục không
dứt nên cho đến chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, trọn không
lìa thấy Phật.
Hỏi: Đây là việc quả báo, cớ sao nói cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương
ưng?
Đáp: Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng nên gặp Phật, hoặc có khi trong
quả nói nhân vậy.
Tương ưng có hai: 1. Tâm tương ưng. 2. Tương ưng Bồ-tát hạnh.
Đó là sanh ở chỗ tốt, gặp gỡ chư Phật, thường nghe pháp, ức niệm chân
chánh, ấy gọi là tương ưng.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát khi hành Bát-nhã
Ba-la-mật không khởi niệm rằng, có pháp cùng với pháp hoặc hợp hoặc
chẳng hợp, hoặc bằng hoặc chẳng bằng. Vì sao? Vì Bồ-tát ma-ha-tát ấy
không thấy pháp cùng với pháp khác hoặc hợp hoặc chẳng hợp, hoặc
bằng hoặc không bằng.
Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát tu tập tương ưng như vậy, ấy gọi là
cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng.
LUẬN: Hết thảy pháp, không có pháp cùng pháp hợp nhau. Vì
sao? Vì các pháp không có phần ít hợp, ví như hai ngón tay đều có bốn
phương (bốn mặt) một phương hợp, ba phương không hợp, phần không
hợp nhiều, cớ sao không gọi là không hợp?
Hỏi: Vì có chỗ hợp nên gọi là hợp, cớ sao nói không hợp?
Đáp: Chỗ hợp chẳng là ngón tay, mà là phần ngón tay, chỉ là phần
ngón tay, không còn là ngón tay, vì hai ngón tay gần nhau nên giả danh
là hợp, lại không có pháp hợp thật.
Lại nữa, sắc, hương, vị, xúc, gọi chung là ngón tay; chỉ xúc là có
sức hợp, còn sắc, hương, vị không hợp; vì vậy không được nói ngón tay
hợp.
Lại nữa, như khác loài cùng ở một chỗ không gọi là hợp, vì tướng
khác nhau. Các pháp cũng như vậy, tướng đất ở trong đất, tướng nước ở
trong nước, tướng lửa ở trong lửa, tánh khác như vậy không gọi là hợp.
Vì vậy nên nói không có pháp cùng pháp hợp; không hợp nên cũng
không chẳng hợp.
“Bằng” là hết thảy pháp một tướng nên gọi là bằng. Vì đều là tướng
có, đều là tướng vô thường, đều là tướng khổ, tướng không, vô ngã, đều
là tướng chẳng sanh chẳng diệt, sự không khác nên gọi là bằng.
“Chẳng bằng” là mỗi mỗi tướng khác nhau, như tướng sắc tướng
vô sắc, tướng cứng, tướng ướt, như vậy khác nhau chẳng đồng, ấy gọi là
chẳng bằng.
Bồ-tát không thấy bằng cùng chẳng bằng. Vì sao? Vì hết thảy pháp
không có, tự tánh không nên không pháp; không pháp nên không thể
thấy, không thể thấy nên không bằng chẳng bằng. Bằng và hợp là tập
tương ưng, chẳng hợp chẳng bằng là chẳng tương ưng.
THÍCH KINH LUẬN 2
Hỏi: Cớ sao không nói tương ưng xong rồi sau tán thán?
Đáp: Người nghe nhàm chán giải đãi, thế nên Phật tán thán công
đức quả báo, người nghe tâm được vui vẻ.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát hành Bát-nhã Ba-
la-mật, không khởi niệm rằng: Ta sẽ mau chứng được pháp tánh hoặc
không được. Vì sao? Vì pháp tánh chẳng phải tướng chứng được.
Xá-lợi phất! Bồ-tát ma-ha-tát tu tập tương ưng như vậy, ấy gọi là
cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng.
LUẬN: Pháp tánh là thật tướng các pháp. Trừ các kiết sử vô minh
trong tâm, lấy tâm thanh tịnh thật quán được bản tánh các pháp, gọi
là pháp tánh. Tánh gọi là chân thật, vì chúng sanh tà quán nên bị trói,
chánh quán nên được mở, Bồ- tát không khởi niệm rằng: Ta mau được
pháp tánh. Vì sao? Vì pháp tánh không có tướng, không có gần xa; cũng
không nói Ta lâu dài sẽ được. Vì sao? Vì pháp tánh không chậm không
lâu. Nghĩa chữ pháp tánh như đã nói trong chương giải thích nghĩa Như,
Pháp tánh, Thật tế trước kia.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát khi hành Bát-nhã
Ba-la-mật, không thấy có pháp ra ngoài pháp tánh. T u tập tương ưng như
vậy, ấy gọi là cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng.
LUẬN: Các phiền não vô minh... vào trong hết thảy pháp nên mất
tự tánh các pháp, vì tự tánh mất, nên đều thành tà vạy không chính.
Thánh nhân từ bỏ vô minh, thật tánh các pháp trở lại sáng tỏ. Ví như mây
tối che tánh hư không trong sạch, trừ mây tối thì tánh hư không trong
sạch hiện ra. Nếu có pháp vô minh không vào được, ấy là ra ngoài pháp
tánh. Nhưng việc ấy không đúng, không có pháp ra khỏi Vô minh, thế
nên Bồ-tát không thấy pháp ấy ra khỏi pháp tánh; cũng như các dòng
đều chảy về biển, như các tiểu vương tản mác đều thuộc Chuyển luân
thánh vương, như các ánh sáng nhỏ đều thuộc mặt trời.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát khi hành Bát-nhã
Ba-la-mật, không khởi niệm rằng, pháp tánh phân biệt các pháp. Tu tập
tương ưng như vậy, ấy gọi là cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng.
LUẬN: Hỏi: Cớ sao không khởi niệm rằng, pháp tánh phân biệt các
pháp?
Đáp: Vì chấp trước pháp tánh, quý pháp tánh, nên sanh ra các kiết
sử, cho nên không khởi niệm ấy.
Hỏi: Nếu pháp tánh không, nhất tướng vô tướng, làm sao phân biệt
các pháp?
Đáp: Được pháp tánh ấy, diệt các phiền não vô minh, phá chấp thật
tướng các pháp, vậy sau tâm thanh tịnh, trí tuệ sáng suốt, biết các pháp
thật, theo pháp tánh là thiện, không theo pháp tánh là bất thiện, như
Phạm-chí Bà-ta hỏi Phật: “Thưa Thế Tôn! Trong trời đất có thiện ác, tốt
xấu chăng?” Phật đáp: “Có”. Bà-ta thưa: “Con đã lâu quy mạng Phật,
xin khéo nói cho con nghe”.
Phật dạy: “Có ba điều ác, ba điều thiện, mười điều ác, mười điều
thiện, đó là tham dục là ác, trừ tham là thiện; sân nhuế, ngu si là ác, trừ
sân, si là thiện. Sát sanh là ác, trừ sát sanh là thiện, cho đến tà kiến là
ác, trừ tà kiến là thiện. Như thật phân biệt được thiện ác là đệ tử Ta, vào
pháp tánh, gọi là đắc đạo”.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát khi hành Bát-nhã
Ba-la-mật, không khởi niệm rằng, Pháp ấy có thể đắc pháp tánh hoặc
không đắc. Vì sao? Vì Bồ-tát ấy không thấy dùng pháp ấy có thể đắc
pháp tánh hoặc không đắc.
Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát tu tập tương ưng như vậy, ấy gọi là
cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng.
LUẬN: Làm sao được pháp tánh. Tu hành Tám thánh đạo phần,
chứng được thật tướng các pháp, đó là Niết-bàn, ấy gọi là được pháp
tánh.
Lại nữa, tánh là thật tướng các pháp, pháp là Bát-nhã Ba-la-mật.
Bồ-tát không khởi niệm rằng: Hành Bát-nhã Ba-la-mật chứng được pháp
tánh. Vì sao? Vì Bát-nhã Ba-la-mật và các pháp tánh, hai pháp ấy không
khác nhau, vì đều là rốt ráo không, làm sao dùng Bát-nhã Ba-la-mật đạt
được pháp tánh.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát khi hành Bát-nhã
Ba-la-mật, pháp tánh chẳng cùng Không hợp, Không chẳng cùng pháp
tánh hợp. Tu tập tương ưng như vậy, ấy gọi là cùng Bát-nhã Ba-la-mật
tương ưng.
LUẬN: Bồ-tát không quán pháp tánh là không, không quán không
là pháp tánh. Hành Không đắc pháp tánh, duyên pháp tánh đắc Không,
vì vậy nên không khác. Vì sao? Vì là hai rốt ráo không.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát khi hành Bát-nhã
Ba-la-mật, nhãn giới chẳng cùng Không hợp, Không chẳng cùng nhãn
giới hợp; sắc giới chẳng cùng Không hợp, Không chẳng cùng sắc giới
hợp; nhãn thức giới chẳng cùng Không hợp, Không chẳng cùng nhãn
thức giới hợp; cho đến ý giới chẳng cùng Không hợp, Không chẳng cùng
THÍCH KINH LUẬN 2
ý giới hợp, pháp giới chẳng cùng Không hợp, Không chẳng cùng pháp
giới hợp; ý thức giới chẳng cùng Không hợp, Không chẳng cùng ý thức
giới hợp.
Thế nên, Xá-lợi-phất! Không ấy tương ưng, gọi là đệ nhất tương
ưng.
LUẬN: Nhãn giới chẳng cùng Không hợp, Không chẳng cùng nhãn
giới hợp là, nhãn là có, không là không. Không và có làm sao hợp?
Lại nữa, Bồ-tát phân biệt các nhân duyên, phân tán diệt mất nhãn
ấy, nên nhãn không; không không có tên nhãn (con mắt), nhơn gốc (nhân
duyên - ND) nên có Nhãn không, Không cũng không phân biệt là Nhãn
không, là chẳng phải Nhãn không, ấy là nhãn chẳng cùng Không hợp.
Lại Không chẳng từ nhân duyên của nhãn sanh. Vì sao? Vì hai pháp
ấy vốn tự không vậy; cho đến ý thức giới cũng như vậy.
Hỏi: Trong đây cớ sao không nói các pháp năm uẩn mà chỉ nói
mười tám giới?
Đáp: Đáng nên nói, hoặc có khi vì sự tụng chép bỏ sót đó thôi.
Lại có người nói: Nếu nói Mười tám giới thì thu nhiếp hết thảy
pháp. Có chúng sanh mê đối với tâm và sắc, không mê đối với tâm và
pháp, nên nghe nói Mười tám giới thì đắc độ, thế nên chỉ nói Mười tám
giới.
Hỏi: Sao gọi là Tập tương ưng đệ nhất?
Đáp: “Không” là tạng thâm áo của mười phương chư Phật, là cửa
Niết-bàn duy nhất, không còn cửa nào khác, phá được các tà kiến hý
luận, sự tương ưng ấy không thể hoại, không thể phá, thế nên gọi là đệ
nhất.
Lại nữa, Phật tự nói nhân duyên đệ nhất đó là:
KINH: Này Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát tập hành Không, chẳng
đọa vào địa vị Thanh văn, Bích-chi Phật, có thể tịnh Phật độ, thành tựu
chúng sanh, mau được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Này Xá-lợi-phất! Trong các tương ưng, tương ưng Bát-nhã Ba-la-
mật là tối đệ nhất, tối tôn, tối thắng, tối diệu, là không có gì trên. Vì sao?
Vì Bồ-tát ma-ha-tát ấy hành Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng, đó là không,
vô tướng, vô tác, nên biết Bồ-tát ấy như được thọ ký không khác, hoặc
gần thọ ký.
Này Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ma-tát tương ưng như vậy, có thể làm
lợi ích sâu dày cho vô lượng vô số chúng sanh. Bồ-tát ma-ha-tát ấy cũng
không khởi niệm rằng: Ta cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng; chư Phật
sẽ thọ ký cho Ta; Ta sẽ gần được thọ ký, Ta sẽ làm tịnh Phật độ, Ta
được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, sẽ Chuyển pháp luân. Vì sao?
Vì Bồ-tát ma-ha-tát ấy không thấy có pháp nào ngoài pháp tánh, cũng
không thấy pháp ấy hành Bát-nhã ba-la- mật, cũng không thấy pháp
ấy chư Phật thọ ký, cũng không có pháp được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác. Vì cớ sao? Vì Bồ-tát ma-ha-tát khi hành Bát-nhã Ba-la-
mật, không sanh tướng ngã, tướng chúng sanh, cho đến tướng người biết
người thấy. Vì sao? Vì chúng sanh rốt ráo chẳng sanh chẳng diệt, chúng
sanh không có sanh, không có diệt. Nếu không có pháp có tướng sanh
tướng diệt, làm sao có pháp sẽ hành Bát-nhã Ba-la-mật?
Như vậy, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát không thấy chúng sanh,
nên vì chúng sanh hành Bát-nhã Ba-la-mật. Vì chúng sanh không thọ,
chúng sanh không, chúng sanh không thể có được, chúng sanh lìa, nên
vì chúng sanh hành Bát-nhã Ba-la-mật.
Này Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát ở trong các tương ưng mà tương
ưng tối đệ nhất, đó là Không tương ưng, Không tương ưng ấy hơn các
tương ưng khác. Bồ-tát ma-ha-tát tu tập Không như vậy, có thể sanh
đại từ đại bi. Bồ-tát ma-ha-tát tu tập tương ưng ấy, không sanh tâm xan
tham, không sanh tâm phạm giới, không sanh tâm sân, không sanh tâm
giải đãi, không sanh tâm tán loạn, không sanh tâm vô trí.
LUẬN: Không đọa địa vị Thanh Văn, Bích-chi Phật, là Không
tương ưng, có hai: 1. Đản không. 2. Bất khả đắc không.
Chỉ tu hành Không, thì đọa địa vị Thanh văn, Bích-chi Phật. Tu
hành bất khả đắc không, không cũng không thể có được thì không chỗ
nào có thể đọa.
Lại có hai không: 1. Không, không có phương tiện, đọa hai địa
Thanh văn, Bích-chi Phật. 2. Không, có phương tiện, thì không đọa mà
thẳng đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Lại nữa, vốn có bi tâm sâu xa, vào “Không” thì không đọa, không
có tâm đại bi thì đọa, nhân duyên như vậy không đọa hai địa.
Thanh tịnh Phật độ, thành tựu chúng sanh là Bồ-tát trú trong Không
tương ưng ấy, không còn bị ngại, giáo hóa chúng sanh, khiến tu mười
thiện đạo, và các pháp lành. Vì nhân duyên chúng sanh tu thiện pháp
nên Phật quốc độ được thanh tịnh. Vì không sát sanh nên mạng sống
lâu. Vì không trộm cướp nên Phật quốc độ giàu vui, ứng niệm liền đến.
Chúng sanh tu thiện pháp như vậy, thì Phật quốc độ trang nghiêm.
Hỏi: Giáo hóa chúng sanh thì Phật quốc độ tịnh, cớ sao nói riêng?
THÍCH KINH LUẬN 2
Đáp: Chúng sanh tuy tu thiện, song cần phải có hạnh nguyện Bồ-tát
làm nhân duyên lực phương tiện hồi hướng, nên mới thanh tịnh Phật độ.
Như sức bò kéo xe, song phải cần người điều khiển mới được đi đến nơi.
Vì vậy nên nói riêng.
Mau được là hành Không tương ưng ấy, không có chướng ngại, thì
mau được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Hỏi: Trước nói Không tương ưng, nay nói Bát-nhã Ba-la-mật tương
ưng, sau nói vô tướng, vô tác tương ưng, có gì sai khác?
Đáp: Có hai không: 1. Bát-nhã không. 2. PhiBát-nhã không. Trước
nói Không tương ưng, người nghe nghi rằng hết thảy không, nên nói Bát-
nhã Ba-la-mật không.
Lại có người nghi chỉ có không đệ nhất, còn vô tướng, vô tác chẳng
phải đệ nhất. Thế nên nói không, vô tướng, vô tác tương ưng, cũng là đệ
nhất. Vì sao? Vì không là vô tướng, nếu vô tướng thì là vô tác, như vậy
là một mà tên gọi là khác.
Tối thượng nên nói là tối tôn; phá có nên nói là tối thắng; được
tương ưng ấy không còn vui khác nên nói là tối diệu. Như ở giữa hết
thảy chúng sanh, Phật là vô thượng; giữa hết thảy pháp, Niết-bàn là
vô thượng; giữa hết thảy pháp hữu vi, pháp lành tu tập tương ưng là vô
thượng. Các nghĩa khác như nói trong phẩm Tán Bát-nhã.
Hỏi: Nếu hành được Không tương ưng như vậy, bèn nên thọ ký, cớ
sao nói như thọ ký không khác, hoặc gần thọ ký?
Đáp: Bồ-tát ấy mới hành đạo, nhục thân chưa được vô sanh pháp
nhẫn, chưa được Ban châu tam-muội, chỉ do lực trí tuệ phân biệt được
như vậy, sâu vào không, Phật tán thán công đức vào không kia, cho nên
nói như thọ ký không khác.
Có ba hạng Bồ-tát được thọ ký: hạng như thọ ký, hạng gần thọ ký,
hạng được thọ ký. Trong phẩm Bất thối chuyển nói hai hạng như trong
đây nói.
Hỏi: Như đây nói tương ưng đệ nhất vô thượng, cớ sao không cho
thọ ký?
Đáp: Các công đức phương tiện, thiền định khác chưa nhóm, chỉ có
trí tuệ, cho nên chưa thọ ký.
Lại nữa, Bồ-tát ấy tuy có trí tuệ lợi căn mà các công đức khác chưa
thành thục, nên nghe nói hiện tiền thọ ký hoặc sanh kiêu mạn, cho nên
chưa cho thọ ký, lý do tán thán là muôn lấy đó khuyến tấn tâm kia.
Người lợi căn khi hành Không tương ưng ấy, như thọ ký không
khác, người độn căn khi hành Không tương ưng ấy, hoặc gần thọ ký.
Khiến chúng sanh thường an ổn được Niết-bàn, ấy gọi là lợi ích.
Lại có hai lợi ích: 1. Lìa khổ. 2. Cho vui.
Lại có hai là diệt chúng sanh thân khổ và tâm khổ.
Lại có ba vui là vui cõi trời, vui cõi người, vui Niết-bàn.
Lại có hai là lìa ba cõi, vào ba thừa.
Như vậy Bồ-tát ma-ha-tát lợi ích chúng sanh vô lượng vô số. Nghĩa
chúng sanh như trước đã nói.
Người đời có công lao lớn thì sanh tâm kiêu mạn, cầu được thưởng
đáp, vì cầu thưởng đáp là bất tịnh. Bồ-tát thì không như vậy, tuy cùng
Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng, lợi ích vô lượng chúng sanh, mà không
ngã tâm, không kiêu mạn, cho nên không cầu báo công, như đất tuy có
công lợi vật rất trọng mà không cầu báo đáp. Vì vậy nói Bồ-tát không
khởi niệm rằng: Ta cùng Bát-nhã tương ưng, chư Phật sẽ thọ ký, hoặc
gần thọ ký, Ta sẽ tịnh Phật độ, được Vô thượng đạo, Chuyển pháp luân.
Nghĩa Pháp luân như trước đã nói.
Hỏi: Những pháp gì ra ngoài pháp tánh?
Đáp: Trong đây Phật dạy, hành Bát-nhã Ba-la-mật mà người hành
Bát-nhã Ba-la-mật tức là Bồ-tát. Người biết, người thấy tức là chúng
sanh. Trong pháp tánh chúng sanh biến làm pháp tánh. Vì vậy Bồ-tát
tự không sanh tâm cao mạn, không theo chúng sanh cầu đáp ân phần,
không thấy chư Phật thọ ký cho. Như Bồ-tát không, Phật cũng như vậy.
Như hành giả không, được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cũng
không. Vì sao? Vì Phật tự nói: Bồ-tát ma-ha-tát hành Bát-nhã Ba-la-
mật, không sanh tướng chúng sanh, cho đến tướng người biết, người
thấy. Bồ-tát hành Bát-nhã Ba-la-mật còn không sanh tướng pháp, huống
gì tướng chúng sanh. Vì sao? Vì Phật tự nói nhân duyên: chúng sanh ấy
rốt ráo không sanh, không sanh nên không diệt. Nếu pháp không sanh
không diệt tức là pháp tánh; pháp tánh tức là Bát-nhã Ba-la-mật.
Sao Bát-nhã Ba-la-mật lại hành Bát-nhã Ba-la-mật? Bồ-tát không
chấp thủ chúng sanh, không chấp thủ thần ngã, chỉ có hư vọng chấp
ngã.
Chúng sanh không là vì pháp chúng sanh không có gì.
Chúng sanh không thể có được là vì thật trí tìm cầu không thể có
được.
Chúng sanh lìa là hết thảy pháp tự tướng xa lìa. Hết thảy pháp lìa
tự tướng là như lửa lìa tướng nóng... như nói rộng trong chương nói về
THÍCH KINH LUẬN 2
tướng không.
Đệ nhất tương ưng hơn các tương ưng khác, như trên đã nói.
Bồ-tát hành chúng sanh không, pháp không ấy, sâu vào “Không”
tương ưng, nhớ bổn nguyện độ sanh, thấy chúng sanh cuồng hoặc điên
đảo, ở trong Không sanh các chấp trước, liền sanh tâm đại bi rằng: Ta
tuy biết việc ấy (việc không) mà người khác không biết, vì giáo hóa nên
sanh tâm đại từ đại bi, cũng thường chẳng sanh tâm phá sáu Ba-la-mật.
Vì sao? Vì sơ tâm Bồ-tát hành sáu Ba la-mật, vì sáu ác lẫn lộn nên sáu
Ba-la-mật không tăng trưởng, vì không tăng trưởng nên không mau đắc
đạo. Nay biết tướng các pháp, nhổ gốc sáu pháp ác ấy. Vì sao? Vì Bồ-
tát biết bô" thí là thiện, tâm xan lẫn là bất thiện, hay đọa trong ngạ quỷ
nghèo cùng. Biết tâm xan tham như vậy, tự tiết thân mình, đắm vui thế
gian nên trở lại sanh tâm xan tham. Bồ-tát có thể thí vật nhẹ, không thể
thí vật quý trọng, thí vật ngoài, không thể thí vật trong, vì chấp trước ta,
chấp trước người thọ nhận, thủ tướng chấp trước tài vật nên phá Đàn Ba-
la-mật, tuy có bô" thí mà không thanh tịnh.
Bồ-tát ấy hành Không tương ưng, nên không thấy ngã, cũng không
thây cái vui thê" gian, làm sao còn sanh chấp trước mà phá Đàn Ba-la-
mật?
Hỏi: Nếu không thấy ngã, không thấy cái vui thê" gian nên không
phá, thì cũng nên không thấy bô" thí, làm sao hành bô" thí?
Đáp: Bồ-tát â"y tuy không thấy bô" thí, lấy Không tâm thanh tịnh bố
thí, khởi niệm rằng: Bô" thí này là không, không có gì, vì chúng sanh cần
nên thí cho. Như trẻ con lấy đất làm vàng bạc, người lớn không thấy đó
là vàng bạc, bèn theo ý cho nó, mà trọn không có cho gì hết. Năm Ba-
la-mật khác cũng như vậy. Vì vậy tuy đồng là Không mà phá xan tham,
không phá bô" thí.
Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát trú trong “Không” tương ưng â"y, có
thể thường không sanh sáu ác tâm.
LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ
Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.