Đại Trí Độ Luận quyển 36
Tên chữ Hán:大智度論
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ - QUYỂN 36
QUYỂN 36
GIẢI THÍCH PHẨM BA: TẬP TƯƠNG ƯNG
Phần 2
KINH: Xá-lợi-phấtbạch Phật rằng: Làm sao Bồ-tát ma-ha-tát vượt
quá địa vị Thanh văn, Bích-chi Phật mà trú ở địa vị bất thối, thanh tịnh
Phật đạo?
LUẬN: Hỏi: Xá-lợi-phất vì nhân gì mà hỏi điều ấy?
Đáp: Trên kia Xá-lợi-phất hỏi về các trí không khác nhau, Phật đã
dùng các thí dụ chỉ rõ trí Bồ-tát hơn, ý đã hiểu rồi, nay hỏi làm sao Bồ-tát
có thể vượt quá nhị thừa mà trú địa vị bất thối, thanh tịnh Phật đạo.
Hỏi: Tiểu thừa không có khả năng thành Phật, cớ sao hỏi việc thanh
tịnh Phật đạo?
Đáp: Xá-lợi-phất là vị tướng theo Phật Chuyển pháp luân, tuy tự
mình không lợi ích, mà vì lợi ích cho chúng sanh cầu Phật đạo nên hỏi.
Lại vì Bồ-tát đại bi làm nhiều lợi ích, thế nên hỏi việc của Bồ-tát,
để lợi ích cho chúng sanh.
Lại nữa, Xá-lợi-phất mong nhờ Phật ân mà phá các tà kiến, được
thành đạo quả, vì muôn báo ân nên hỏi việc Bồ-tát.
Lại Xá-lợi-phất đã cùng tận bờ mé của địa vị Thanh văn, điều chưa
hiểu là việc Bồ-tát, thế nên lại hỏi.
Lại vì pháp Bồ-tát rất sâu vi diệu, tuy không thể được song vì ưa
thích nên hỏi, thí như người thấy báu đẹp mình tuy không có mà ưa thích
nên hỏi.
KINH: Phật bảo Xá-lợi-phất: Bồ-tát ma-ha-tát từ khi mới phát tâm
hành sáu Ba-la-mật, trú pháp không, vô tướng, vô tác, đã vượt quá địa
vị Thanh văn, Bích-chi Phật, mà trú địa vị bất thối chuyển, thanh tịnh
THÍCH KINH LUẬN 2
Phật đạo.
LUẬN: Hỏi: Ba việc ấy, ở trong phẩm sau nói đều có nhân duyên,
sao nay Phật nhập chung lại nói?
Đáp: Trong đây lược nói, sau sẽ nói rộng nhân duyên của ba việc.
Lại nay, chỉ nói nhân duyên của không, vô tướng, vô tác, sau sẽ nói
các công đức, cho nên hợp ba sự mà nói.
Hỏi: Vào ba môn giải thoát thời đến Niết-bàn, sao nay cho không,
vô tướng, vô tác có thể vượt quá địa vị Thanh văn, Bích-chi Phật?
Đáp: Vì không có lực phương tiện nên vào ba môn giải thoát là
thẳng đến Niết-bàn. Nếu có lực phương tiện thì trí ba môn giải thoát,
thấy Niết-bàn, vì tâm từ bi, nên chuyển tâm khởi trở lại, như trong phẩm
sau nói, ví như ngửa mặt bắn hư không, mỗi mũi tên dính nhau, không
cho rơi xuống đất. Bồ-tát cũng như vậy, lấy mũi tên trí tuệ ngước bắn hư
không “Ba giải thoát”, do lực phương tiện, mũi tên sau bắn mũi tên trước,
không cho rơi xuống đất “Niết-bàn”. Vị Bồ-tát ấy tuy thấy Niết-bàn mà
đi thẳng qua không trụ lại, còn mong đại sự, đó là Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác. Nay là lúc đang quán, chứ chẳng phải lúc chứng, như
vậy nên nói rộng. Nếu quá hai địa vị ấy, biết các pháp chẳng sanh chẳng
diệt, tức là địa vị bất thối chuyển. Trú ở địa vị bất thối chuyển, giáo hóa
chẳng sanh thanh tịnh Phật độ, ấy là có thể thanh tịnh Phật đạo.
Lại nữa, Bồ-tát trú ở ba môn giải thoái, quán Tứ đế biết đó là pháp
Thanh văn, Bích-chi Phật. Thẳng qua Tứ đế, vào Nhất đế, đó là hết thảy
pháp chẳng sanh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng đến chẳng
đi... Vào trong Nhất đế ấy, gọi là địa vị bất thối chuyển. Trú ở địa vị bất
thối chuyển, thanh tịnh Phật đạo, diệt trừ nghiệp thô ác nơi thân, miệng,
ý, và diệt những việc đã sai lầm từ đầu đến nay đối với các pháp, ấy gọi
là thanh tịnh địa vị Phật đạo.
KINH: Xá-lợi-phất bạch Phật rằng: Bồ-tát ma-ha-tát, trú địa vị nào
có thể làm ruộng phước cho Thanh văn, Bích-chi Phật?
LUẬN: Xá-lợi-phất thâm tâm cung kính Bồ-tát, nên nay hỏi Bồ-
tát chưa hết lậu kiết, trú công đức nào, mà có thể làm ruộng phước cho
Thanh văn, Bích-chi Phật.
KINH: Phật bảo Xá-lợi-phất: Bồ-tát ma-ha-tát từ khi mới phát tâm
hành sáu Ba-la-mật, cho đến khi ngồi đạo tràng, ở khoảng trung gian ấy,
thường làm ruộng phước cho Thanh văn, Bích-chi Phật.
LUẬN: Phật lấy nghĩa này khai thị Xá-lợi-phất: tuy ba môn giải
thoát và Niết-bàn đồng nhau, mà Bồ-tát có tâm đại từ bi, còn Thanh văn,
Bích-chi Phật thì không. Bồ-tát từ khi mới phát tâm hành sáu Ba-la-mật,
cho đến mười tám pháp không chung, đều muốn độ hết thảy chúng sanh,
đầy đủ hết thảy Phật pháp, cho nên hơn.
KINH: Vì cớ sao? Vì nhờ có nhân duyên của Bồ-tát ma-ha-tát, nên
các thiện pháp thế gian được phát sanh.
LUẬN: Trước Phật đã lấy một nhân duyên lợi ích mà hành các hạnh,
nên làm ruộng phước cho Thanh văn, Bích-chi Phật, nay nói nhờ có Bồ-
tát làm nhân duyên lợi ích bên ngoài, nên thế gian mới có được hết thảy
pháp lành. Vì cớ sao? Vì Bồ-tát phát tâm, tuy khi chưa thành Phật, song
đã khiến chúng sanh khả độ, trú vào ba thừa đạo, nếu không trú được ba
thừa, thì khiến trú mười thiện đạo, hu ông gì khi thành Phật.
Hỏi: Do nhân duyên của Thanh văn, Bích-chi Phật cũng khiến thế
gian có được pháp lành, cớ sao chỉ nói Bồ-tát mới có thể khiến chúng
sanh có được pháp lành?
Đáp: Nhân Thanh văn, Bích-chi Phật mà thế gian có được pháp
lành cũng đều do Bồ-tát nên có, nếu Bồ-tát không phát tâm, thế gian
không có Phật đạo, huống gì Thanh văn, Bích-chi Phật. Phật đạo là gốc
căn bản của Thanh văn, Bích-chi Phật.
Lại nữa, tuy nhân Thanh văn, Bích-chi Phật mà có một ít pháp lành,
nhưng vì ít nên không nói. Thanh văn, Bích-chi Phật còn không nói đến,
huống gì nói đến các thầy ngoại đạo.
KINH: Những gì là pháp lành? Đó là Mười thiện đạo, Năm giới,
Tám phần trai giới, Bốn thiền, Bôn tâm vô lượng, Bốn định vô sắc, Bốn
chỗ niệm tưởng, Bốn siêng năng chính, Bôn thần túc như ý, Năm căn,
Năm lực, Bảy giác phần, Tám phần thánh đạo, đều xuất hiện ở đời.
Do nhân duyên của Bồ-tát mà Sáu Ba-la-mật Mười tám không,
Mười lực của Phật, Bôn việc không sợ, Bốn trí vô ngại, Mười tám pháp
không chung, Đại từ Đại bi, Trí nhất thiết chủng, đều hiện ở đời.
Do nhân duyên của Bồ-tát nên có dòng lớn Sát-lợi, dòng lớn Bà-la-
môn, đại gia cư sĩ, trời Tứ thiên vương, cho đến trời Phi hữu tưởng phi vô
tưởng, đều xuất hiện ở đời.
Do nhân duyên của Bồ-tát nên có Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-
hàm, A-la-hán, Bích-chi Phật đều xuất hiện ở đời.
LUẬN: Hỏi: Do nhân duyên của Bồ-tát nên có pháp lành hiện ở đời
thì có thể như vậy, còn dòng lớn Sát-lợi, dòng lớn Bà-la-môn, đại gia cư
sĩ, nếu đời không có Bồ-tát cũng vẫn có các quí tộc này, cớ sao nói đều
từ Bồ-tát phát sanh?
THÍCH KINH LUẬN 2
Đáp: Do nhân duyên của Bồ-tát, thế gian có Năm giới, Mười thiện,
Tám trai giới... pháp ấy có thượng, trung, hạ. Thượng thì đắc đạo, trung
thì sanh cõi trời, hạ thi sanh cõi người, nên mới có dòng lớn Sát-lợi, dòng
lớn Bà-la-môn, đại gia cư sĩ.
Hỏi: Nếu đời không có Bồ-tát, thế gian cũng có Năm giới, Mười
thiện, Tám trai giới, dòng lớn Sát-lợi...?
Đáp: Bồ-tát thọ thân nhiều cách, hoặc có khi thọ thân theo nghiệp
nhân duyên, hoặc thọ thân biến hóa, ở thế gian giáo hóa, nói các thiện
pháp, và pháp thế giới, pháp vua, pháp thế tục, pháp xuất gia, pháp tại
gia, pháp chủng loại, pháp cư gia. Thương xót chúng sanh, hộ trì thế giới,
tuy không có pháp Bồ-tát, mà thường thực hành pháp thế gian. Vì nhân
duyên ấy, nên nói đều từ Bồ-tát mà có.
Hỏi: Bồ-tát thanh tịnh, hành đại từ bi, cớ sao nói xen các pháp thế
tục?
Đáp: Có hai hạng Bồ-tát: 1. Hành từ bi thẳng vào Bồ-tát đạo. 2. Bại
hoại Bồ-tát cũng có bi tâm, sửa trị theo phép nước, không chút tham lợi;
tuy có làm điều phiền nhiễu, nhưng làm điều an ổn nhiều hơn. Trị một
người ác, để thành một nhà, người lập pháp như vậy, tuy không gọi là
thanh tịnh Bồ-tát, mà được gọi là bại hoại Bồ-tát. Vì nhân duyên ấy, nên
nói đều do Bồ-tát mà có.
Người giàu sang ở thế gian, đều từ nhị thừa đạo mà có; nhị thừa đạo
từ Phật mà có; Phật nhân Bồ-tát mà có. Nếu không có Bồ-tát nói pháp
lành thì thế gian không có đạo trời, đạo người, đạo A-tu-la, không có thọ
vui, không có thọ không khổ không vui, chỉ có thọ khổ, thường có tiếng
địa ngục kêu khóc. Bồ-tát có lợi ích lớn như vậy, cớ sao không gọi là làm
phước điền cho thế gian?
Xá-lợi-phất nghe Bồ-tát có công đức lớn cần nên cúng dường, tâm
nghĩ rằng: Bồ-tát tuy có công đức lớn, mà phiền não chưa hết, không thể
tiêu hóa sự cúng dường ấy? Ví như người tuy ăn đồ ngon mà bên trong
có bệnh, nên không thể tiêu hóa. Vì vậy nên:
KINH: Xá-lợi-phất bạch Phật rằng: Bồ-tát ma-ha-tát có báo đáp
đầy đủ ân thí chủ chăng?
Phật dạy: Không. Vì sao? Vì vốn đã báo đáp đầy đủ rồi.
LUẬN: Nì Bồ-tát từ khi mới phát tâm đã là bậc thượng thủ cho hết
thảy chúng sanh cúng dường. Vì cớ sao? Vì tâm quyết định chịu thay khổ
nhọc cho vô lượng vô sô" chúng sanh. Lại lợi ích vô lượng vô số chúng
sanh khiến được độ thoát; muốn lấy sức đại trí tuệ về hết thảy Phật pháp
làm cho thế gian tức là Niết-bàn. Có các nhân duyên như vậy, nên nói
vốn đã báo đáp đầy đủ.
Lại nữa, Phật nói lại nhân duyên tiêu hóa ân bô" thí như:
KINH: Này Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát là đại thí chủ. Thí những
gì? Thí các pháp lành. Những pháp lành gì? Mười thiện đạo, Năm giới
cho đến Mười tám pháp không chung, Trí nhất thiết chủng; lấy các pháp
ấy thí cho.
LUẬN: Trước nói do nhân duyên của Bồ-tát mà thế gian có pháp
lành, nay nói Bồ-tát là vị chủ thí pháp lành, đó là chỗ sai khác.
KINH: Xá-lợi-phất bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Bồ-tát ma-ha-
tát làm thế nào tu tập tương ưng Bát-nhã Ba-la-mật, cùng với Bát-nhã
Ba-la-mật tương ưng?
LUẬN: Trên kia nói một ngày tu Bát-nhã Ba-la-mật, thắng hơn
Thanh văn, Bích-chi Phật. Từ nhân duyên ấy, Phật mỗi mỗi tán thán Bồ-
tát có công đức lớn như vậy, đều từ Bát-nhã Ba-la-mật phát sanh. Thế
cho nên nay hỏi làm thế nào Bồ-tát tập hành Bát-nhã Ba-la-mật, cùng
với Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng?
Lại nữa, Xá-lợi-phất biết Bát-nhã Ba-la-mật khó tu khó đắc, như
huyễn như hóa, khó thọ trì được, sợ hành giả sai trái, nên hỏi tu tập tương
ưng.
KINH: Phật bảo Xá-lợi-phất: Bồ-tát ma-ha-tát tu tập tương ưng sắc
không, ấy gọi là cùng với Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng. Tu tập tương
ưng với thọ, tưởng, hành, thức không, ấy gọi là cùng với Bát-nhã Ba-la-
mật tương ưng.
Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát tu tập tương ưng với nhãn
không, ấy gọi là cùng với Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng. Tu tập tương
ưng với nhĩ, tỷ thiệt, thân, ý không, ấy gọi là cùng với Bát-nhã Ba-la-mật
tương ưng. Tu tập tương ưng với sắc không, ấy gọi là cùng với Bát-nhã
Ba-la-mật tương ưng. Tu tập tương ưng với thanh, hương, vị, xúc, pháp
không, ấy gọi là cùng với Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng. Tu tập tương
ưng với nhãn giới không, sắc giới không, nhãn thức giới không, ấy gọi
là cùng với Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng. Tu tập tương ưng với nhĩ giới,
thanh giới, nhĩ thức giới; tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới; thiệt giới, vị
giới, thiệt thức giới; thân giới, xúc giới, thân thức giới; ý giới, pháp giới,
ý thức giới không, ấy gọi là cùng với Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng. Tu
tập tương ưng với khổ không, ấy gọi là cùng với Bát-nhã Ba-la-mật
tương ưng. Tu tập tương ưng với Tập, Diệt, Đạo không, ấy gọi là cùng
THÍCH KINH LUẬN 2
với Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng. Tu tập tương ưng với vô minh không,
ấy gọi là cùng với Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng. Tu tập tương ưng với
hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử không,
ấy gọi là cùng với Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng. Tu tập tương ưng với
hết thảy pháp không, hoặc hữu vi, hoặc vô vi, ấy gọi là cùng với Bát-nhã
Ba-la-mật tương ưng.
LUẬN: Năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Sắc uẩn: là pháp có thể thấy, nhân duyên của sắc ấy cùng có thứ
không thể thấy, có đối ngại. Có đối ngại tuy không thể thấy, cũng gọi là
sắc. Như người đắc đạo gọi là đạo nhân. Các người khác xuất gia chưa
đắc đạo, song nhân đây mà đắc đạo, nên cũng gọi là đạo nhân.
Những sắc gì là có thể thấy? Một sắc xứ là phần ít sắc có thể thấy
có đối ngại, nhiếp vào một sắc nhập. Chín xứ kia (thanh, hương, vị,
xúc, nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân xứ) và nghiệp vô tác, gọi là sắc không thể
thấy.
Có đối ngại là mười xứ. Không có đối ngại chỉ là sắc vô tác. Phân
biệt về sắc hữu lậu, vô lậu cũng như vậy.
Như Kinh nói: sắc có ba thứ là thứ sắc có thể thấy có đối ngại, thứ
sắc không thể thấy có đối ngại, thứ sắc không thể thấy không đối ngại.
Thế nên biết chẳng phải chỉ vì mắt thấy gọi là sắc, mà mười xứ (mười
nhập) trong ngoài có thể làm phát khởi năm thức đều gọi là sắc, nhân từ
sắc phần ấy, sanh ra sắc vô tác.
Sắc lại có bốn thứ: sắc bên trong có giác thọ, không giác thọ; sắc
bên ngoài có giác thọ, không giác thọ.
Lại có năm thứ sắc: đó là năm trần.
Lại có một thứ sắc, đó là tướng não hoại, sắc thân chúng sanh gọi
là tướng não hoại, sắc phi chúng sanh cũng gọi là sắc não hoại. Nhân
duyên tướng não hoại nên cũng gọi là não; ví như có thân thì có khổ đói
khát, lạnh, nóng, già bệnh, đao gậy...
Lại có hai thứ sắc: đó là bốn đại và sắc do bốn đại tạo ra: sắc trong,
sắc ngoài; sắc có giác thọ, sắc không giác thọ; sắc hệ phược, sắc không
hệ phược; có sắc làm sanh tội, có sắc làm sanh phước; nghiệp sắc, phi
nghiệp sắc; sắc nghiệp, sắc quả, sắc nghiệp, sắc báo, sắc quả, sắc báo;
sắc hữu phú vô ký, sắc vô phú vô ký; sắc có thể thấy, sắc không thể thấy,
sắc có đối ngại, sắc không đối ngại; sắc hữu lậu, sắc vô lậu. Như vậy
phân biệt hai thứ sắc.
Lại có ba thứ sắc; như trên đã nói, sắc có thể thấy, có đối ngại.
Lại có ba thứ sắc là sắc lành, sắc chẳng lành, sắc vô ký; sắc học, vô
học, phi học phi vô học; sắc sanh ra, do thấy lý Tứ đế được đoạn hoặc;
sắc sanh ra, do tư duy Tứ đế được đoạn hoặc; sắc sanh ra từ công đoạn
hoặc.
Lại có ba thứ sắc: sắc hệ thuộc cõi Dục, sắc hệ thuộc cõi sắc, sắc
không hệ thuộc; có sắc hay sanh tham dục, có sắc hay sanh sân nhuế,
có sắc hay sanh ngu si. sắc sanh ba kiết, ba lậu... cũng như vậy, có sắc
sanh thiện căn không tham, thiện căn không sân, thiện căn không si. Ba
thiện pháp như vậy nên nói rộng. Có sắc hay sanh pháp hữu phú vô ký,
hay sanh pháp vô phú vô ký. Vô phú vô ký lại có hai là có thứ quả báo
sanh, có thứ chẳng phải quả báo sanh.
Lại có bốn thứ sắc, như đã nói trong mục thọ và chẳng thọ trên kia.
Bốn đại và tạo sắc ba thứ thiện, bất thiện vô ký. Tác sắc và vô tác sắc
của thân nghiệp, tác sắc và vô tác sắc của khẩu nghiệp. Thọ sắc (khi thọ
giới được sắc luật nghi); chỉ sắc (ngưng các pháp bất thiện); dụng sắc
(như chẳng Tăng thọ dụng vật bố thí), bất dụng sắc (vật không thọ dụng),
như vậy là bôn thứ sắc.
Lại có năm thứ sắc là tác vô tác sắc của thân, tác vô tác sắc của
miệng và phi nghiệp sắc; năm căn, năm trần, thô sắc, động sắc, ảnh sắc,
tượng sắc, cuống sắc.
Thô sắc là sắc có thể thấy có thể nghe, có thể ngửi, có thể nếm, có
thể chạm, như đất đá...
Động sắc có hai thứ là chúng sanh động tác và phi chúng sanh động
tác; như nước lửa, gió động tác. Đất nương nơi vật khác nên động, dưới
có gió lớn động nước, nước động đất, gió động cây, có thứ tự rung động
như đá nam châm hút sắt, như chân châu, ngọc, xa cừ, mã não, ban đêm
có thể tự đi. Đều do chúng sanh phước đức đời trước, nhân duyên của
nghiệp không thể nghĩ bàn.
Hỏi: Ánh sắc, tượng sắc, không nên nói riêng. Vì sao? Vì tượng do
mắt, ánh sáng, soi gương sạch nên phản ảnh tự soi thấy. Ánh cũng như
vậy, ngăn ánh sáng nên ảnh hiện ra, không có pháp riêng khác?
Đáp: Việc ấy không đúng, như trong dầu thấy tượng đen, thì chẳng
phải là bổn sắc; như nơi lưỡi dao năm thước, soi ngang thì thấy tượng
mặt mình rộng, soi dọc thời thấy tượng mặt mình dài, thì chẳng phải là
cái mặt vốn có, như những vết trong thủy tinh đại tần, trong mỗi vết đều
có tượng mặt mình, thì chẳng phải là một tượng mặt, vì nhân duyên ấy,
chẳng trở lại thấy được bổn tượng.
THÍCH KINH LUẬN 2
Lại nữa, có gương, có người soi, có người cầm, có ánh sáng, đủ các
nhân duyên như vậy hòa hợp nên có tượng hiện ra, nếu các duyên không
đủ thì tượng không hiện. Tướng ấy cũng chẳng phải không nhân duyên,
cũng chẳng ở trong nhân duên. Như vậy tự riêng có pháp chẳng phải là
mặt. Sắc vi tế ấy, cách sanh ra như vậy, chẳng đồng với thô sắc, như
nhân lửa có khói, lửa tắt khói còn.
Hỏi: Nếu như vậy, không nên nói riêng ảnh, vì đồng là sắc vi tế?
Đáp: Tượng trong gương có các sắc, còn ảnh thì chỉ một sắc (sắc
tối) cho nên không đồng. Hai thứ ấy tuy đều động theo hình, hình và chất
mỗi bên khác nhau. Ánh từ ngăn ánh sáng mà hiện, tượng thì từ các nhân
duyên sanh, tuy đồng là sắc vi tế, song mỗi mỗi khác nhau.
Cuống sắc là như ráng nắng, như huyễn như hóa, như thành Càn-
thát-bà... ở xa dối gạt mắt người thấy có, đến gần thì không có.
Như vậy vô lượng các thứ sắc, gọi chung là sắc uẩn.
Thọ uẩn: Nhân bên trong có mắt, bên ngoài duyên sắc, nghĩ muốn
thấy, có ánh sáng, có khoảng trống, sắc ở chỗ có thể thấy, do các nhân
duyên như vậy phát sanh nhãn thức. Do nhân duyên trên hòa hợp với
thức nên từ trong thức sanh ra tâm số pháp, gọi là xúc. Xúc này là căn
bển của hết thảy tâm số pháp, có ba uẩn cùng sanh, đó là thọ, tưởng,
hành.
Hỏi: Trong nhãn thức cũng có xúc và ba uẩn, cớ sao nói xúc làm
nhân duyên sanh ba uẩn?
Đáp: Đây luận về hiện tại xúc làm nhân duyên sanh ba uẩn, chứ
không phải nhân duyên cho mắt thấy.
Hỏi: Nhân tâm tâm sô" pháp sanh ra ba uẩn, cớ sao chỉ nói xúc?
Đáp: Nhãn thức trụ trong giây lát liền diệt, sanh ý thức vi tế không
rõ ràng, cho nên không nói sanh ba uẩn, chỉ nói từ xúc sanh: như sắc
pháp từ nhân duyên hòa hợp sanh, tâm số pháp cũng như vậy, từ xúc
pháp hòa hợp sanh. Như sắc pháp từ hòa hợp sanh, không hòa hợp thì
không sanh, tâm số pháp cũng như vậy, có xúc thì sanh, không xúc thì
không sanh.
Thọ uẩn này một thứ, đó là tướng thọ.
Lại có hai thọ là thân thọ, tâm thọ; nội thọ, ngoại thọ; thô tế; xa gần;
tịnh, bất tịnh...
Lại nữa, có ba thứ thọ là khổ, vui, không khổ không vui; thiện, bất
thiện, vô ký; học, vô học, phi học phi vô học; lậu hoặc được đoạn do
thây Tứ đế, lậu hoặc được đoạn do tư duy Tứ đế, chẳng đoạn; nhân thấy
đế đoạn lậu hoặc sanh thọ, nhân tư duy đoạn lậu hoặc sanh thọ, nhân
chẳng đoạn lậu hoặc sanh thọ; hoặc nhân thân kiến sanh, không trở lại
làm nhân cho thân kiến; hoặc nhân thân kiến sanh, trở lại làm nhân cho
thân kiến; hoặc không nhân thân kiến sanh không trở lại làm nhân cho
thân kiến.
Lại có ba thọ là thọ hệ thuộc cõi Dục; hệ thuộc cõi sắc, hệ thuộc
cõi vô sắc.
Lại có bốn thọ là thọ trong thân, thọ ngoài thân, thọ trong tâm, thọ
ngoài tâm.
Thọ tương ưng với bốn chánh cần, bốn như ý túc... và thọ tương ưng
với bốn lưu, bốn phược... ấy gọi là bốn thứ thọ.
Lại có năm thọ là lạc căn, khổ căn, ưu căn, hỷ căn, xả căn, thọ
tương ưng với thấy khổ dứt lậu hoặc, cho đến thọ tương ưng với tư duy
dứt lậu hoặc. Thọ tương ưng với năm triền cái, năm kiết các phiền não...
cũng như vậy.
Lại có sáu thọ là thọ tương ưng với sáu thức. Thọ tương ưng với ý
thức phân biệt có mười tám là mắt thấy sắc tâm tư duy phân biệt sanh
hỷ, mắt thấy sắc tâm tư duy phân biệt sanh ưu, mắt thấy sắc tâm tư duy
phân biệt sanh xả, cho đến ý thức cũng như vậy. Trong mười tám thọ đó,
có sạch có nhơ, thành ba mươi sáu. Ba đời đều có ba mươi sáu thành một
trăm lẻ tám.
Các nhân duyên như vậy phân biệt nghĩa của thọ có vô lượng, gọi
là thọ tuẩn.
Tưởng uẩn: Tương ưng hành uẩn, thức uẩn cũng phân biệt như vậy.
Vì cớ sao? Vì cùng với thọ tương ưng.
Lại nữa, Phật dạy có bốn tưởng là tiểu tưởng, đại tưởng, vô lượng
tưởng, vô sở hữu tưởng.
Tiểu tưởng là giác tri tiểu pháp, như nói tiểu pháp là tiểu dục, tiểu
tín, tiểu sắc, tiểu duyên tưởng, gọi là tiểu tưởng.
Lại nữa, tưởng hệ thuộc cõi Dục là tiểu, hệ thuộc cõi sắc là đại, hệ
thuộc ba cõi Vô sắc là vô lượng tưởng, hệ thuộc Vô sở hữu xứ, gọi là Vô
sở hữu tưởng.
Lại nữa, tưởng tương ưng phiền não gọi là tiểu tưởng, vì bị phiền
não ngăn che, tưởng hữu lậu vô cấu gọi là đại tưởng, tưởng thật tướng
các pháp, gọi là vô sở hữu tưởng. Tưởng vô lậu gọi là vô lượng tưởng, vì
pháp Niết-bàn là vô lượng vậv.
Lại nữa, Phật dạy có sáu tướng là nhãn xúc tương ưng sanh tưởng,
THÍCH KINH LUẬN 2
cho đến ý xúc tương ưng sanh tưởng.
Hành uẩn: Phật có khi nói hết thảy pháp hữu vi là hành, hoặc nói
ba hành là thân hành, khẩu hành, ý hành. Thân hành là hơi thở ra vào, vì
hơi thở thuộc thân. Khẩu hành là giác quan, vì trước giác quan vậy sau
mới nói năng. Ý hành là thọ, tưởng; vì tâm thủ tưởng thọ khổ vui phát
khởi, ấy gọi là ý hành.
Tâm số pháp có hai thứ: 1. Thuộc kiến 2. Thuộc ái. Thuộc ái làm
chủ gọi là thọ, thuộc kiến làm chủ gọi là tưởng. Vì vậy nên nói hai pháp
ấy là ý hành.
Phật có khi nói ba hành là phước hành, tội hành, bất động hành,
trong mười hai nhân duyên gọi là hành uẩn. Phước hành là nghiệp thiện
hệ thuộc cõi Dục, tội hành là nghiệp bất thiện; bất động hành, nghiệp hệ
thuộc cõi Sắc cõi Vô sắc.
Theo A-tỳ-đàm thì trừ thọ và tưởng, các tâm số pháp khác, và vô
tưởng định, diệt tận định, tâm bất tương ưng hành pháp, ấy gọi là hành
uẩn.
Thức uẩn: Sáu nhập trong ngoài hòa hợp sanh sáu giác tri, gọi là
thức. Vì sức nội duyên lớn, nên gọi là nhãn thức, cho đến gọi là ý thức.
Hỏi: Ý tức là thức, cớ sao vì sức của ý duyên nên sanh ý thức?
Đáp: Ý, vì là tướng sanh diệt, vì phần nhiều nhân nơi ý đã sanh
trước, nên duyên pháp phát sanh ý thức.
Hỏi: Ý trước đã diệt, làm sao có thể sanh thức sau?
Đáp: Ý có hai thứ: 1. Niệm niệm diệt. 2. Tâm tương tục gọi là một.
Vì tâm tương tục ấy nên các tâm gọi là một ý. Thế nên nương ý mà sanh
thức, không lỗi.
Ý thức khó hiểu, cho nên chín mươi thứ ngoại đạo, không nói nương
ý sanh thức, chỉ nói nương ngã sanh thức.
Năm uẩn này đã nói rộng trong chương Bốn chỗ niệm tưởng. Chỗ
thân niệm tưởng nói sắc uẩn, chỗ thọ niệm tưởng nói thọ uẩn, chỗ tâm
niệm tưởng nói thức uẩn, chỗ pháp niệm tưởng nói tưởng uẩn, hành
uẩn.
Hỏi: Không nên có năm uẩn, chỉ nên có sắc uẩn, thức uẩn. Thức
uẩn theo lúc phân biệt nên có tên khác gọi là thọ, tưởng, hành; như thức
bất tịnh gọi là phiền não, thức thanh tịnh gọi là pháp lành?
Đáp: Không đúng! Vì cớ sao? Vì nếu tên khác thì thật cũng khác,
nếu thật pháp không khác thì tên chẳng nên khác. Nếu chỉ có tâm mà
không có tâm số pháp thì không nên có nhơ có sạch; ví như nước ao trong
sạch, voi điên vào làm cho vẩn đục, nếu bỏ ngọc thanh thủy vào, nước
liền trong sạch. Không được nói ngoài nước không voi không ngọc. Tâm
cũng như vậy. Phiền não vào làm cho tâm đục, thiện pháp từ bi vào làm
cho tâm trong. Vì vậy không được nói phiền não, từ bi chính là tâm.
Hỏi: Ông không nghe trước tôi nói, tâm nhơ là phiền não, tâm sạch
là pháp lành?
Đáp: Nếu tâm nhơ làm sao thú lớp sanh ra tâm sạch? Tâm sạch làm
sao thứ lớp sanh ra tâm nhơ? Vì vậy nên việc ấy không đúng. Ông chỉ
biết việc thô hiện mà không biết tâm số pháp. Không thể vì không biết
bèn cho là không. Thế nên biết chắc chắn có năm uẩn.
Hỏi: Nếu có, cớ sao không nhiều hơn hoặc không ít hơn, chỉ nói có
năm?
Đáp: Các pháp đều có giới hạn nhất định, như bàn tay có năm ngón,
không được đòi nó nhiều hơn hoặc ít hơn.
Lại nữa, pháp hữu vi tuy có vô lượng, Phật phân phán làm năm
phần là gom hết.
Hỏi: Nếu như vậy, cớ sao còn nói mười hai nhập, mười tám giới?
Đáp: Các nghĩa phải như vậy, nhập và giới nghĩa khác nhau, Phật là
vua pháp, vì chúng sanh nên có khi nói lược, có khi nói rộng. Có chúng
sanh đối với sắc và thức không mê lầm nhiều mà đối với tâm số pháp thì
mê lầm nhiều, nên Phật dạy năm uẩn; có chúng sanh đối với tâm tâm số
pháp không sanh mê lầm; chỉ mê lầm sắc; vì chúng sanh ấy Phật dạy sắc
làm mười xứ, tâm tâm sô" pháp nói chung làm hai xứ (thập nhị xứ). Có
chúng sanh đối với tâm số pháp mê lầm ít mà lại không hiểu sắc tâm;
vì chúng sanh này Phật dạy tâm số pháp làm một giới, sắc và tâm làm
mười bảy giới. Hoặc có chúng sanh không biết thế gian đau khổ sanh
diệt, không biết con đường lìa khổ, vì chúng sanh này, Phật dạy Bốn đế
là: thế gian và thân đều là khổ, phiền não ái... là khổ nhân, phiền não
diệt là khổ diệt, phương tiện diệt phiền não ấy là đạo. Hoặc có chúng
sanh đắm trước tôi, ta, đối với các pháp sanh tà kiến chấp tướng một,
khác, hoặc nói thế gian không nhân không duyên, hoặc đọa vào tà nhân
duyên; vì chúng sanh này Phật dạy mười hai nhân duyên.
Có người nói: Pháp thường hoặc nói thần ngã thường, hoặc nói hết
thảy pháp thường, chỉ khi diệt thì nó ẩn tàng vi tế, chứ không mất. Nếu
gặp nhân duyên hội họp liền xuất hiện trở lại, chứ không phải pháp
khác, vì hạng người ấy, Phật dạy hết thảy pháp hữu vi đều là pháp tạo
tác, không có thường hằng nhất định, ví như người gỗ, do các máy móc,
THÍCH KINH LUẬN 2
thanh gỗ hòa hợp nên có thể động tác, chứ không có sự thật; ấy gọi là
pháp hữu vi.
Hỏi: Trong đây nói năm uẩn, có thứ lớp gì?
Đáp: Hành giả mới đầu tập quán pháp, trước hết quán pháp thô,
biết thân có các hoạn nạn như bất tịnh, vô thường, khổ, không, vô ngã.
Chúng sanh sở dĩ mê đắm thân này vì nó sanh vui. Quán kỹ cái vui ấy
thấy có vô lượng khổ thường theo dõi. Cái vui ấy cũng vô thường, khổ,
vô ngã.
Trong sáu trần có vô lượng khổ, tại sao chúng sanh mê đắm? Vì
chúng sanh chấp thủ tướng nên mê đắm. Như thân người, có hạng người
thiên về chấp có có thể khi mạng chung, chấp thủ theo tướng chết thọ
khổ vui, phát động sanh ra các ý hành... khi tâm hành phát động, thức
biết phương tiện lìa khổ được vui, ấy là thức (tâm).
Lại nữa, chúng sanh do năm dục nên thọ khổ vui. Do chấp thủ tướng
nên nhiễm đắm cái vui ấy, vì nhiễm đắm cái vui ấy, nên hoặc khởi lên
ba độc, hoặc ba thiện căn, ấy gọi là hành. Thức là chủ, thọ dụng việc
trên ấy.
Năm dục tức là sắc, sắc là căn bản; nên đầu hết nói sắc uẩn. Các
uẩn khác thứ lớp có tên riêng. Các pháp mười hai nhập, mười tám giới
đều do năm uẩn thứ lớp có. Chỉ riêng trong pháp nhập, pháp giới tăng
thêm pháp vô vi. Trong Tứ đế tăng thêm trí duyên diệt (trạch diệt vô vi).
Mười hai nhập, mười tám giới, cho đến pháp hữu vi, vô vi, như trên nói.
Các pháp năm uẩn... đều là không, vì thánh chủ nói vậy. Thánh có
ba bậc hạ, trung, thượng. Phật là chủ; như mặt trời là nhất giữa trăng sao,
vì ánh sáng lớn. Phật được trí tuệ nhất thiết, cho nên gọi là thánh chủ.
Điều thánh chủ nói nên phải là thật.
Lại nữa, vì mười tám không, nên hết thảy pháp không, hoặc dùng
tánh không là có thể không hết thảy pháp, huống gì mười tám? Hoặc
dùng nội không, ngoại không là có thể không hết thảy pháp, huống gì
mười tám.
Lại nữa, hoặc có pháp chẳng không, nên phải có hai thứ là sắc
pháp, phi sắc pháp, sắc pháp thì phân biệt phá hoại cho đến vi trần, phân
biệt vi trần cũng không thể có được, cuối cùng đều không. Phi sắc pháp
thì niệm niệm sanh diệt cho nên không, như đã nói trong chương Bôn
chỗ niệm tưởng (Tứ niệm xứ).
Lại nữa, các pháp tánh không, chỉ có danh tự; nhân duyên hòa hợp
cho nên có danh tự. Như núi sông, cây cỏ, đất đai, nhân dân, châu quận,
thành ấp hợp lại gọi là nước; làng xóm, chợ búa, nhà quán, cung điện
hợp lại gọi là đô; kèo cột, rui mè, ngói tre, vách đá, hợp là gọi là điện;
phần trên giữa dưới hợp lại gọi là trụ; từng tấm hợp lại nên có tên phần,
các thẻ hợp lại nên gọi là tấm; các mảnh nhỏ hợp lại nên gọi là thẻ. Các
vi trần ấy có lớn, có vừa, có nhỏ. Lớn là bụi bay có thể thấy; vừa thời
Chư thiên thấy; nhỏ thì Thiên nhãn bậc thượng thánh thấy được, Tuệ
nhãn trông vào thì không thấy gì. Vì cớ sao? Vì tánh nó thật không. Nếu
vi trần thật có tức là thường, không thể phân rã, không thể hủy hoại, lửa
không đốt được, nước không chìm được.
Lại nữa, nếu vi trần có hình, không hình, cả hai đều có lỗi. Nếu vô
hình thì làm sao gọi là sắc; nếu có hình thì có phần vị giữa hư không,
cũng có đủ mười phần theo mười phương; nếu có đủ mười phần theo
mười phương thì không gọi là vi trần. Trong Phật pháp, sắc thường là
không có xa, gần, thô, tế.
Lại nữa, lìa các nhân duyên danh tự thì không có pháp. Trừ các
nhân duyên danh tự núi sông, đất đai thì không có tên nước; trừ nhân
duyên danh tự làng xóm, đường ngõ, thì không có tên đô, trừ nhân duyên
danh tự kèo cột, tre ngói, thì không có tên điện; trừ nhân duyên danh tự
ba phần trên giữa dưới của trụ thì không có tên trụ; trừ nhân duyên danh
tự tấm mảnh thì không có phần; trừ nhân duyên danh tự thẻ, thì không có
tên tấm, mảnh; trừ nhân duyên danh tự các vi trần nhỏ, thì không có tên
thẻ; trừ danh tự các vi trần vừa, thì không có vi trần lớn; trừ danh tự vi
trần nhỏ, thì không có vi trần vừa, trừ Thiên nhãn vọng thấy thì không có
tên vi trần nhỏ. Do các nghĩa như vậy biết các pháp chắc chắn không.
Hỏi: Nếu pháp rốt ráo không thì cớ sao có tên gọi?
Đáp: Tên gọi nếu là có, thì bị phá cùng với pháp, nếu là không thì
không nên nạn hỏi. Tên gọi cùng với pháp không khác nhau, vì vậy nên
biết hết thảy pháp không.
Lại nữa, hết thảy pháp thật không. Vì cớ sao? Vì nhất định không có
một pháp, nên đều từ nhiều pháp hòa hợp sanh. Nếu không một pháp thì
cũng không có nhiều. Ví như cây rễ, cành, nhánh, lá hòa hợp nên có giả
danh cây. Nếu không có pháp cây, thì rễ cành nhánh lá hòa hợp cho cái
gì. Nếu không hòa hợp thì không có một pháp, nếu không có một pháp
thì cũng không có nhiều, vì đầu một sau mới nhiều.
Lại nữa, hết thảy sự quán sát, ngữ ngôn hý luận, đều không thật, thì
hoặc thế gian thường cũng không đúng, thế gian vô thường cũng không
đúng. Có chúng sanh, không chúng sanh, có biên không biên, có ngã,
THÍCH KINH LUẬN 2
không ngã, các pháp thật, các pháp không, đều không đúng. Như trước
đã nói ở trong các môn hý luận. Nếu các sự quán sát, hý luận đều không,
cớ sao các pháp chẳng không?
Hỏi: Ông vừa nói các pháp thật, các pháp không, đều không đúng,
nay cớ sao lại nói các pháp không?
Đáp: Có hai thứ không: 1. Nói danh tự không, thì chỉ phá chấp trước
có, mà không phá không. 2. Lấy không phá có, cũng không có không.
Như lúc tiểu kiếp diệt tận, thì có đao binh, tật dịch, cơ cẩn, nhưng vẫn có
người, vật, cầm thú, núi sông. Lúc đại kiếp đốt cháy, thì núi sông, cây
cỏ, cho đến dưới Kim cương, đại thủy dưới đất cũng tiêu tận; lửa kiếp đã
dứt, thì luồng gió giữ gìn nước cũng dứt, tất cả trống không: không còn
sót gì. Không cũng như vậy, phá các pháp đều không, chỉ còn có Không
tồn tại, mà chấp thủ nhiễm trước tướng không ấy.
Đại không là phá hết thảy pháp, Không lại cũng không. Vì vậy nên
ông không nên nạn hỏi. Nếu dẹp bỏ các hý luận, lám sao chẳng không?
Các nhân duyên như vậy, nơi nơi nói không, nên biết hết thảy pháp
không.
Tập tương ưng là tùy thuận Bát-nhã Ba-la-mật tu tập hành quán,
không ngừng không nghỉ, ấy gọi là tập. Ví như đệ tử tùy thuận lời dạy
của thầy, không trái ý thầy, ấy gọi là tương ưng. Như tướng Bát-nhã
Ba-la-mật, Bồ-tát cũng tùy thuận tướng ấy dùng trí tuệ quán sát, có thể
được, có thể thành tựu, không tăng không giảm, ấy gọi là tương ưng. Ví
như hộp và nắp lớn nhỏ xứng hợp nhau. Tuy Bát-nhã Ba-la-mật diệt các
quán pháp, nhưng vì lực trí tuệ, nên gọi là không gì không được, không
gì không quán. Biết được như vậy, không đọa hai bên, ấy là cùng Bát-
nhã tương ưng.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát tu tập tương ưng
tánh không, ấy gọi là cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng. Như vậy, Xá-
lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát hành Bát-nhã Ba-la-mật tu tập tương ưng bảy
không, đó là tánh không, tự tướng không, các pháp không, bất khả đắc
không, vô pháp không, hữu pháp không, vô pháp hữu pháp không, ấy gọi
là cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng.
LUẬN: Hỏi: Sao không nói trú mười tám không, chỉ nói trú bảy
không, gọi là cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng?
Đáp: Trong Phật pháp, nói rộng là mười tám không, nói lược là bảy
không, như nói pháp trợ đạo có ba mươi bảy phẩm, nói lược thời bảy
giác phần.
Lại nữa, bảy không này phần nhiều dùng làm lợi ích chúng sanh,
như đại không, vô thỉ không; hoặc có khi chúng sanh khởi tà kiến ấy,
nên vì họ nói.
Tánh không là hết thảy pháp tánh trước sau thường tự không, huống
gì hiện tại? Nhân duyên thường không, huống gì quả báo?
Tự tướng không là các pháp tướng chung, tướng riêng, đều quán nó
không, thì tâm xa lìa. Dùng hai không ấy, các pháp đều không, ấy gọi là
“các pháp không”.
Tự tánh không nên có tướng, tướng không nên các pháp không, các
pháp không nên lại không có gì được, ấy gọi là Bất khả đắc không.
Dùng bốn thứ không ấy phá hết thảy hữu pháp. Nếu cho hữu pháp
là có lỗi vì có tướng, mà chấp thủ vô pháp, thế nên nói vô pháp không.
Nếu cho vô pháp là sai quấy, trở lại muốn chấp thủ hữu pháp, thế nên
nói hữu pháp không.
Trước nói bốn không, tuy phá hữu pháp, thì hành giả tâm lìa hữu
pháp mà tồn tại nơi vô, thế nên nói vô pháp không. Nếu nói vô pháp là
quấy vì tâm không dựa vào đâu được, muốn trở lại tồn hữu, thế nên lược
nói hữu pháp không, vì tâm tồn hữu mỏng vậy.
Vô pháp hữu pháp không là hành giả cho vô pháp không là quấy,
tâm trở lại nghi hữu pháp, nếu tâm quán hữu, trở lại nghi vô pháp; thế
nên quán hữu vô đều không, như quán nội ngoại không, vì vậy nên chỉ
nói bảy không.
Hỏi: Ông nói biết hết thảy pháp không, diệt hết các quán, ấy gọi
là cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng. Quán như vậy gọi là tương ưng,
không quán như vậy thời không tương ưng. Phân biệt thị phi tức cũng là
quán, cớ sao nói diệt?
Đáp: Vì vậy nên Kinh nói:
KINH: Phật bảo Xá-lợi-phất: Bồ-tát ma-ha-tát khi tu tập tương ưng
bảy không, không thấy sắc hoặc tương ưng hoặc không tương ưng, không
thấy thọ, tưởng, hành, thức hoặc tương ưng hoặc không tương ưng; không
thấy tướng sắc hoặc sanh hoặc diệt, không thấy tưởng thọ, tưởng, hành,
thức hoặc sanh hoặc diệt; không thấy tướng sắc hoặc sạch hoặc nhơ,
không thấy tướng thọ, tưởng, hành, thức hoặc sạch hoặc nhơ.
LUẬN: Không thấy tướng sắc hoặc sanh hoặc diệt là, không thấy
năm uẩn có sanh có diệt, nếu thấy có tướng sanh diệt tức là đọa vào đoạn
diệt kiến; đọa vào đoạn diệt kiến thì không tội không phước; không tội
không phước thì không khác gì cầm thú.
THÍCH KINH LUẬN 2
Không thấy sắc hoặc nhơ hoặc sạch là không thấy năm uẩn có trói
có mở; nếu năm uẩn có tánh trói thì không có ai được giải thoát; nếu năm
uẩn có tánh sạch, thì không có việc học đạo.
KINH: Không thấy sắc cùng thọ hợp, không thấy thọ cùng tưởng
hợp, không thấy tưởng cùng hành hợp, không thấy hành cùng thức hợp,
vì vậy không có pháp cùng pháp hợp, vì tánh nó không.
LUẬN: Tâm tâm sô" pháp vô hình, vô hình thì không có chỗ ở, vì
vậy sắc không cùng thọ hợp, như bốn đại và sắc do bốn đại tạo, hai xúc
(hữu hình) hòa hợp, còn trong tâm tâm số pháp không có xúc (hữu hình)
nên không được hòa hợp.
Hỏi: Nếu như vậy sao nói thọ, tưởng, hành, thức không cùng hòa
hợp?
Đáp: Trong đây Phật tự nói không có pháp cùng pháp hợp, vì hết
thảy pháp tánh thường không. Nếu không có pháp cùng pháp hợp, thì
cũng không có lìa.
Lại nữa, Phật tự nói nhân duyên:
KINH: Này Xá-lợi-phất! Trong sắc không, không có sắc; trong thọ
tưởng, hành, thức không, không có thức.
LUẬN: Nì cớ sao? Vì sắc với không trái nhau, nếu không đến thì
diệt sắc, làm sao trong sắc không lại có sắc? Ví như trong nước không
lửa, trong lửa không nước, vì tánh trái nhau.
Lại nữa, có người nói, sắc chẳng phải thật không, hành giả vào
Không tam-muội thấy sắc là không, vì thế nên nói trong sắc không, hoàn
toàn không có sắc. Trong thọ, tưởng, hành thức, không, cũng như vậy.
KINH: Này Xá-lợi-phất! sắc không nên không có tướng não hoại,
thọ không nên không có tướng lãnh thọ, tưởng không nên không có tướng
biết, hành không nên không có tướng tạo tác, thức không nên không có
tướng giác tri.
LUẬN: Hỏi: Nghĩa ấy có thứ lớp gì?
Đáp: Trước nói trong năm uẩn không, không có năm uẩn, trong đây
nay nói về nhân duyên của nó. Năm uẩn, mỗi mỗi tự tướng không thể có
được, nên nói trong năm uẩn không, không có năm uẩn.
KINH: Nì cớ sao? Xá-lợi-phất! Chẳng phải sắc khác không, chẳng
phải không khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, tưởng,
hành, thức cũng như vậy.
LUẬN: Phật lại nói nhân duyên, nếu năm uẩn khác với không, thì
trong không nên có năm uẩn, nay năm uẩn không khác không, không
không khác năm uẩn, năm uẩn tức là không, không tức là năm uẩn, vì
vậy nên không chẳng phá năm uẩn. Vì cớ sao? Phật tự nói nhân duyên
rằng:
KINH: Này Xá-lợi-phất! Tướng không ấy của cảc pháp, chẳng sanh
chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng tăng chẳng giảm, pháp không
ấy chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại. Thế nào
trong không không sắc, không thọ, tưởng, hành, thức; không mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, ý; không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không nhãn
giới cho đến không ý thức giới; không vô minh, cũng không vô minh
hết; cho đến không già chết, cũng không già chết hết; không khổ, tập,
diệt, đạo, cũng không trí cũng không đắc. Không Tu-đà-hoàn, không
Tu-đà-hoàn quả; không Tư-đà-hàm, không Tư-đà-hàm quả; không A-
na-hàm, không A-na-hàm quả; không A-la-hán, không A-la-hán quả;
không Bích-chi Phật, không Bích-chi Phật đạo, không Phật, cũng không
Phật đạo.
Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát tu tập tương ưng như vậy, ấy gọi là
cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng.
LUẬN: Hỏi: Người đều biết trong không không có gì, chẳng sanh
chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng tăng chẳng giảm, không hết
thảy pháp. Cớ sao Phật còn phân biệt nói năm uẩn mỗi mỗi đều không?
Đáp: Có người tuy tu tập không, mà tưởng trong không còn có các
pháp, như người hành từ tâm, tuy không chúng sanh mà tưởng chúng
sanh được vui, tự được vô lượng phước. Vì vậy nên Phật dạy các pháp
tánh thường tự không, chứ chẳng phải do Không tam-muội nên làm cho
các pháp không. Như nước tướng lạnh, lửa làm nó nóng, nếu nói do
Không tam-muội nên làm cho pháp không, việc ấy không đúng.
Trí là tám trí vô lậu (khổ pháp trí, tập pháp trí, diệt pháp trí, đạo
pháp trí, khổ loại trí, tập loại trí, diệt loại trí, đạo loại trí - ND).
Đắc là được thánh đạo từ sơ quả Tu-đà-hoàn, cho đến Phật đạo,
trước đã nói rộng.
KINH:N&y Xá-lợi-phất! Bồ-tátma-ha-táthànhBát-nhã Ba-la-mật,
không thấy Bát-nhã Ba-la-mật hoặc tương ưng hoặc không tương ưng,
không thấy Đàn Ba-la-mật, Thi-la Ba-la-mật, sằn-đề Ba-la-mật, Tỳ-lê-
gia Ba-la-mật, Thiền Ba-la-mật, hoặc tương ưng hoặc không tương ưng;
cũng không thấy sắc hoặc tương ưng hoặc không tương ưng; không thấy
thọ, tưởng, hành, thức hoặc tương ưng hoặc không tương ưng; không thấy
nhãn cho đến ý, sắc cho đến pháp, nhãn sắc thức giới cho đến ý pháp
THÍCH KINH LUẬN 2
thức giới hoặc tương ưng hoặc không tương ưng; không thấy bốn chỗ
niệm tưởng cho đến tám thánh đạo phần, Phật mười lực cho đến Nhất
thiết chủng trí hoặc tương ưng hoặc không tương ưng.
Như vậy, Xá-lợi-phất! Nên biết Bồ-tát ma-ha-tát cùng Bát-nhã Ba-
la-mật tương ưng.
LUẬN: Bồ-tát ma-ha-tát được thật tướng các pháp, vào Bát-nhã
Ba-la-mật, ngay nơi Bát-nhã Ba-la-mật không thấy tướng nhất định hoặc
tương ưng hoặc không tương ưng, huống gì thấy các pháp khác.
Vì sao không thấy Bát-nhã tương ưng, không tương ưng? Không
thấy hành như vậy là tương ưng Bát-nhã Ba-la-mật, không thấy không
hành như vậy là không tương ưng Bát-nhã Ba-la-mật. Như hành thường,
lạc, ngã là không tương ưng Bát-nhã Ba-la-mật, hành vô thường, khổ,
vô ngã là tương ưng Bát-nhã Ba-la-mật. Hoặc hành thật, là không tương
ưng Bát-nhã Ba-la-mật: hoặc hành không là tương ưng Bát-nhã ba-la-
mật. Như hành hữu, vô là không tương ưng Bát-nhã ba -la-mật, hành phi
hữu phi vô là tương ưng Bát-nhã Ba-la-mật. Trong Bát-nhã Ba-la-mật,
đều không việc ấy, vì tướng Bát-nhã Ba-la-mật rốt ráo thanh tịnh.
Năm Ba-la-mật năm uẩn cho đến trí nhất thiết chủng cũng như
vậy.
Hỏi: Bát-nhã Ba-la-mật rốt ráo thanh tịnh thời có thể như vậy, còn
năm Ba-la-mật kia và các pháp khác, làm sao thanh tịnh?
Đáp: Trước nói năm việc lìa Bát-nhã ba-la mật, thì không gọi là
Ba-la-mật, cùng Bát-nhã Ba-la-mật hòa hợp nên mới gọi là Ba-la-mật.
Như trong phẩm tựa đầu kinh Bát-nhã Ba-la-mật nói: Sao gọi là Đàn
Ba-la-mật? Là không thấy người cho, không thấy người nhận, không
thấy tài vật.
Năm uẩn là chỗ Bồ-tát quán, vì cùng Bát-nhã Ba-la-mật hòa hợp,
rốt ráo thanh tịnh, nên không thấy tương ưng không tương ưng.
Mười hai xứ, mười tám giới, mười hai nhân duyên cũng như vậy.
Các pháp ấy không có định tánh, không có định pháp, vì vậy nên không
thấy hoặc tương ưng hoặc không tương ưng.
Mười tám không, bốn chỗ niệm tưởng cho đến đại từ đại bi, trí nhất
thiết chủng, không thấy hoặc tương ưng hoặc không tương ưng.
Hỏi: Bồ tát ấy chẳng phải Thanh văn, Bích-chi Phật, tại sao có ba
mươi bảy đạo phẩm? Chưa được Phật đạo, tại sao có Mười lực, Bốn việc
không sợ?
Đáp: Bồ-tát ấy chẳng phải Thanh văn, Bích-chi Phật song cũng
quán pháp của Thanh văn. Bích-chi Phật, vì muốn dùng đạo Thanh văn,
Bích-chi Phật độ chúng sanh.
Lại có người nói: Hành đạo Thanh văn, Bích-chi Phật, chỉ không
thủ chứng, như trong phẩm sau nói: Vào tam-muội không vô tướng, vô
tác, Bồ-tát trú ba môn giải thoát, khởi niệm như vầy, nay là lúc quán,
không phải lúc chứng.
Hoặc có Bồ-tát mới phát tâm, nghe Ba mươi phẩm pháp của Thanh
văn, Bích-chi Phật, đọc tụng, nhớ nghĩ, phân biệt đúng đắn, vì vậy nên
nói Bồ-tát có Ba mươi bảy đạo phẩm. Có Mười lực của Phật... cũng như
vậy.
Bồ-tát tự an trú trong Mười lực, Bôn việc không sợ, Mười tám pháp
không chung của Bồ-tát. Khi an trú trong pháp ấy hoặc nghe, hoặc nhớ
nghĩ, phân biệt Mười lực, Bốn việc không sợ, Mười tám pháp không
chung thậm thâm vi diệu của Phật, cũng cho là một phần của mình.
Lại nữa, Bồ-tát từ vô lượng vô số kiếp lại đây, tu tập Mười lực, Bốn
việc không sợ của Phật, đến khi ngồi dưới đạo thọ, được vô ngại giải
thoát, cho nên tăng ích thanh tịnh; ví như đã lập công lao, vậy sau mới
nhận lãnh thưởng công. Bồ-tát cũng như vậy. Có công đức ấy, mới nhận
lãnh danh ấy. Công đức ấy đều cùng với lực Bát-nhã Ba-la-mật hợp, nên
không thấy hoặc tương ưng hoặc không tương ưng.
Các pháp nghĩa ấy, từ sáu Ba-la-mật cho đến trí nhất thiết chủng
trước đã nói.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát khi hành Bát-nhã
Ba-la-mật, không chẳng cùng không hợp, vô tướng chẳng cùng vô tướng
hợp, vô tác chẳng cùng vô tác hợp. Vì sao? Vì không, vô tướng, vô tác
không có hợp với chẳng hợp.
Xá lợi-phất, Bồ-tát ma-ha-tát tu tập tương ưng như vậy, ấy gọi là
cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng.
LUẬN: Hỏi: Trong nhất tâm không có hai không, tại sao nói không
chẳng cùng không hợp?
Đáp: Không có hai thứ: 1. Không tam-muội. 2. Pháp không. Không
tam-muội không cùng pháp không hợp. Vì cớ sao? Vì nếu lấy lực Không
tam-muội hợp với pháp không, thì pháp ấy chẳng phải tự tánh không.
Lại không là tánh tự không, chẳng phải từ nhân duyên sanh, nếu từ
nhân duyên sanh, thì không gọi là tánh không. Hành giả hoặc khi vào
tam-muội thấy không, khi ra tam-muội chẳng thấy không, nên biết ấy là
cái “Không” hư vọng (chứ không phải tánh không - N D).
THÍCH KINH LUẬN 2
Lại nữa, Phật tự nói nhân duyên: Trong không, không hợp không
chẳng hợp; trong vô tướng, vô tác cũng như vậy. Xá-lợi-phất! Bồ-tát tu
tập tương ưng như vậy, ấy gọi là cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng.
Hỏi: Chỉ một chỗ nói, không thấy cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương
ưng không tương ưng cũng đủ, vì sao còn nói đến nhiều nhân duyên
tương ưng không tương ưng? Nếu một chỗ đúng thì các chỗ khác đều
đúng, nếu một chỗ không đúng thì các chỗ khác cũng không đúng; vì như
một kẻ mù không thấy, thì ngàn kẻ mù đều không thấy?
Đáp: Không phải? Nếu muốn lấy hý luận cầu hơn thì nên vấn nạn
như vậy. Tướng các pháp tuy chẳng thể nói. Phật vì lòng đại từ đại bi nên
nhiều cách phương tiện nói.
Lại Phật thuyết pháp vì một hạng chúng sanh đắc độ, nếu ai chưa
ngộ thì Phật nói lại.
Lại nói một lần để dứt kiết sử kiến đế đoạn. Nói lần thứ hai để dứt
kiết sử tư duy đoạn, lại nói nữa để dứt từng phần các kiết sử khác.
Lại một lần nói có người đắc đạo Thanh văn, lại một lần nói gieo
nhân duyên về đạo Bích-chi Phật, lại một lần nói phát tâm Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, lại một lần nói hành sáu Ba-la-mật, lại một lần
nói hành phương tiện được vô sanh nhẫn, lại một lần nói được sơ trụ địa,
lại một lần nói cho đến được trú địa thứ mười. Lại một lần nói cho người,
lại một lần nói cho trời.
Lại nữa, tướng Bát-nhã Ba-la-mật rất sâu, khó hiểu khó biết. Phật
biết tâm chúng sanh căn có lợi độn; độn căn ít trí, vì họ nói lại. Nếu
người lợi căn, thì một lần nói, hai lần nói, liền ngộ, không cần phải nói
nhiều lần. Ví như ngựa hay, đánh một roi liền chạy, ngựa hèn đánh
nhiều roi mới đi.
Các nhân duyên như vậy nên trong Kinh nói lập đi lập lại không
lỗi.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát khi hành Bát-nhã
Ba-la-mật, vào tự tướng không của các pháp; vào rồi, sắc chẳng làm
hợp, chẳng làm chẳng hợp; thọ, tưởng, hành, thức chẳng làm hợp, chẳng
làm chẳng hợp. sắc không cùng đời trước hợp. Vì cớ sao? Vì không thấy
đời trước; sắc không cùng đời sau hợp. Vì sao? Vì không thấy đời sau.
Sắc không cùng hiện tại hợp. Vì sao? Vì không thấy hiện tại; thọ, tưởng,
hành, thức cũng như vậy.
LUẬN: Trước nói không, vô tướng, vô tác, không hợp, không chẳng
hợp, nay lại nói nhân duyên. Vì vào tự tướng không, nên năm uẩn không
làm hợp, không làm không hợp. Nếu hết thảy pháp tự tướng không, trong
ấy không có hợp chẳng hợp
Hợp là các pháp đúng như tướng nó. Như đất tướng cứng, thức tướng
biết, tự tướng như vậy, không ở nơi pháp khác, ấy gọi là hợp.
Chẳng hợp là tự tướng không ở trong tự pháp.
Lược nói các pháp không tăng không giảm, sắc, chẳng nói cùng đời
trước hợp. Vì sao? Vì đời trước không, không có gì, chỉ có danh tự. Nếu
sắc đi vào quá khứ, thì diệt mất không có gì, làm sao cùng đời trước hợp?
Đời sau là chưa có, chưa sanh, sắc không nên cùng đời sau hợp. sắc hiện
tại sanh diệt không ngừng, không thể chấp thủ tướng nó, sắc không thể
cùng hiện tại hợp.
Lại nữa, Phật tự nói nhân duyên: sắc chẳng cùng đời trước hợp,
chẳng phải không hợp. Vì sao? Vì đời trước không thể thấy; sắc chẳng
cùng đời sau hợp, chẳng phải không hợp. Vì sao? Vì đời sau không thể
thấy; sắc chẳng cùng hiện tại hợp, chẳng phải không hợp. Vì sao? Vì
hiện tại không thể thấy; thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát hành Bát-nhã Ba-
la-mật, đời trước không cùng đời sau hợp, đời sau không cùng đời trước
hợp, hiện tại không cùng đời trước đời sau hợp, đời trước đời sau không
cùng hiện tại hợp, vì tên ba đời không vậy.
Xá lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát tu tập tương ưng như vậy, ấy gọi là
cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng.
LUẬN: Thế nào đời trước đời sau hợp?
Đáp: Có người nói các pháp ba đời đều có, pháp vị lai chuyển làm
hiện tại, hiện tại chuyển làm quá khứ, như cục bùn là hiện tại, bình là
vị lai, đất là quá khứ. Nếu khi thành bình thì bình là hiện tại, cục bùn là
quá khứ, bình vỡ là vị lai. Như vậy là hợp, nếu có tướng ba đời, thì việc
ấy không đúng, vì có nhiều lỗi, ấy là chẳng hợp.
Lại nữa, ba đời hợp là như pháp quá khứ làm nhân cho đời quá khứ,
vị lai, hiện tại; pháp hiện tại làm nhân cho đời hiện tại, vị lai; pháp vị lai
làm nhân cho đời vị lai.
Lại tâm tâm số pháp quá khứ duyên pháp ba đời, tâm tâm số pháp
vị lai, hiện tại cũng như vậy. Tâm tâm số pháp gián đoạn có thể duyên
pháp không gián đoạn, tâm tâm số pháp không gián đoạn có thể duyên
pháp khả đoạn. Các pháp ba đời như vậy, do nhân duyên nghiệp quả
cùng nhau hòa hợp, ấy gọi là hợp. Bồ-tát không làm sự hợp ấy. Vì sao?
Vì như trước nói, quá khứ đã diệt làm sao có thể làm nhân làm duyên; vị
THÍCH KINH LUẬN 2
lai chưa có làm sao có thể làm nhân làm duyên; hiện tại cho đến trong
một niệm cũng không an trú, làm sao làm nhân, duyên; ấy gọi là không
hợp.
Lại nữa, Phật tự nói nhân duyên: ba đời và tên gọi ba đời đều không,
thì làm sao nói hợp.
LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ
Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.