Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ne 36Nayasamuṭṭhāna — Chương iii: Sự Đúc Kết Các Naya (Chỉ Nam)

Tên Pāli / Sanskrit:Nayasamuṭṭhāna

📖9,249 từ · ~37 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Netti (Hướng Dẫn Luận)

B. Phần Giải Minh

5. Chương iii: Nayasamuṭṭhāna — Sự Đúc Kết Các Naya (Chỉ Nam)

PTS vp En 148 644. Ở đây, thế nào là Sự Đúc Kết Các Naya?

[Phần Dẫn Nhập]

Không thể thấy điểm khởi đầu của vô minh (avijjā) và ái hữu (bhava-taṇhā). Ở đây, vô minh là triền cái (nīvaraṇa) và ái là kiết sử (saṃyojana).

645. Những chúng sinh lấy vô minh làm triền cái và bị kiết sử vào vô minh thì khảo sát về phía vô minh. Họ được gọi là "người có khí chất tri kiến" (diṭṭhicarita). Những chúng sinh lấy ái làm kiết sử và bị trói buộc vào ái thì khảo sát về phía ái. Họ được gọi là "người có khí chất ái dục" (taṇhācarita).

[Chuyển Hóa Sự Vị Nếm (Assādasaṃvattanika)]

646. PTS vp Pli 110 Những người có khí chất tri kiến đã xuất gia [vào đời không nhà] bên ngoài [giáo pháp] này trú với sự chuyên tâm theo đuổi khổ hành tự ngã. Những người có khí chất ái dục đã xuất gia bên ngoài [giáo pháp] này trú với sự chuyên tâm đắm chìm trong dục lạc giữa các dục.

647. Ở đây, lý do tại sao những người có khí chất tri kiến đã xuất gia bên ngoài [giáo pháp] này trú với sự chuyên tâm theo đuổi khổ hành tự ngã, tại sao những người có khí chất ái dục đã xuất gia bên ngoài [giáo pháp] này trú với sự chuyên tâm đắm chìm trong dục lạc giữa các dục, là gì? Bên ngoài [giáo pháp] này không có sự xác định về sự thật, vậy thì từ đâu có sự giải thích về bốn thánh đế, hay bất kỳ sự thành thạo nào trong chỉ (samatha) và quán (vipassanā), hay bất kỳ sự đạt được nào đối với lạc của tịch tĩnh?

648. Với nhận thức bị sai lạc do không quen biết với lạc của tịch tĩnh, họ đã đưa ra những tuyên bố như: (Không có lạc nào [đạt đến] qua lạc: lạc PTS vp En 149 phải được đạt đến qua khổ (đau), và (Người nuôi dưỡng dục vọng làm phong phú thế gian; người làm phong phú thế gian tích lũy nhiều công đức). Vì thế mà họ nhận thức, và với những tri kiến như vậy, khát vọng lạc thông qua đau, [hoặc] nhận thức công đức trong dục vọng, họ trú với sự chuyên tâm theo đuổi khổ hành tự ngã và chuyên tâm đắm chìm trong dục lạc.

Với sự quen biết như vậy, họ chỉ làm phong phú thêm bệnh, chỉ làm phong phú thêm nhọt, chỉ làm phong phú thêm gai. Bị áp đảo bởi bệnh, bị đàn áp bởi nhọt, bị đâm bởi gai, thực hiện sự trầm luân vào và ra khỏi các địa ngục, thai bào súc vật, quỷ đói và yêu ma, tạo ra sự hiện hữu đồng chất với sự kích động và suy sụp, họ không tìm được thuốc chữa cho bệnh, nhọt, gai.

649. (i) Ở đây, sự theo đuổi khổ hành tự ngã và sự theo đuổi đắm chìm trong dục lạc là ô nhiễm; chỉ và quán là thanh lọc. Sự theo đuổi khổ hành tự ngã và sự theo đuổi đắm chìm trong dục lạc là bệnh; chỉ và quán là thuốc chữa bệnh. Sự theo đuổi khổ hành tự ngã và sự theo đuổi đắm chìm trong dục lạc là nhọt; chỉ và quán là thuốc chữa nhọt. Sự theo đuổi khổ hành tự ngã và sự theo đuổi đắm chìm trong dục lạc là gai; chỉ và quán là thuốc rút gai.

650. Ở đây, ô nhiễm là Khổ (Dukkha); ái, với tư cách là sự chấp thủ vào đó, là Tập (Samudaya); sự diệt trừ ái là Diệt Khổ (Nirodha); chỉ và quán là Đạo Dẫn Đến Diệt Khổ (Magga).

651. PTS vp Pli 111 Đây là bốn Thánh Đế. Khổ phải được chẩn đoán, Tập phải được đoạn trừ, Đạo phải được duy trì, và Diệt phải được chứng ngộ.

652. (iii) [Hơn nữa] ở đây, người có khí chất tri kiến tiếp cận sắc (rūpa) như là tự ngã, tiếp cận thọ (vedanā) ... tưởng (saññā) ... hành (saṅkhāra) ... thức (viññāṇa) như là tự ngã. Người có khí chất ái dục tiếp cận tự ngã là người sở hữu sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc; hay người đó PTS vp En 150 tiếp cận tự ngã là người sở hữu thọ ... sở hữu tưởng ... sở hữu hành ... sở hữu thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức. Đây được gọi là thân kiến hai mươi cơ sở (vīsatisakkāyadiṭṭhi).

653. Đối lập với điều này là chánh kiến (sammādiṭṭhi) không dính líu đến các thế giới, và chánh tư duy (sammāsaṅkappa), chánh ngữ (sammāvācā), chánh nghiệp (sammākammanta), chánh mạng (sammāājīva), chánh tinh tấn (sammāvāyāma), chánh niệm (sammāsati), và chánh định (sammāsamādhi) đi kèm với nó. Đây là Bát Thánh Đạo.

654. Đó là ba nhóm: nhóm giới (sīlakkhandha), nhóm định (samādhikkhandha), và nhóm tuệ (paññākkhandha). Nhóm giới và nhóm định là chỉ, và nhóm tuệ là quán.

655. Ở đây, thân kiến (sakkāya) là Khổ, nguồn gốc của thân kiến là Tập Khổ, sự diệt thân kiến là Diệt Khổ, và Bát Thánh Đạo là Đạo Dẫn Đến Diệt Khổ.

656. Đây là bốn Thánh Đế. Khổ phải được chẩn đoán, Tập phải được đoạn trừ, Đạo phải được duy trì, và Diệt phải được chứng ngộ.

657. (iii) Ở đây, những ai tiếp cận sắc như là tự ngã, tiếp cận thọ ... tưởng ... hành ... thức như là tự ngã, được gọi là những người hư vô luận (ucchedavādī). Những ai tiếp cận tự ngã là người sở hữu sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc, tiếp cận tự ngã là người sở hữu thọ ... sở hữu tưởng ... sở hữu hành ... sở hữu thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức, được gọi là những người thường hằng luận (sassatavādī).

658. Ở đây, hư vô luận và thường hằng luận là hai cực đoan. Chúng [đều gây ra] sự xảy ra của vòng luân hồi (vaṭṭa).

659. PTS vp Pli 112 Đối lập với điều đó là con đường trung đạo (majjhimā paṭipadā), Bát Thánh Đạo. Đây là sự không xảy ra của vòng luân hồi.

660. Ở đây, sự xảy ra là Khổ; ái, với tư cách là sự chấp thủ vào đó, là Tập; sự diệt ái là Diệt Khổ; Bát Thánh Đạo là Đạo Dẫn Đến Diệt Khổ.

661. Đây là bốn Thánh Đế. Khổ phải được chẩn đoán, Tập phải được đoạn trừ, Đạo phải được duy trì, và Diệt phải được chứng ngộ.

662. (iv) Ở đây, kết hợp thì hư vô luận và thường hằng luận là thân kiến hai mươi cơ sở, còn khai triển chi tiết thì là sáu mươi hai loại tri kiến.

PTS vp En 151 663. Đối lập với chúng là bốn mươi ba pháp hỗ trợ giác ngộ (bodhipakkhiyā dhammā), tám giải thoát (vimokkha), mười biến xứ (kasiṇa).

664. Sáu mươi hai loại tri kiến là lưới mê lầm (moha-jāla), không có khởi đầu và tiếp tục xuất hiện không ngừng. Bốn mươi ba pháp hỗ trợ giác ngộ là kim cương của trí tuệ (ñāṇa-vajra) bổ vỡ lưới mê lầm.

665. Ở đây, mê lầm là vô minh, và lưới là ái hữu.

Đó là lý do tại sao ở trên đã nói "Không thể thấy điểm khởi đầu của vô minh và ái hữu."

666. Ở đây, khi người có khí chất tri kiến đã xuất gia [vào đời không nhà] trong giáo pháp này, người đó trở thành người sống với sự diệt trừ liên tục, chú tâm mạnh mẽ vào sự diệt trừ (sallekha), còn khi người có khí chất ái dục đã xuất gia trong giáo pháp này, người đó là người sống với học giới được gìn giữ, chú tâm mạnh mẽ vào học giới.

667. Khi người có khí chất tri kiến đứng vững trong sự chắc chắn về chánh nghĩa, người đó là Người Theo Pháp (dhammānusārī), còn khi người có khí chất ái dục đứng vững trong sự chắc chắn về chánh nghĩa, người đó là Người Theo Tín (saddhānusārī).

668. Người có khí chất tri kiến tìm được lối thoát qua con đường thú lạc với sự quen biết chậm và với sự quen biết nhanh, còn người có khí chất ái dục tìm được lối thoát qua con đường thú khổ với sự quen biết chậm và với sự quen biết nhanh.

669. Ở đây, lý do tại sao người có khí chất ái dục tìm được lối thoát qua con đường thú khổ với sự quen biết chậm và với sự quen biết nhanh là gì? Vì các dục chưa được người đó từ bỏ. PTS vp Pli 113 Khi PTS vp En 152 người đó đang ly khai khỏi các dục, người đó từ bỏ một cách khó khăn và chậm chạp mà đạt được tri thức về Chánh Pháp. Còn đối với người có khí chất tri kiến, ngay từ đầu người đó không phải là người tìm kiếm dục vọng. [Vậy] khi người đó đang ly khai khỏi chúng, người đó từ bỏ nhanh chóng và nhanh chóng đạt được tri thức về Chánh Pháp.

670. Con đường thú khổ có hai loại: với sự quen biết chậm và với sự quen biết nhanh. Và con đường thú lạc có hai loại: với sự quen biết chậm và với sự quen biết nhanh. Và chúng sinh có hai loại: với căn độn (muddindriya) và với căn bén (tikkhindriya). Những người với căn độn từ bỏ chậm chạp và chậm chạp đạt được tri thức về Chánh Pháp. Những người với căn bén từ bỏ nhanh chóng và nhanh chóng đạt được tri thức về Chánh Pháp.

671. Đây là bốn con đường. Chính bằng bốn con đường này mà bất kỳ ai đã tìm được lối thoát, đang tìm lối thoát, hay sẽ tìm lối thoát.

672. Đó là cách các bậc Thánh (Ariya) mô tả một con đường bốn phần để người thiếu trí tu tập, để kẻ ngu si khao khát, để người tham dục làm chủ dục của mình, với mục đích là sự chuyển hóa vị nếm (assāda), của ái hữu.

Đây được gọi là Bình Diện Chuyển Hóa Vị Nếm. Đó là lý do tại sao đã nói:

"[Naya] Ái và Vô Minh [hướng dẫn]Qua Chỉ và Quán, [và thông qua việcThích đáng hiểu bốn Thánh ĐếLà Chuyển Hóa Vị Nếm]."

[PTS vp En 153 Sự Phác Họa Các Phương Hướng (Disālocanā)]

673. "Điều gì tâm trí phác họa ra [ý niệm về]Lợi và bất lợi được trình bàyỞ đây hoặc ở kia trong các giải thích[Họ gọi là Sự Phác Họa Các Phương Hướng]."

[Bây giờ] các [ý niệm] này có thể được xem xét theo hai cách, tức là liệu chúng theo vòng luân hồi của thế gian hay theo sự dừng lại của thế gian, "vòng" là chỉ vòng tái sinh (saṃsāra) và "dừng lại" là chỉ Niết-bàn (nibbāna), với nghiệp và phiền não [là] nguyên nhân của vòng luân hồi. Ở đây, nghiệp có thể được chứng minh là tư (cetanā) và là đồng sinh pháp của thức (citta-sampayuttadhamma). Điều đó phải được xem xét như thế nào? Qua sự tích lũy.

674. Bây giờ tất cả phiền não có thể được chứng minh qua bốn điên đảo (vipallāsa). Chúng được tìm thấy ở đâu? Trong sự tổng hợp phiền não với mười nền tảng của nó. PTS vp Pli 114 Mười nền tảng nào?

  • Bốn Thức Ăn (āhāra) [thức ăn vật lý, xúc, tư, và thức].
  • Bốn Điên Đảo (vipallāsa) [thấy đẹp, thấy vui, thấy thường, và thấy ngã, ở nơi không có những điều đó].
  • Bốn Thủ (upādāna) [dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, và ngã luận thủ].
  • Bốn Kiết Sử (saṃyojana) [dục, hữu, kiến, và vô minh].
  • Bốn Thân Kết (kāyagantha) [tham, sân, ố chấp giới cấm, và chấp đây là thật].
  • Bốn Lậu Hoặc (āsava) [dục, hữu, kiến, và vô minh].
  • Bốn Bộc Lưu (ogha) [dục, hữu, kiến, và vô minh].
  • PTS vp En 154 Bốn Gai Nhọn (salla) [tham, sân, mạn, và si].
  • Bốn Trú Xứ Của Thức (viññāṇaṭṭhiti) [sắc, thọ, tưởng, và hành].
  • Bốn Ác Hành (agati) [do ý muốn, sân hận, sợ hãi, và si mê].

675. 1–2. Trong thức ăn thứ nhất có điên đảo thứ nhất; trong thức ăn thứ hai, điên đảo thứ hai; trong thức ăn thứ ba, điên đảo thứ ba; trong thức ăn thứ tư, điên đảo thứ tư.

2–3. Trong điên đảo thứ nhất có thủ thứ nhất; trong điên đảo thứ hai, thủ thứ hai; trong điên đảo thứ ba, thủ thứ ba; trong điên đảo thứ tư, thủ thứ tư.

3–4. Trong thủ thứ nhất có kiết sử thứ nhất; trong thủ thứ hai, kiết sử thứ hai; trong thủ thứ ba, kiết sử thứ ba; trong thủ thứ tư, kiết sử thứ tư.

4–5. Trong kiết sử thứ nhất có thân kết thứ nhất; trong kiết sử thứ hai, thân kết thứ hai; trong kiết sử thứ ba, thân kết thứ ba; trong kiết sử thứ tư, thân kết thứ tư.

5–6. Trong thân kết thứ nhất có lậu hoặc thứ nhất; trong thân kết thứ hai, lậu hoặc thứ hai; trong thân kết thứ ba, lậu hoặc thứ ba; trong thân kết thứ tư, lậu hoặc thứ tư.

6–7. Trong lậu hoặc thứ nhất có bộc lưu thứ nhất; trong lậu hoặc thứ hai, bộc lưu thứ hai; trong lậu hoặc thứ ba, bộc lưu thứ ba; trong lậu hoặc thứ tư, bộc lưu thứ tư.

7–8. Trong bộc lưu thứ nhất có gai nhọn thứ nhất; trong bộc lưu thứ hai, gai nhọn thứ hai; trong bộc lưu thứ ba, gai nhọn thứ ba; trong bộc lưu thứ tư, gai nhọn thứ tư.

8–9. Trong gai nhọn thứ nhất có trú xứ của thức thứ nhất; trong gai nhọn thứ hai, trú xứ của thức thứ hai; trong gai nhọn thứ ba, trú xứ của thức thứ ba; trong gai nhọn thứ tư, trú xứ của thức thứ tư.

9–10. Trong trú xứ của thức thứ nhất có ác hành thứ nhất; trong trú xứ của thức thứ hai, ác hành thứ hai; trong trú xứ của thức thứ ba, ác hành thứ ba; trong trú xứ của thức thứ tư, ác hành thứ tư.

676. 1. Ở đây, thức ăn vật lý và thức ăn là xúc là các bất hoàn hảo ở người có khí chất ái dục, PTS vp En 155 còn thức ăn là tư ý và thức ăn là thức là các bất hoàn hảo ở người có khí chất tri kiến.

677. 2. Ở đây, điên đảo thấy đẹp trong điều xấu và điên đảo thấy vui trong điều khổ là các bất hoàn hảo ở người có khí chất ái dục, còn điên đảo thấy thường trong điều vô thường và điên đảo thấy ngã trong điều vô ngã là các bất hoàn hảo ở người có khí chất tri kiến.

678. PTS vp Pli 115 3. Ở đây, dục thủ và hữu thủ là các bất hoàn hảo ở người có khí chất ái dục, còn kiến thủ và ngã luận thủ là các bất hoàn hảo ở người có khí chất tri kiến.

679. 4. Ở đây, dục kiết sử và hữu kiết sử là các bất hoàn hảo ở người có khí chất ái dục, còn kiến kiết sử và vô minh kiết sử là các bất hoàn hảo ở người có khí chất tri kiến.

680. 5. Thân kết tham lam và thân kết sân hận là các bất hoàn hảo ở người có khí chất ái dục, còn thân kết chấp sai giới cấm và thân kết chấp đây là thật là các bất hoàn hảo ở người có khí chất tri kiến.

681. 6. Ở đây, dục lậu và hữu lậu là các bất hoàn hảo ở người có khí chất ái dục, còn kiến lậu và vô minh lậu là các bất hoàn hảo ở người có khí chất tri kiến.

682. 7. Ở đây, dục bộc lưu và hữu bộc lưu là các bất hoàn hảo ở người có khí chất ái dục, còn kiến bộc lưu và vô minh bộc lưu là các bất hoàn hảo ở người có khí chất tri kiến.

683. 8. Ở đây, gai nhọn tham và gai nhọn sân là các bất hoàn hảo ở người có khí chất ái dục, còn gai nhọn mạn và gai nhọn si là các bất hoàn hảo ở người có khí chất tri kiến.

684. 9. Ở đây, sắc là trú xứ của thức đang truyền đi và thọ là trú xứ của thức đang truyền đi là các bất hoàn hảo ở người có khí chất ái dục, còn tưởng là trú xứ của thức đang truyền đi và hành là trú xứ của thức đang truyền đi là các bất hoàn hảo ở người có khí chất tri kiến.

685. 10. Ở đây, ác hành do ý muốn và PTS vp En 156 ác hành do sân hận là các bất hoàn hảo ở người có khí chất ái dục, còn ác hành do sợ hãi và ác hành do si mê là các bất hoàn hảo ở người có khí chất tri kiến.

686. 1–2. Ở đây, điên đảo thấy đẹp trong điều xấu [xảy ra] liên quan đến thức ăn vật lý; điên đảo thấy vui trong điều khổ, liên quan đến thức ăn là xúc; điên đảo thấy thường trong điều vô thường, liên quan đến thức ăn là thức; điên đảo thấy ngã trong điều vô ngã, liên quan đến thức ăn là tư ý.

687. 2–3. Người an trú trong điên đảo thứ nhất thủ lấy dục vọng: đây được gọi là dục thủ. Người an trú trong điên đảo thứ hai PTS vp Pli 116 thủ lấy hữu tương lai: đây được gọi là hữu thủ. Người an trú trong điên đảo thứ ba thủ lấy tri kiến có sự vị nếm kỳ vọng vào vòng luân hồi: đây được gọi là kiến thủ. Người an trú trong điên đảo thứ tư, sau khi giả định có một tự ngã, thủ lấy [theo đó]: đây được gọi là ngã luận thủ.

688. 3–4. Người đó bị trói buộc (kiết sử) bởi dục vọng qua dục thủ: đây được gọi là dục kiết sử. Người đó bị kiết sử bởi các loại hữu qua hữu thủ: đây được gọi là hữu kiết sử. Người đó bị kiết sử bởi tà kiến qua kiến thủ: đây được gọi là kiến kiết sử. Người đó bị kiết sử bởi vô minh qua ngã luận thủ: đây được gọi là vô minh kiết sử.

689. 4–5. Người an trú trong kiết sử thứ nhất trói buộc thân bằng tham lam: đây được gọi là thân kết tham lam. Người an trú trong kiết sử thứ hai trói buộc thân bằng thân kết sân hận: đây được gọi là thân kết sân hận. Người an trú trong kiết sử thứ ba trói buộc thân bằng sự chấp sai [giới cấm]: đây được gọi là thân kết chấp sai giới cấm. Người an trú trong kiết sử thứ tư trói buộc thân bằng sự khăng khăng rằng chỉ cái này là thật: đây được gọi là thân kết chấp đây là thật.

690. 5–6. Các phiền não của người đó, khi đã bị trói buộc như vậy, nhiễm ô [người đó]. Và chúng được gọi là nhiễm ô như thế nào? Như xu hướng tiềm ẩn (anusaya), hoặc như [sự ám ảnh] hiện hành (paryutthāna). Ở đây, có dục lậu PTS vp En 157 qua thân kết tham lam, hữu lậu qua thân kết sân hận, kiến lậu qua thân kết chấp sai [giới cấm], và vô minh lậu qua thân kết chấp đây là thật.

691. 6–7. Khi bốn lậu hoặc này sung mãn thì chúng là bộc lưu, vậy với sự sung mãn của lậu hoặc thì có sự sung mãn của bộc lưu. Ở đây, có dục bộc lưu qua dục lậu, hữu bộc lưu qua hữu lậu, kiến bộc lưu qua kiến lậu, vô minh bộc lưu qua vô minh lậu.

692. 7–8. Bốn bộc lưu này, được kèm bởi các xu hướng tiềm ẩn, xâm nhập vào các xu hướng của người ta cho đến khi chúng đập vào tâm và trú lại đó một cách vững chắc: vì vậy chúng được gọi là "gai nhọn" (salla). Ở đây, có gai nhọn tham với dục bộc lưu, gai nhọn sân với hữu bộc lưu, gai nhọn mạn với kiến bộc lưu, và gai nhọn si với vô minh bộc lưu.

693. 8–9. Khi thức của người ta bị nắm chặt bởi bốn gai nhọn này, nó tự định hình theo bốn ý niệm sau đây, tức là sắc, thọ, tưởng, và hành.

694. Ở đây, sắc PTS vp Pli 117 là trú xứ của thức đang truyền đi khi thức có sự nhiễm ô vị nếm qua gai nhọn tham; thọ là trú xứ của thức đang truyền đi khi thức có sự nhiễm ô vị nếm qua gai nhọn sân; tưởng là trú xứ của thức đang truyền đi khi thức có sự nhiễm ô vị nếm qua gai nhọn mạn; hành là trú xứ của thức đang truyền đi khi thức có sự nhiễm ô vị nếm qua gai nhọn si.

695. 9–10. Khi thức của người ta bị cứng đọng bởi bốn trú xứ của thức này, người ta đi ác hành vì bốn ý niệm sau đây, tức là vì ý muốn, vì sân hận, vì sợ hãi, và vì si mê.

696. Ở đây, chính vì tham mà người ta đi ác hành do ý muốn, vì sân mà người ta đi ác hành do sân hận, vì sợ mà người ta đi ác hành do sợ hãi, và vì si mà người ta đi ác hành do si mê.

Đó là cách nghiệp đó và những phiền não đó là nguyên nhân của vòng luân hồi. Đó là cách tất cả phiền não có thể được chứng minh bằng bốn điên đảo.

PTS vp En 158 697. Ở đây, các phương hướng là bốn phương này: (i) thức ăn vật lý, điên đảo thấy đẹp trong điều xấu, dục thủ, dục kiết sử, thân kết tham lam, dục lậu, dục bộc lưu, gai nhọn tham, sắc là trú xứ của thức đang truyền đi, ác hành do ý muốn, là phương hướng thứ nhất. (ii) Thức ăn là xúc, điên đảo thấy vui trong điều khổ, hữu thủ, hữu kiết sử, thân kết sân hận, hữu lậu, hữu bộc lưu, gai nhọn sân, thọ là trú xứ của thức đang truyền đi, ác hành do sân hận, là phương hướng thứ hai. (iii) Thức ăn là thức, điên đảo thấy thường trong điều vô thường, kiến thủ, kiến kiết sử, thân kết chấp sai giới cấm, kiến lậu, kiến bộc lưu, gai nhọn mạn, tưởng là trú xứ của thức đang truyền đi, ác hành do sợ hãi, là phương hướng thứ ba. (iv) Thức ăn là tư ý, điên đảo thấy ngã trong điều vô ngã,

ngã luận thủ, vô minh kiết sử, thân kết chấp đây là thật, vô minh lậu, vô minh bộc lưu, gai nhọn si, hành là trú xứ của thức đang truyền đi, ác hành do si mê, là phương hướng thứ tư.

698. (i) Ở đây, đối với mười Sợi Chỉ (naya-pada) sau đây: thức ăn vật lý, điên đảo thấy đẹp trong điều xấu, dục thủ, dục kiết sử, thân kết tham lam, dục lậu, dục bộc lưu, gai nhọn tham, sắc là trú xứ của thức đang truyền đi, và ác hành do ý muốn — ý nghĩa của chúng là một, chỉ có diễn đạt khác nhau. Đây là các bất hoàn hảo ở người có khí chất tham dục (rāgacarita).

699. (ii) PTS vp Pli 118 Ở đây, đối với mười Sợi Chỉ sau đây: thức ăn là xúc, điên đảo thấy vui trong điều khổ, hữu thủ, hữu kiết sử, thân kết sân hận, hữu lậu, hữu bộc lưu, gai nhọn sân, thọ là trú xứ của thức đang truyền đi, và ác hành do sân hận — ý nghĩa của chúng là một, chỉ có diễn đạt khác nhau. Đây là các bất hoàn hảo ở người có khí chất sân hận (dosacarita).

700. (iii) Ở đây, đối với mười Sợi Chỉ sau đây: thức ăn là thức, điên đảo thấy thường trong điều PTS vp En 159 vô thường, kiến thủ, kiến kiết sử, thân kết chấp sai giới cấm, kiến lậu, kiến bộc lưu, gai nhọn mạn, tưởng là trú xứ của thức đang truyền đi, và ác hành do sợ hãi — ý nghĩa của chúng là một, chỉ có diễn đạt khác nhau. Đây là các bất hoàn hảo ở người có khí chất tri kiến độn căn (mandadiṭṭhicarita).

701. (iv) Ở đây, đối với mười Sợi Chỉ sau đây: thức ăn là tư ý, điên đảo thấy ngã trong điều vô ngã, vô minh kiết sử, ngã luận thủ, thân kết chấp đây là thật, vô minh lậu, vô minh bộc lưu, gai nhọn si, hành là trú xứ của thức đang truyền đi, và ác hành do si mê — ý nghĩa của chúng là một, chỉ có diễn đạt khác nhau. Đây là các bất hoàn hảo ở người có khí chất tri kiến lợi căn (paṭudiṭṭhicarita).

702. 1. Ở đây, thức ăn vật lý và thức ăn là xúc đi đến sự chẩn đoán qua môn giải thoát vô nguyện (appaṇihitavimokkha); thức ăn là thức qua môn giải thoát không (suññatavimokkha); và thức ăn là tư ý qua môn giải thoát vô tướng (animittavimokkha).

703. 2. Ở đây, điên đảo thấy đẹp trong điều xấu và điên đảo thấy vui trong điều khổ đi đến sự tiêu tan qua môn giải thoát vô nguyện; điên đảo thấy thường trong điều vô thường [như vậy] qua môn giải thoát không; và điên đảo thấy ngã trong điều vô ngã [như vậy] qua môn giải thoát vô tướng.

704. 3. Ở đây, dục thủ và hữu thủ đi đến sự đoạn trừ qua môn giải thoát vô nguyện; kiến thủ qua môn giải thoát không; và ngã luận thủ qua môn giải thoát vô tướng.

705. 4. Ở đây, dục kiết sử và hữu kiết sử đi đến sự đoạn trừ qua môn giải thoát vô nguyện; kiến kiết sử qua môn giải thoát không; và vô minh kiết sử qua môn giải thoát vô tướng.

706. 5. Ở đây, thân kết tham lam và thân kết sân hận đi đến sự đoạn trừ qua môn giải thoát vô nguyện; PTS vp Pli 119 thân kết chấp sai giới cấm qua môn giải thoát không; và thân kết chấp đây là thật qua môn giải thoát vô tướng.

707. 6. Ở đây, dục lậu và hữu lậu đi đến sự đoạn trừ qua môn giải thoát vô nguyện PTS vp En 160; kiến lậu qua môn giải thoát không; và vô minh lậu qua môn giải thoát vô tướng.

708. 7. Ở đây, dục bộc lưu và hữu bộc lưu đi đến sự đoạn trừ qua môn giải thoát vô nguyện; kiến bộc lưu qua môn giải thoát không; và vô minh bộc lưu qua môn giải thoát vô tướng.

709. 8. Ở đây, gai nhọn tham và gai nhọn sân đi đến sự đoạn trừ qua môn giải thoát vô nguyện; gai nhọn mạn qua môn giải thoát không; và gai nhọn si qua môn giải thoát vô tướng.

710. 9. Ở đây, sắc là trú xứ của thức đang truyền đi và thọ là trú xứ của thức đang truyền đi đi đến sự chẩn đoán qua môn giải thoát vô nguyện; tưởng là trú xứ của thức đang truyền đi [như vậy] qua môn giải thoát không; và hành là trú xứ của thức đang truyền đi [như vậy] qua môn giải thoát vô tướng.

711. 10. Ở đây, ác hành do ý muốn và ác hành do sân hận đi đến sự đoạn trừ qua môn giải thoát vô nguyện; ác hành do sợ hãi [như vậy] qua môn giải thoát không; và ác hành do si mê [như vậy] qua môn giải thoát vô tướng.

712. Vậy là tất cả các ý niệm theo vòng luân hồi của thế gian tìm được lối thoát khỏi ba cõi thế gian qua ba Môn Giải Thoát.

713. Đây là lối thoát:

  • Bốn Đạo (magga).
  • Bốn Niệm Xứ (satipaṭṭhāna) [thân, thọ, tâm, pháp].
  • Bốn Thiền (jhāna) [sơ, nhị, tam, tứ].
  • Bốn Trú Xứ (vihāra) [thiên trú, phạm trú, thánh trú, bất động trú].
  • Bốn Chánh Tinh Tấn (sammappadhāna) [nỗ lực ngăn chặn bất thiện pháp chưa sinh, đoạn trừ bất thiện pháp đã sinh, phát khởi thiện pháp chưa sinh, và tăng trưởng thiện pháp đã sinh].
  • Bốn Pháp Kỳ Diệu Kỳ Lạ (acchariyā-abbhutā dhammā) [đoạn trừ mạn, tiêu diệt nương tựa, đoạn trừ vô minh, an tịnh hữu].
  • Bốn Phát Ngôn (vacana) [chân lý, hào phóng, trí hiểu biết, bình an].
  • PTS vp En 161 Bốn Cách Duy Trì Định (samādhi-padhāna) [ý, năng lượng, tâm, tư duy — 4 như ý túc].
  • Bốn Ý Niệm Đối Phó Với Lạc [phòng thủ căn, nhiệt tâm, khám phá, từ bỏ tất cả thực chất của hữu].
  • Bốn Vô Lượng Tâm (appamaññā) [từ, bi, hỷ, xả].

714. 1–2. Con đường thứ nhất [tương ứng với] niệm xứ thứ nhất; con đường thứ hai tương ứng với niệm xứ thứ hai; con đường thứ ba tương ứng với niệm xứ thứ ba; con đường thứ tư tương ứng với niệm xứ thứ tư.

2–3. Niệm xứ thứ nhất [tương ứng với] thiền thứ nhất; niệm xứ thứ hai tương ứng với thiền thứ hai; niệm xứ thứ ba tương ứng với thiền thứ ba; niệm xứ thứ tư tương ứng với thiền thứ tư.

3–4. Thiền thứ nhất [tương ứng với] trú xứ thứ nhất; thiền thứ hai tương ứng với trú xứ thứ hai; thiền thứ ba tương ứng với trú xứ thứ ba; thiền thứ tư PTS vp Pli 120 tương ứng với trú xứ thứ tư.

4–5. Trú xứ thứ nhất [tương ứng với] chánh tinh tấn thứ nhất; trú xứ thứ hai tương ứng với chánh tinh tấn thứ hai; trú xứ thứ ba tương ứng với chánh tinh tấn thứ ba; trú xứ thứ tư tương ứng với chánh tinh tấn thứ tư.

5–6. Chánh tinh tấn thứ nhất [tương ứng với] pháp kỳ diệu kỳ lạ thứ nhất; chánh tinh tấn thứ hai tương ứng với pháp kỳ diệu kỳ lạ thứ hai; chánh tinh tấn thứ ba tương ứng với pháp kỳ diệu kỳ lạ thứ ba; chánh tinh tấn thứ tư tương ứng với pháp kỳ diệu kỳ lạ thứ tư.

6–7. Pháp kỳ diệu kỳ lạ thứ nhất [tương ứng với] phát ngôn thứ nhất; pháp kỳ diệu kỳ lạ thứ hai tương ứng với phát ngôn thứ hai; pháp kỳ diệu kỳ lạ thứ ba tương ứng với phát ngôn thứ ba; pháp kỳ diệu kỳ lạ thứ tư tương ứng với phát ngôn thứ tư.

7–8. Phát ngôn thứ nhất [tương ứng với] duy trì định thứ nhất; phát ngôn thứ hai tương ứng với duy trì định thứ hai; phát ngôn thứ ba tương ứng với duy trì định thứ ba; phát ngôn thứ tư tương ứng với duy trì định thứ tư.

8–9. PTS vp En 162 Duy trì định thứ nhất [tương ứng với] ý niệm đối phó với lạc thứ nhất; duy trì định thứ hai tương ứng với ý niệm đối phó với lạc thứ hai; duy trì định thứ ba tương ứng với ý niệm đối phó với lạc thứ ba; duy trì định thứ tư tương ứng với ý niệm đối phó với lạc thứ tư.

9–10. Ý niệm đối phó với lạc thứ nhất [tương ứng với] vô lượng tâm thứ nhất; ý niệm đối phó với lạc thứ hai tương ứng với vô lượng tâm thứ hai; ý niệm đối phó với lạc thứ ba tương ứng với vô lượng tâm thứ ba; ý niệm đối phó với lạc thứ tư tương ứng với vô lượng tâm thứ tư.

715. 1–2. Khi con đường thứ nhất được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn niệm xứ thứ nhất; khi con đường thứ hai được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn niệm xứ thứ hai; khi con đường thứ ba được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn niệm xứ thứ ba; khi con đường thứ tư được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn niệm xứ thứ tư.

716. 2–3. Khi niệm xứ thứ nhất được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn thiền thứ nhất; khi niệm xứ thứ hai được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn thiền thứ hai; khi niệm xứ thứ ba được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn thiền thứ ba; khi niệm xứ thứ tư được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn thiền thứ tư.

717. 3–4. Khi thiền thứ nhất được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn trú xứ thứ nhất; khi thiền thứ hai được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn trú xứ thứ hai; khi thiền thứ ba được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn trú xứ thứ ba; khi thiền thứ tư được duy trì, PTS vp Pli 121 được thực hành nhiều, nó viên mãn trú xứ thứ tư.

718. 4–5. Khi trú xứ thứ nhất được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn sự không phát sinh của các ý tưởng ác bất thiện chưa sinh. Khi trú xứ thứ hai được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn sự đoạn trừ các ý tưởng ác bất thiện đã sinh. Khi trú xứ thứ ba được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn sự phát sinh của các ý tưởng thiện chưa sinh; khi trú xứ thứ tư được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn sự kiên định, không mất đi và sung mãn của các ý tưởng thiện đã sinh.

719. 5–6. Khi chánh tinh tấn thứ nhất được duy trì, được PTS vp En 163 thực hành nhiều, nó viên mãn sự đoạn trừ mạn. Khi chánh tinh tấn thứ hai được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn sự tiêu trừ nương tựa. Khi chánh tinh tấn thứ ba được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn sự đoạn trừ vô minh. Khi chánh tinh tấn thứ tư được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn sự an tịnh hữu.

720. 6–7. Khi sự đoạn trừ mạn được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn phát ngôn chân lý. Khi sự tiêu trừ nương tựa được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn phát ngôn hào phóng. Khi sự đoạn trừ vô minh được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn phát ngôn trí hiểu biết. Khi sự an tịnh hữu được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn phát ngôn bình an.

721. 7–8. Khi phát ngôn chân lý được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn định về ý. Khi phát ngôn hào phóng được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn định về năng lượng. Khi phát ngôn trí hiểu biết được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn định về [sự thuần tịnh của] tâm. Khi phát ngôn bình an được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn định về tư duy.

722. 8–9. Khi định về ý được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn phòng thủ căn. Khi định về năng lượng được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn nhiệt tâm. Khi định về [sự thuần tịnh của] tâm được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn khám phá. Khi định về tư duy được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn sự từ bỏ tất cả thực chất của hữu.

723. 9–10. Khi phòng thủ căn được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn tâm từ. Khi nhiệt tâm được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn tâm bi. Khi khám phá được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn tâm hỷ [trước sự thành công của người khác]. Khi sự từ bỏ tất cả thực chất của hữu được duy trì, được thực hành nhiều, nó viên mãn tâm xả.

724. Ở đây, bốn phương hướng là: (i) Con đường thứ nhất, niệm xứ thứ nhất, thiền thứ nhất, trú xứ thứ nhất, PTS vp En 164 chánh tinh tấn thứ nhất, pháp kỳ diệu kỳ lạ thứ nhất, phát ngôn chân lý, định về ý, phòng thủ căn, và tâm từ, PTS vp Pli 122 là phương hướng thứ nhất. (ii) Con đường thứ hai, niệm xứ thứ hai, thiền thứ hai, trú xứ thứ hai, chánh tinh tấn thứ hai, pháp kỳ diệu kỳ lạ thứ hai, phát ngôn hào phóng, định về năng lượng, nhiệt tâm, và tâm bi, là phương hướng thứ hai. (iii) Con đường thứ ba, niệm xứ thứ ba, thiền thứ ba, trú xứ thứ ba, chánh tinh tấn thứ ba, pháp kỳ diệu kỳ lạ thứ ba, phát ngôn trí hiểu biết, định về [sự thuần tịnh của] tâm, khám phá, và tâm hỷ, là phương hướng thứ ba. (iv) Con đường thứ tư, niệm xứ thứ tư, thiền thứ tư, trú xứ thứ tư, chánh tinh tấn thứ tư,

pháp kỳ diệu kỳ lạ thứ tư, phát ngôn bình an, định về tư duy, sự từ bỏ tất cả thực chất của hữu, và tâm xả, là phương hướng thứ tư.

725. (i) Ở đây, đối với mười Sợi Chỉ sau đây: con đường thứ nhất, niệm xứ thứ nhất, thiền thứ nhất, trú xứ thứ nhất, chánh tinh tấn thứ nhất, pháp kỳ diệu kỳ lạ thứ nhất, phát ngôn chân lý, định về ý, phòng thủ căn, và tâm từ — ý nghĩa của chúng là một, chỉ có diễn đạt khác nhau. Đây là thuốc chữa bệnh cho người có khí chất tham dục.

726. (ii) Ở đây, đối với mười Sợi Chỉ sau đây: con đường thứ hai, niệm xứ thứ hai, thiền thứ hai, trú xứ thứ hai, chánh tinh tấn thứ hai, pháp kỳ diệu kỳ lạ thứ hai, phát ngôn hào phóng, định về năng lượng, nhiệt tâm, và tâm bi — ý nghĩa của chúng là một, chỉ có diễn đạt khác nhau. Đây là thuốc chữa bệnh cho người có khí chất sân hận.

727. (iii) Ở đây, đối với mười Sợi Chỉ sau đây: con đường thứ ba, niệm xứ thứ ba, thiền thứ ba, trú xứ thứ ba, chánh tinh tấn thứ ba, pháp kỳ diệu kỳ lạ thứ ba, phát ngôn trí hiểu biết, định về [sự thuần tịnh của] tâm, khám phá, và tâm hỷ — ý nghĩa của chúng là một, chỉ có diễn đạt khác nhau. Đây là thuốc chữa bệnh cho người có khí chất tri kiến độn căn.

728. (iv) Ở đây, đối với mười Sợi Chỉ sau đây: con đường thứ tư, niệm xứ thứ tư, thiền thứ tư, trú xứ thứ tư, chánh tinh tấn thứ tư, pháp kỳ diệu kỳ lạ thứ tư, phát ngôn bình an, định về tư duy, sự từ bỏ tất cả thực chất của hữu, và tâm xả — PTS vp En 165 ý nghĩa của chúng là một, chỉ có diễn đạt khác nhau. PTS vp Pli 123 Đây là thuốc chữa bệnh cho người có khí chất tri kiến lợi căn.

729. 1. Ở đây, con đường thú khổ với sự quen biết chậm và con đường thú khổ với sự quen biết nhanh là môn giải thoát vô nguyện; con đường thú lạc với sự quen biết chậm là môn giải thoát không; và con đường thú lạc với sự quen biết nhanh là môn giải thoát vô tướng.

730. 2. Ở đây, niệm xứ là trạng thái của người quán thân-trong-thân và niệm xứ là trạng thái của người quán thọ-trong-thọ là môn giải thoát vô nguyện; niệm xứ là trạng thái của người quán tâm-trong-tâm là môn giải thoát không; và niệm xứ là trạng thái của người quán pháp-trong-pháp là môn giải thoát vô tướng.

731. 3. Ở đây, sơ thiền và nhị thiền là môn giải thoát vô nguyện; tam thiền là môn giải thoát không; và tứ thiền là môn giải thoát vô tướng.

732. 4. Ở đây, trú xứ thứ nhất và trú xứ thứ hai là môn giải thoát vô nguyện; trú xứ thứ ba là môn giải thoát không; và trú xứ thứ tư là môn giải thoát vô tướng.

733. 5. Ở đây, chánh tinh tấn thứ nhất và chánh tinh tấn thứ hai là môn giải thoát vô nguyện; chánh tinh tấn thứ ba là môn giải thoát không; và chánh tinh tấn thứ tư là môn giải thoát thứ tư.

734. 6. Ở đây, sự đoạn trừ mạn và sự tiêu trừ nương tựa là môn giải thoát vô nguyện; sự đoạn trừ vô minh là môn giải thoát không; và sự an tịnh hữu là môn giải thoát vô tướng.

735. 7. Ở đây, phát ngôn chân lý và phát ngôn hào phóng là môn giải thoát vô nguyện; phát ngôn trí hiểu biết là môn giải thoát không; và phát ngôn bình an là môn giải thoát vô tướng.

736. 8. Ở đây, định về ý và định về năng lượng là môn giải thoát vô nguyện; định về tâm là môn giải thoát không; và định về tư duy là môn giải thoát vô tướng.

PTS vp En 166 737. 9. Ở đây, phòng thủ căn và nhiệt tâm là môn giải thoát vô nguyện; khám phá là môn giải thoát không; sự từ bỏ tất cả thực chất của hữu là môn giải thoát vô tướng.

738. 10. PTS vp Pli 124 Ở đây, tâm từ và tâm bi là môn giải thoát vô nguyện; tâm hỷ là môn giải thoát không; và tâm xả là môn giải thoát vô tướng.

[Trò Chơi Sư Tử (Sīhavikīḷita)]

739. Trò chơi của chúng [như sau]:

Có bốn thức ăn: đối lập của chúng là bốn con đường. Có bốn điên đảo: đối lập của chúng là bốn niệm xứ. Có bốn thủ: đối lập của chúng là bốn thiền. Có bốn kiết sử: đối lập của chúng là bốn trú xứ. Có bốn thân kết: đối lập của chúng là bốn chánh tinh tấn. Có bốn lậu hoặc: đối lập của chúng là bốn pháp kỳ diệu kỳ lạ. Có bốn bộc lưu: đối lập của chúng là bốn phát ngôn. Có bốn gai nhọn: đối lập của chúng là bốn cách duy trì định. Có bốn trú xứ của thức: đối lập của chúng là bốn ý niệm đối phó với lạc. Có bốn ác hành: đối lập của chúng là bốn vô lượng tâm.

740. Những Sư Tử là các bậc Giác Ngộ (Sammāsambuddha), các bậc Độc Giác (Paccekabuddha), và những bậc thinh văn đã diệt trừ tham, sân, và si.

Trò chơi của họ [bao gồm] sự duy trì, sự chứng ngộ, và sự kết thúc.

Trò chơi là sự biểu đạt của các căn [bắt đầu từ tín căn,] và trò chơi là sự không-biểu đạt của những điên đảo — bốn [căn] năng lượng, niệm, định, và tuệ là chỗ chăn thả cho đối tượng chân thực của [căn] tín, những điên đảo là chỗ chăn thả cho phiền não. Đây được gọi là Naya Trò-Chơi-Sư-Tử và Naya Phác-Họa-Các-Phương-Hướng. Đó là lý do tại sao đã nói:

PTS vp En 167 "Người khôn ngoan trong Naya đã gọi đó là
Trò Chơi Sư Tử, là điều bằng các căn
Hướng dẫn đến đối tượng chân thực của tín, và cũng
Bằng những điên đảo [hướng dẫn] đến phiền não,"

và cũng:

"Điều gì tâm trí phác họa ra [ý niệm về]Lợi và bất lợi được trình bàyỞ đây hoặc ở kia trong các giải thíchHọ gọi là Sự Phác Họa Các Phương Hướng."

[Tam Giác Và Móc Câu (Tikoṭikopakaraṇa)]

741. Ở đây, những ai tìm được lối thoát qua con đường thú khổ với sự quen biết chậm và [qua con đường] với sự quen biết nhanh là hai [loại] người. Và những ai tìm được lối thoát qua con đường thú lạc với sự quen biết chậm và [qua con đường] với sự quen biết nhanh là hai [loại] người.

742. Ô nhiễm của bốn loại người đó như sau: bốn thức ăn, bốn điên đảo, bốn thủ, bốn kiết sử, bốn thân kết, bốn lậu hoặc, bốn bộc lưu, bốn gai nhọn, bốn trú xứ của thức, và bốn ác hành.

743. PTS vp Pli 125 Thanh lọc của bốn loại người đó như sau: bốn con đường, bốn niệm xứ, bốn thiền, bốn trú xứ, bốn chánh tinh tấn, bốn pháp kỳ diệu kỳ lạ, bốn phát ngôn, bốn cách duy trì định, bốn ý niệm đối phó với lạc, và bốn vô lượng tâm.

744. Ở đây, những ai tìm được lối thoát qua con đường thú khổ với sự quen biết chậm và qua con đường với sự quen biết nhanh là hai loại người, và những ai tìm được lối thoát qua con đường thú lạc với sự quen biết chậm và qua con đường với sự quen biết nhanh là hai loại người.

745. Ở đây, người tìm được lối thoát qua con đường thú lạc với sự quen biết nhanh là người đạt được trí tuệ từ điều cô đọng (nelubahulākā). Người [làm vậy qua cả con đường thú khổ với sự quen biết nhanh PTS vp En 168 và con đường thú lạc với sự quen biết chậm] bình thường là người đạt được trí tuệ từ điều khai triển (vitthārabahulākā). Người tìm được lối thoát qua con đường thú khổ với sự quen biết chậm là người có thể hướng dẫn được (neyya).

746. Ở đây, Đức Thế Tôn chỉ dạy chỉ cho người đạt được trí tuệ từ điều cô đọng, chỉ dạy quán cho người có thể hướng dẫn được, và chỉ dạy chỉ và quán cho người đạt được trí tuệ từ điều khai triển.

747. Ở đây, Đức Thế Tôn chỉ dạy bản trình bày độn về Chánh Pháp cho người đạt được trí tuệ từ điều cô đọng, bản trình bày bén cho người có thể hướng dẫn được, và bản trình bày từ độn đến bén cho người đạt được trí tuệ từ điều khai triển.

748. Ở đây, Đức Thế Tôn giảng Chánh Pháp vắn tắt cho người đạt được trí tuệ từ điều cô đọng, vừa vắn tắt vừa chi tiết cho người đạt được trí tuệ từ điều khai triển, và chi tiết cho người có thể hướng dẫn được.

749. Ở đây, Đức Thế Tôn chỉ dạy sự thoát ly (nissaraṇa) cho người đạt được trí tuệ từ điều cô đọng, sự thất vọng và sự thoát ly cho người đạt được trí tuệ từ điều khai triển, và sự thỏa mãn, sự thất vọng và sự thoát ly cho người có thể hướng dẫn được.

750. Ở đây, Đức Thế Tôn mô tả học giới về thắng tuệ cho người đạt được trí tuệ từ điều cô đọng, học giới về thắng định cho người đạt được trí tuệ từ điều khai triển, và học giới về thắng giới cho người có thể hướng dẫn được.

751. Ở đây, [để nhắc lại,] những ai tìm được lối thoát qua con đường thú khổ với sự quen biết chậm và qua con đường với sự quen biết nhanh là hai loại người. Và những ai tìm được lối thoát qua con đường thú lạc với sự quen biết chậm và qua con đường với sự quen biết nhanh là hai loại người.

752. [Nhưng dù] bốn theo cách này, họ [vẫn chỉ] là ba, tức là người đạt được trí tuệ từ điều cô đọng, người đạt được trí tuệ từ điều khai triển, và người có thể hướng dẫn được.

753. Ô nhiễm của ba loại người này như sau:

1. Ba căn bất thiện: tham là căn bất thiện, sân là căn bất thiện, si là căn bất thiện. PTS vp Pli 126
2. PTS vp En 169 Ba loại tà hành: tà hành về thân, tà hành về ngữ, tà hành về ý.
3. Ba loại tư duy bất thiện: tư duy về dục, tư duy về sân, tư duy về não hại.
4. Ba loại tri giác bất thiện: tri giác về dục, tri giác về sân, tri giác về não hại.
5. Ba loại tri giác điên đảo: tri giác về thường, tri giác về lạc, tri giác về ngã.
6. Ba loại thọ: thọ vui, thọ khổ, thọ không khổ không vui.
7. Ba loại khổ: khổ trong đau, khổ trong sự đổi thay, khổ trong hành.
8. Ba ngọn lửa: lửa tham, lửa sân, lửa si.
9. Ba gai nhọn: gai nhọn tham, gai nhọn sân, gai nhọn si.
10. Ba sợi dây rối: sợi dây rối tham, sợi dây rối sân, sợi dây rối si.
11. Ba loại xem xét bất thiện: hành vi thân bất thiện, hành vi ngữ bất thiện, hành vi ý bất thiện.
12. Ba thất bại: thất bại về giới, thất bại về kiến, thất bại về hạnh.

754. Thanh lọc của ba loại người này như sau:

1. Ba căn thiện: vô tham là căn thiện, vô sân là căn thiện, vô si là căn thiện.
2. Ba loại thiện hành: thiện hành về thân, thiện hành về ngữ, thiện hành về ý.
3. Ba loại tư duy thiện: tư duy về xuất ly, tư duy về không sân, tư duy về không não hại.
4. Ba loại định: định có tầm có tứ, định không tầm chỉ có tứ, định không tầm không tứ.
5. Ba loại tri giác thiện: tri giác về xuất ly, tri giác về không sân, tri giác về không não hại.
6. Ba loại tri giác không điên đảo: tri giác về vô thường, tri giác về khổ, tri giác về vô ngã.
7. Ba loại xem xét thiện: hành vi thân thiện, hành vi ngữ thiện, hành vi ý thiện.
8. PTS vp En 170 Ba sự trong sạch: trong sạch về thân, trong sạch về ngữ, trong sạch về ý.
9. Ba thành công: thành công về giới, thành công về định, thành công về tuệ.
10. Ba học giới: học giới về thắng giới, học giới về thắng định, học giới về thắng tuệ.
11. Ba nhóm: nhóm giới, nhóm định, nhóm tuệ.
12. Ba môn giải thoát: môn giải thoát không, môn giải thoát vô tướng, môn giải thoát vô nguyện.

755. [Bây giờ dù] bốn theo cách này [vẫn chỉ] là ba, là ba [vẫn chỉ] là hai, tức là người có khí chất ái dục và người có khí chất tri kiến.

756. Ô nhiễm của hai loại người này như sau:

  • Ái và vô minh,
  • Vô tàm và vô quý, PTS vp Pli 127
  • Thất niệm và vô ý thức,
  • [Vô lý và] tác ý không hợp lý (ayonisomanasikāra),
  • Giải đãi và khó giáo huấn,
  • Ngã tạo tác và ngã sở hữu tạo tác (ahaṃkāra và mamaṃkāra),
  • Bất tín và phóng dật,
  • Không lắng nghe đối tượng chân thực của tín, và không phòng thủ,
  • Tham lam và sân hận,
  • Triền cái và kiết sử,
  • Phẫn nộ và thù hận,
  • Khinh thường và thống trị,
  • Ganh tị và bủn xỉn,
  • PTS vp En 171 Lừa đảo và gian dối,
  • Thường hằng kiến và hư vô kiến.

757. Thanh lọc của hai loại người này như sau:

  • Chỉ và quán,
  • Tàm và quý,
  • Niệm và ý thức,
  • [Lý và] tác ý hợp lý (yonisomanasikāra),
  • Sự khơi dậy năng lượng và dễ giáo huấn,
  • Tri thức về Chánh Pháp và tri thức về suy luận,
  • Tri thức về kiệt tận và tri thức về không phát sinh,
  • Tín và cần mẫn,
  • Lắng nghe đối tượng chân thực của tín và phòng thủ,
  • Không tham lam và không sân hận,
  • Tâm giải thoát do sự ly tham và tuệ giải thoát do sự diệt vô minh,
  • Thiểu dục và tri túc,
  • Không phẫn nộ và không thù hận,
  • Không khinh thường và không thống trị,
  • Sự đoạn trừ ganh tị và sự đoạn trừ bủn xỉn,
  • Trí tuệ và giải thoát,
  • Loại giải thoát với đối tượng được xác định và loại giải thoát với đối tượng không xác định,
  • Hữu dư Niết-bàn giới và vô dư Niết-bàn giới.

758. Đây được gọi là bình diện của Naya Tam Giác và Naya Móc Câu.

Đó là lý do tại sao đã nói:

"Hướng dẫn [các ý niệm về] lợi vàBất lợi bằng [ba] căn của chúngNhư thực, không phi thực,Naya đó họ gọi là Tam Giác,"

[và PTS vp En 172 cũng:]

"Sau khi [như vậy] phác họa với Sự Phác HọaCác Phương Hướng, điều gì sau đó đưa raTất cả [ý niệm về] lợi và bất lợiVà hướng dẫn chúng vào trong được gọi là Móc Câu."

---

Sự Đúc Kết Các Naya kết thúc.

---

Dịch từ tiếng Pāḷi bởi Tỳ-kheo Ñāṇamoli, 1977.

Xuất bản bởi The Pali Text Society, Oxford.

Phiên bản điện tử này được xuất bản theo các điều khoản của Creative Commons Attribution Non-Commercial 4.0 licence (CC BY-NC 4.0).

Mọi bản quyền thuộc về Pali Text Society. Xem thêm tuyên bố tại http://www.palitext.com/ → Publications → Copyright Announcement.

Chỉ dành cho mục đích phi thương mại.

Phiên bản này chưa được đọc soát lỗi.

Chuẩn bị bằng LaTeX bởi Manfred Wierich, chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Đại đức Vimala.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến