Ne 17Phân đoạn Phản Minh Chứng (tiếp theo) — Nettippakaraṇa, Phần 14
Tên Pāli / Sanskrit:Adhiṭṭhānahāravibhaṅga
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
Phân đoạn Phản Minh Chứng (tiếp theo) — Adhiṭṭhānahāravibhaṅga
– Nettippakaraṇa (Luận Thư Hướng Dẫn)
– B. Phần Minh Xác (Specification Section)
3. Phân đoạn Phản Minh Chứng (tiếp theo)
14. Chuỗi Chín Yếu Tố trong Hình Thức Phương Thức Truyền Tải Thuật Ngữ Biểu Đạt
422. Ở đây, Phương Thức Truyền Tải Thuật Ngữ Biểu Đạt (Mode of Conveying Terms of Expression) là gì? [Đó là điều này:]
423. Những [ý niệm] đó cần được ghi nhớ theo như chúng được minh chứng ở nơi chúng xuất hiện [trong các văn cảnh tương ứng như sau].
424. "Khổ" là một đơn nhất.
Ở đây, Khổ (Dukkha) là gì? (Sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, kết hợp với điều đáng ghét là khổ, xa cách điều đáng yêu là khổ, không được điều mình mong muốn là khổ, tóm lại năm uẩn thủ là khổ): sắc là khổ, thọ là khổ, tưởng là khổ, hành là khổ, thức là khổ.
Đây là tính đa dạng.
425. "Nguồn gốc của Khổ" là một đơn nhất.
Ở đây, Nguồn gốc của Khổ là gì? (Chính là ái (taṇhā) đó, cái tái tạo sự hiện hữu (existence), đi kèm với hỷ ái và tham lam, hỷ ái điều này điều kia, tức là: dục ái (kāmataṇhā), hữu ái (bhavataṇhā), phi hữu ái (vibhavataṇhā)). Đây là tính đa dạng.
— PTS vp En 104 — 426. "Đoạn diệt của Khổ" là một đơn nhất.
Ở đây, Đoạn diệt của Khổ là gì? (Đó là sự ly tham hoàn toàn không còn dư lại của chính ái đó, sự chấm dứt của nó, từ bỏ nó, buông xả nó, thả nó, không nương tựa vào nó, và bác bỏ nó). Đây là tính đa dạng.
427. "Con đường dẫn đến đoạn diệt của Khổ" là một đơn nhất.
— PTS vp Pli 73 — Ở đây, Con đường dẫn đến đoạn diệt của Khổ là gì? (Đó là Thánh Đạo Tám Nhánh, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mệnh, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định). Đây là tính đa dạng.
428. "Đạo" là một đơn nhất.
Ở đây, Đạo là gì? Đó là đạo dẫn đến địa ngục, đạo dẫn đến bào thai súc sinh, đạo dẫn đến cõi ngạ quỷ, đạo dẫn đến bào thai a-tu-la (Asura), đạo dẫn đến thiên giới, đạo dẫn đến cõi người, đạo dẫn đến Niết-bàn. Đây là tính đa dạng.
429. "Đoạn diệt" là một đơn nhất.
Ở đây, Đoạn diệt là gì? Đó là đoạn diệt có chủ tâm, đoạn diệt không có chủ tâm; đoạn diệt tán đồng, đoạn diệt kháng cự; đoạn diệt ngã mạn, đoạn diệt khinh thường, đoạn diệt thống trị, đoạn diệt tị hiềm, đoạn diệt tham lam, đoạn diệt tất cả các phiền não. Đây là tính đa dạng.
430. "Sắc" là một đơn nhất.
Ở đây, Sắc là gì? Sắc là bốn đại chủng (tứ đại), và bất kỳ mô tả nào về sắc được giả định dựa trên bốn đại chủng.
431. Ở đây, bốn đại chủng là gì? Đó là địa đại (paṭhavīdhātu), thủy đại (āpodhātu), hỏa đại (tejodhātu), phong đại (vāyodhātu). Những đại chủng này có thể được gồm thâu trong hai cách thức, tức là tóm lược [như trên] và chi tiết.
432. Làm thế nào người ta gồm thâu các đại chủng một cách chi tiết? Người ta gồm thâu địa đại chi tiết trong hai mươi cách thức, gồm thâu thủy đại chi tiết trong mười hai cách thức, gồm thâu hỏa đại chi tiết trong bốn cách thức, và gồm thâu phong đại chi tiết trong sáu cách thức.
433. Trong hai mươi cách thức nào người ta gồm thâu địa đại chi tiết? — PTS vp Pli 74 — Trong thân này có: tóc đầu, lông thân, móng tay, răng, da; thịt, gân, xương, tủy xương, thận; tim, gan, cơ hoành, lách, phổi; ruột, ruột non, cặn bã, phân và não trong đầu. Người ta gồm thâu địa đại chi tiết trong hai mươi cách thức này.
434. Trong mười hai cách thức nào người ta gồm thâu thủy đại chi tiết? Trong thân này có: mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ; nước mắt, dầu nhờn, nước bọt, nước mũi, dịch khớp và nước tiểu. Người ta gồm thâu thủy đại chi tiết trong mười hai cách thức này.
435. Trong bốn cách thức nào người ta gồm thâu hỏa đại chi tiết? Đó là cái mà nhờ đó người ta được sưởi ấm, nhờ đó người ta già đi, nhờ đó người ta bị đốt nóng, và nhờ đó thức ăn, đồ uống, nhai nhằm, và nếm được tiêu hóa hoàn toàn. Người ta gồm thâu hỏa đại chi tiết trong bốn cách thức này.
436. Trong sáu cách thức nào người ta gồm thâu phong đại chi tiết? Đó là những lực đi lên, những lực đi xuống, những lực trong bụng trên, những lực trong bụng dưới, những lực lưu thông qua các chi, và hơi thở vào và hơi thở ra. Đó là cách người ta gồm thâu phong đại chi tiết trong sáu cách thức.
437. Người mà như vậy chi tiết miêu tả lại, ước tính, thấu hiểu, truy vấn và xem xét các đại chủng về cá thể-tính trong bốn mươi hai cách thức này sẽ không thấy bất cứ điều gì đáng chấp thủ cả, dù là thân xác hay bộ phận thân xác. Cũng như người điều tra một hầm phân sẽ không thấy bất cứ điều gì đáng chấp thủ, cũng như người điều tra một nhà xí sẽ không thấy bất cứ điều gì đáng chấp thủ, — PTS vp Pli 75 — cũng vậy người mà như vậy chi tiết miêu tả lại, ước tính, thấu hiểu, truy vấn và xem xét các đại chủng về — PTS vp En 106 — cá thể-tính trong bốn mươi hai cách thức này sẽ không thấy bất cứ điều gì đáng chấp thủ, dù là thân xác hay bộ phận thân xác.
438. Đó là lý do tại sao Đức Phước Lành nói: (*Giờ đây cả địa đại trong bản thân và địa đại bên ngoài nên được thấy, với sự hiểu biết đúng đắn về cách chúng là, như sau: "Tôi không phải điều này, điều này không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải là tự ngã của tôi." Khi nhìn thấy nó như vậy, với sự hiểu biết đúng đắn về cách nó là, người đó tìm thấy sự vô dục đối với địa đại, và lòng tham đối với địa đại phai nhạt khỏi tâm.
Giờ đây cả thủy đại trong bản thân và thủy đại bên ngoài... cả hỏa đại trong bản thân và hỏa đại bên ngoài... cả phong đại trong bản thân và phong đại bên ngoài nên được thấy, với sự hiểu biết đúng đắn về cách chúng là, như sau: "Tôi không phải điều này, điều này không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải là tự ngã của tôi." Khi nhìn thấy nó như vậy, với sự hiểu biết đúng đắn về cách nó là, người đó tìm thấy sự vô dục đối với phong đại, và lòng tham đối với phong đại phai nhạt khỏi tâm*).
Đây là tính đa dạng.
439. "Vô minh" là một đơn nhất.
Ở đây, Vô minh (Avijjā) là gì? Đó là không biết về Khổ, không biết về nguồn gốc của Khổ, không biết về đoạn diệt của Khổ, và không biết về con đường dẫn đến đoạn diệt của Khổ; không biết về quá khứ, không biết về tương lai, không biết về quá khứ và tương lai; không biết về tính duyên khởi đặc thù và các ý niệm duyên sinh; đó là bất kỳ sự không biết nào như vậy, không nhìn thấy, không hiện thực hóa, thất bại không được người khác khai sáng, thất bại tự khai sáng, không thấu triệt, thất bại miêu tả, thất bại miêu tả lại, thất bại phản miêu tả, — PTS vp Pli 76 — coi thường, thiếu kinh nghiệm, thiếu trí tuệ, ngu xuẩn, mê muội, ảo tưởng, lú lẫn, vô minh, dòng lũ vô minh, xiềng xích vô minh, xu hướng tiềm ẩn đến vô minh, ám ảnh bởi vô minh, khóa của vô minh, si mê như căn bất thiện.
Đây là tính đa dạng.
440. "Minh" là một đơn nhất.
Ở đây, Minh (Vijjā) là gì? Đó là tri thức về Khổ, tri thức về nguồn gốc của Khổ, tri thức về đoạn diệt của Khổ, tri thức về con đường dẫn đến đoạn diệt của Khổ; tri thức về quá khứ, tri thức về tương lai, tri thức về quá khứ và tương lai; tri thức về tính duyên khởi đặc thù và các ý niệm duyên sinh;
(đó là bất kỳ sự hiểu — PTS vp En 107 — biết nào như vậy, hành động hiểu biết, điều tra, tái điều tra, điều tra các ý niệm, miêu tả, miêu tả lại, phản miêu tả, trí tuệ, kỹ năng, khéo léo, làm sáng tỏ, tư duy, xem xét kỹ, chiều rộng, lanh trí, hướng dẫn, tuệ quán, nhận thức, cây thúc ngựa, tuệ quyền, tuệ lực, trí tuệ như vũ khí, trí tuệ [nhiều tầng như] lâu đài, ánh sáng trí tuệ, sự chiếu sáng trí tuệ, sự rạng rỡ trí tuệ, sự minh triết trí tuệ, châu báu trí tuệ, không si mê, điều tra các ý niệm, chánh kiến, yếu tố giác ngộ điều tra các ý niệm, yếu tố đạo nằm trong đạo).
Đây là tính đa dạng.
441. "Chứng đắc" là một đơn nhất.
Ở đây, Chứng đắc là gì? Có chứng đắc có tri giác, chứng đắc không có tri giác, chứng đắc phi tri giác phi phi tri giác, chứng đắc tri giác vô ngã, chứng đắc đoạn diệt. Đây là tính đa dạng.
442. "Hành giả thiền định" là một đơn nhất.
Ở đây, Hành giả thiền định là gì? Có hành giả thiền định Nhập Lưu (Sơ Quả), có hành giả thiền định Bậc Thánh, có hành giả thiền định không phải Nhập Lưu cũng không phải Bậc Thánh, có hành giả thiền định "ngựa thuần chủng," có hành giả thiền định "ngựa non," có hành giả thiền định bị chi phối bởi tri kiến, có hành giả thiền định bị chi phối bởi ái, có hành giả thiền định bị chi phối bởi tuệ. — PTS vp Pli 77 — Đây là tính đa dạng.
443. "Định" là một đơn nhất.
Ở đây, Định (Samādhi) là gì? Có định với xung đột, định không có xung đột; định có nguy hiểm, định không có nguy hiểm; định với sân hận, định với không sân hận; định với hỷ [tức hai thiền đầu], định thoát khỏi hỷ [tức hai thiền sau]; định vật chất, định phi vật chất; định với các hành nhắc nhở, — PTS vp En 108 — định không có các hành nhắc nhở; định được duy trì đơn phương, định được duy trì song phương, định mà sự duy trì được cả hai chiều giữ gìn; định có tầm và tứ, định không có tầm chỉ có tứ đơn thuần, định không có tầm không có tứ; định đối trị với trạng thái thấp kém, định đối trị với sự ổn định, định đối trị với sự xuất sắc, định đối trị với sự thấu triệt; định thuộc về các cõi, định tách rời khỏi các cõi; tà định, chánh định. Đây là tính đa dạng.
444. "Đạo" (trong nghĩa con đường thực hành) là một đơn nhất.
Ở đây, Đạo là gì? Có đạo xa hoa, đạo khổ hạnh, đạo trung đạo; đạo của người thiếu kiên nhẫn, đạo của người kiên nhẫn; đạo an tịnh, đạo điều phục; đạo đau khổ với sự chứng tri chậm chạp, đạo đau khổ với sự chứng tri nhanh chóng, đạo an lạc với sự chứng tri chậm chạp, đạo an lạc với sự chứng tri nhanh chóng. Đây là tính đa dạng.
445. "Thân" là một đơn nhất.
Ở đây, Thân là gì? Có danh thân (nāmakāya) và sắc thân (rūpakāya). Ở đây, Sắc thân là gì? Đó là tóc đầu, lông thân, móng tay, răng, da; thịt, gân, xương, tủy xương, thận; tim, gan, cơ hoành, lách, phổi; ruột, ruột non, cặn bã, phân; mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ; nước mắt, dầu nhờn, nước bọt, nước mũi, dịch khớp, nước tiểu và não trong đầu. — PTS vp Pli 78 — Đây là sắc thân. Danh thân gồm có: thọ, tưởng, tư, thức, xúc và tác ý. Đây là danh thân. Đây là tính đa dạng.
446. Theo cách này, trong khi một ý niệm nào đó [ví như "sinh"] có cùng tính chất — PTS vp En 109 — ["tức là Khổ" trong trường hợp này] như ý niệm nào đó [khác có liên quan, ví như "già" trong trường hợp này], ý niệm trước tìm thấy sự đơn nhất với ý niệm sau qua [tính đơn nhất] chung của chúng, nhưng lại có tính đa dạng từ nó do đặc tính phân biệt (cụ thể) của nó.
Vậy khi được hỏi về Tread-type [thuật ngữ bao hàm tất cả các phương thức của Giáo Pháp], hay về văn xuôi giải trình hay về kệ tụng, cuộc truy vấn cần được tiến hành như sau: "Vậy thì, ông ấy hỏi theo tính đơn nhất hay theo tính đa dạng?" Nếu hỏi theo tính đơn nhất, thì nên được trả lời theo tính đơn nhất. Nếu hỏi theo tính đa dạng, thì nên được trả lời theo tính đa dạng. Nếu hỏi được biểu đạt theo ngôn ngữ chúng sinh, câu trả lời cần được biểu đạt theo ngôn ngữ chúng sinh. Nếu hỏi được biểu đạt theo ngôn ngữ ý niệm, câu trả lời cần được biểu đạt theo ngôn ngữ ý niệm. Theo cách nào được hỏi, thì phải được trả lời theo cách đó.
447. Đó là lý do tại sao trưởng lão Mahā-Kaccāna nói:
Phương Thức Truyền Tải Thuật Ngữ Biểu Đạt kết thúc.
---
Dịch từ tiếng Pāḷi bởi Tỳ kheo Ñāṇamoli, 1977.
Xuất bản bởi The Pali Text Society, Oxford.
Phiên bản điện tử này được xuất bản theo các điều khoản của Giấy phép Creative Commons Attribution Non-Commercial 4.0 (CC BY-NC 4.0).
Mọi bản quyền thuộc về Pali Text Society. Xem thêm tuyên bố tại http://www.palitext.com/ → Publications → Copyright Announcement.
Chỉ dành cho sử dụng phi thương mại.
Phiên bản này chưa được hiệu đính.
Chuẩn bị bằng LaTeX bởi Manfred Wierich, chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Ven. Vimalā.
Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.
🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.