Ja 94Lomahaṁsajātaka – Chuyện Khổ Hạnh Bằng Lông Ngỗng
Tên Pāli / Sanskrit:Lomahaṁsajātaka
Câu chuyện này được Đức Bổn Sư kể tại Pāṭikārāma gần Vesāli, liên quan đến Sunakkhatta.
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
– Chuyện Tiền Thân Đức Phật
– Quyển 1 Ekanipāta
94. Lomahaṁsajātaka – Chuyện Khổ Hạnh Bằng Lông Ngỗng
"Nay bị thiêu đốt."—Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể lại khi Ngài đang ở Pāṭikarāma gần Vesāli, nhân câu chuyện về Sunakkhatta.
Thời bấy giờ, Sunakkhatta đã quy ngưỡng Đức Thế Tôn, đang du hành khất thực trong y bát như một vị Tỳ-kheo, thì bị lôi kéo vào tà kiến của Kora dòng Sát-đế-lợi. Vì vậy ông ta trả lại bát y cho Đức Phật và hoàn tục, nhân lúc Kora dòng Sát-đế-lợi đã tái sinh làm con của A-tu-la Kalakañjaka. Ông ta đi quanh thành Vesāli trong ba lớp thành lũy, phỉ báng Đức Thế Tôn rằng vị sa-môn Gotama không có gì vượt trên người thường, không khác gì người thường khi thuyết giảng một đức tin cứu độ; rằng vị sa-môn Gotama chỉ xây dựng một hệ thống là thành quả của tư duy và nghiên cứu riêng; và rằng lý tưởng mà giáo pháp của ông ấy nhắm đến không đưa đến sự diệt khổ cho những ai theo đuổi nó.
Bấy giờ Tôn giả Sāriputta đang đi khất thực và nghe được những lời phỉ báng của Sunakkhatta; khi trở về từ vòng khất thực, ngài trình bày điều này lên Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn bảo: "Sunakkhatta là kẻ nóng đầu, này Sāriputta, và nói lời hư vọng. Sự nóng nảy đã khiến ông ta nói như vậy và phủ nhận ân đức cứu độ của giáo pháp Ta.
Người ngu si này không hay biết rằng mình đang ca ngợi Ta; Ta nói không hay biết, vì ông ta không am hiểu năng lực của Ta. PTS vp Pali 390 Này Sāriputta, trong Ta có Sáu Loại Trí, và đây là điều vượt trên người thường; Mười Lực trú trong Ta cùng Bốn Nền Tảng Tự Tin. Ta biết giới hạn của bốn loại hiện hữu thế gian và năm trạng thái tái sinh khả dĩ sau khi chết.
Đây cũng là phẩm tính vượt người thường trong Ta; kẻ nào phủ nhận điều đó phải thu hồi lời nói, đổi thay tín niệm, và từ bỏ tà kiến, nếu không sẽ không chần chừ mà bị đọa vào địa ngục." Sau khi tán thán bản chất và năng lực siêu nhân nơi mình, Đức Thế Tôn tiếp tục: "Sunakkhatta, Ta nghe nói, này Sāriputta, đã từng hoan hỷ với lối tự hành xác sai lầm của tu sĩ Kora dòng Sát-đế-lợi; và đó là lý do ông ta không thể hoan hỷ với Ta.
Chín mươi mốt kiếp trước Ta đã thực hành Phạm hạnh trong đủ bốn hình thức, xem xét thứ khổ hạnh sai lầm đó xem có phải là nơi trú ẩn của chân lý không. Ta đã là một khổ tu sĩ, đứng đầu các khổ tu sĩ; ốm gầy và kiệt sức hơn tất cả mọi người; lòng ghê tởm sự an nhàn cực kỳ, vượt hơn mọi người; Ta sống xa lánh, và niềm đam mê ẩn cư của Ta là vô song." Rồi theo lời thỉnh cầu của Trưởng lão, Ngài kể chuyện đời xưa.
Thuở xưa, chín mươi mốt kiếp về trước, Bồ-tát tự mình kiểm nghiệm thứ khổ hạnh sai lầm. Ngài đã trở thành một ẩn sĩ theo lối các tu sĩ Lõa Thể (Ājīvika)—trần truồng và phủ đầy bụi, đơn độc và cô lẻ, chạy trốn trước mặt người như con nai; thức ăn của Ngài là cá nhỏ, phân bò và các thứ phế thải khác; PTS vp En 230 và để không bị quấy rầy trong khi tọa thiền, Ngài đã cư ngụ trong một khu rừng rậm ghê rợn. Vào những ngày tuyết giá mùa đông, Ngài bước ra đêm khuya từ khu rừng bảo vệ ra ngoài trời, rồi khi mặt trời mọc lại trở vào rừng; khi đêm tuyết phủ thì Ngài ướt sũng, còn ban ngày thì bị mưa dột từ các cành cây trong rừng nhỏ xuống.
Như vậy, cả ngày lẫn đêm Ngài phải chịu đựng cực kỳ giá lạnh. Mùa hè, ban ngày Ngài ở ngoài trời, ban đêm ở trong rừng—ban ngày bị ánh mặt trời thiêu đốt, ban đêm không có làn gió mát, mồ hôi chảy ròng. Và trong tâm Ngài hiện ra bài kệ này, mới mẻ chưa từng được nói trước đó:
PTS vp Pali 391 Nhưng sau một đời trải qua những khổ hạnh khắc nghiệt này, khi Bồ-tát hấp hối, cảnh địa ngục hiện ra trước mắt; Ngài nhận ra sự vô ích của tất cả những khổ hạnh đó, và trong khoảnh khắc tối hậu đó, thoát ra khỏi ảo tưởng, nắm bắt được chân lý thực sự, và được tái sinh lên cõi Thiên.
Kể xong bài giảng, Đức Thế Tôn xác nhận Bản Sinh: "Trong kiếp đó Ta chính là vị ẩn sĩ lõa thể."
Jātaka, hay Chuyện Tiền Thân Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, Nhà xuất bản Cambridge University Press.
- Tập 1, Robert Chalmers dịch, 1895.
- Tập 2, W.H.D. Rouse dịch, 1895.
- Tập 3, H.T. Francis và R.A. Neil dịch, 1897.
- Tập 4, W.H.D. Rouse dịch, 1901.
- Tập 5, H.T. Francis dịch, 1905.
- Tập 6, E.B. Cowell và W.H.D. Rouse dịch, 1907.
Những bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào.
Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1/2006 – tháng 2/2010, bởi John Bruno Hare và các cộng sự. Cảm ơn Sacred Texts Archive đã cung cấp các văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.
Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.
Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.
🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.