Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 514Chaddanta Jātaka (Bổn Sinh về Voi Sáu Ngà)

Tên Pāli / Sanskrit:Chaddantajātaka

📖6,266 từ · ~25 phút đọc
2
Tóm tắt

Câu chuyện này bậc Đạo Sư kể trong khi cư trú tại Jetavana, liên quan đến một vị sa-di ni.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Những Câu Chuyện Về Tiền Thân Của Đức Phật

Quyển 16 Tiṁsanipāta

514. Chaddanta Jātaka

"Mắt to và vô song," v.v.—Đây là câu chuyện Bậc Đạo Sư, trong khi trú tại Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên (Jetavana), kể về một sa-di ni. Tương truyền, một cô gái thuộc gia đình tốt ở Savatthi, nhận ra sự khổ não của đời sống tại gia, đã xuất gia, và một hôm cùng với các chị em khác đến nghe Pháp từ Bồ-tát (Bodhisatta), khi Ngài ngồi thuyết pháp trên một pháp tòa tráng lệ, và quan sát thân hình Ngài được phú bẩm với vẻ đẹp phi thường phát sinh từ oai lực của công đức vô lượng, cô nghĩ rằng: "Tự hỏi phải chăng trong kiếp trước những người ta từng hầu hạ là vợ của người này." Rồi ngay lúc đó, ký ức về những kiếp trước quay trở lại với cô.

"Vào thời của Chaddanta, vị voi, ta trước đây đã là vợ của người này." Và khi nhớ lại, niềm vui và hân hoan lớn lao trào dâng trong tâm cô. Trong sự phấn khích vui mừng, cô bật cười thành tiếng khi nghĩ rằng: "Ít có người vợ nào cư xử tốt với chồng; phần lớn họ cư xử không tốt. Tự hỏi ta đã cư xử tốt hay không tốt với người này." Và gọi lại ký ức, cô nhận ra rằng trong lòng cô đã từng ôm ấp một mối hận nhỏ đối với Chaddanta, đức long vương hùng mạnh của loài voi, con voi đo được một trăm hai mươi hắc tay, và đã sai Sonuttara, một thợ săn, người với một mũi tên tẩm độc đã làm bị thương và giết chết Ngài.

Rồi nỗi đau buồn của cô thức dậy và tâm cô nóng bỏng bên trong, và không thể kiềm chế cảm xúc của mình, cô bật khóc nức nở. Khi thấy điều này, Bậc Đạo Sư mỉm cười, và khi được hội chúng các Tỳ-kheo hỏi: "Thưa ngài, điều gì là nguyên nhân nụ cười của ngài?" Ngài nói: "Này các Tỳ-kheo, người sư đệ trẻ này đã khóc khi nhớ lại một tội lỗi mà cô ta đã từng phạm đối với ta." Và nói như vậy, Ngài kể một câu chuyện trong quá khứ.

PTS vp Pali 37 Ngày xưa tám nghìn voi hoàng tộc, bằng cách vận dụng thần thông bay trên không trung, sống gần hồ Chaddanta ở vùng Himalaya. Vào thời này, Bồ-tát đầu thai làm con trai của con voi đầu đàn. Ngài thuần trắng, với chân và mặt màu đỏ.

Dần dần, khi trưởng thành, Ngài cao tám mươi tám hắc tay, dài một trăm hai mươi hắc tay. Ngài có vòi giống như sợi dây bạc, dài năm mươi tám hắc tay, và ngà dài ba mươi hắc tay, chu vi mười lăm hắc tay, tỏa ra sáu màu. Ngài là thủ lĩnh của một đàn tám nghìn con voi và tôn kính các Bích Chi Phật (pacceka buddhas).

Hai chính cung hoàng hậu của Ngài là Cullasubhadda và Mahasubhadda. Voi vương cùng với đàn gồm tám nghìn con lấy Hang Động Vàng làm trú xứ. Hồ Chaddanta dài năm mươi do-tuần và rộng năm mươi.

Ở giữa hồ, trong một khoảng rộng mười hai do-tuần, không có cây sevala hay panaka nào, và nước trong như một viên ngọc quý kỳ diệu. Kế tiếp, bao quanh vùng nước này, là một rừng sen trắng tinh khiết, rộng một do-tuần. PTS vp En 21 Kế tiếp, bao quanh nó, là một rừng sen xanh thuần khiết, rộng một do-tuần.

Rồi đến sen trắng và đỏ, huệ đỏ và trắng, và huệ ăn được màu trắng, mỗi loại cũng rộng một do-tuần và mỗi loại bao quanh cái trước. Kế tiếp bảy rừng này là một đám hỗn hợp các loại huệ trắng và các loại khác, cũng rộng một do-tuần, và bao quanh tất cả những cái trước. Kế tiếp, trong nước sâu vừa đủ để voi đứng được, là một rừng lúa đỏ.

Kế tiếp, trong vùng nước bao quanh, là một rừng cây nhỏ, đầy ắp những bông hoa tinh tế và thơm ngát màu xanh, vàng, đỏ và trắng. Vậy là mười rừng này, mỗi rừng rộng một do-tuần. Kế tiếp là rừng các loại đậu tương.

Kế tiếp là đám dây leo rau muống, dưa chuột, bí ngô, bầu và các loại leo khác. Rồi là rừng mía đường có kích cỡ như cây cau. Rồi là rừng chuối với quả to như ngà voi.

PTS vp Pali 38 Rồi là một cánh đồng lúa. Rồi là rừng quả bánh mì có kích thước như chiếc bình nước. Tiếp theo là rừng me với quả ngọt ngào.

Rồi là rừng cây táo voi. Rồi là một khu rừng lớn gồm nhiều loại cây khác nhau. Rồi là rừng tre.

Đây là sự hùng vĩ của vùng này vào thời đó—sự hùng vĩ hiện tại của nó được mô tả trong Chú Giải Saṃyutta—nhưng bao quanh rừng tre là bảy ngọn núi. Bắt đầu từ ngoài cùng, đầu tiên là Tiểu Hắc Sơn, tiếp theo là Đại Hắc Sơn, rồi Thủy Sơn, Nguyệt Sơn, Nhật Sơn, Bảo Sơn, rồi ngọn thứ bảy theo thứ tự là Kim Sơn. Ngọn này cao bảy do-tuần, mọc lên xung quanh hồ Chaddanta như vành của một cái bát.

Phía bên trong của nó có màu vàng. Từ ánh sáng tỏa ra từ nó, hồ Chaddanta sáng rực như mặt trời mới mọc. Nhưng trong số các núi bên ngoài, một ngọn cao sáu do-tuần, một ngọn cao năm, một ngọn bốn, một ngọn ba, một ngọn hai, một ngọn một do-tuần.

Nay ở góc đông bắc của hồ, được bao quanh bởi bảy ngọn núi như vậy, ở nơi gió thổi trên mặt nước, mọc lên một cây bồ-đề lớn. Thân cây có chu vi năm do-tuần và cao bảy do-tuần. Bốn nhánh trải rộng sáu do-tuần về bốn hướng, và nhánh mọc thẳng lên trên dài sáu do-tuần.

Vậy từ gốc lên cao là mười ba do-tuần, và từ đầu nhánh theo một chiều đến đầu nhánh theo chiều ngược lại là mười hai do-tuần. Cây có tám nghìn chồi và đứng sừng sững trong toàn bộ vẻ đẹp của nó, giống như ngọn Bảo Sơn trơ trụi. Nhưng ở phía tây hồ Chaddanta, trong Kim Sơn, có một hang động bằng vàng, rộng mười hai do-tuần.

Chaddanta voi vương, với đoàn tùy tùng tám nghìn con voi, vào mùa mưa sống trong hang động vàng; vào mùa nóng, Ngài đứng dưới gốc cây bồ-đề lớn, giữa những chồi cây, đón làn gió từ mặt nước. Nay một hôm người ta nói với Ngài: "Rừng Sal vĩ đại đang nở hoa." Vậy là được đàn của mình theo hầu, Ngài PTS vp En 22 có ý muốn vui chơi trong rừng Sal, PTS vp Pali 39 và đến đó, Ngài dùng trán húc vào một cây Sal đang nở rộ. Lúc đó Cullasubhadda đứng ở phía đầu gió, và những cành khô lẫn lá chết và kiến đỏ rơi xuống người bà.

Nhưng Mahasubhadda đứng ở phía cuối gió, và những bông hoa cùng phấn hoa, cành và lá xanh rơi xuống người bà. Cullasubhadda nghĩ: "Với người vợ ngài yêu quý, Ngài để rơi xuống những bông hoa và phấn hoa và những cành xanh tươi và lá, nhưng xuống người ta Ngài lại để rơi hỗn hợp cành khô, lá chết và kiến đỏ. Thôi được, ta sẽ biết phải làm gì!" Và bà ôm ấp một mối thù đối với Đại Sĩ (Great Being).

Một ngày khác voi vương và đàn của Ngài đi xuống hồ Chaddanta để tắm. Lúc đó hai con voi trẻ cầm bó rễ cỏ usira trong vòi và tắm cho Ngài, xoa bóp như thể đó là núi Kelasa. Và khi Ngài ra khỏi nước, chúng tắm cho hai hoàng hậu, và hai bà cũng ra khỏi nước và đứng trước Đại Sĩ.

Rồi tám nghìn con voi bước vào hồ và, vui đùa trong nước, hái những bông hoa khác nhau từ hồ, và trang trí Đại Sĩ như thể Ngài là một đền thờ bằng bạc, rồi sau đó trang trí cho các hoàng hậu. Lúc đó một con voi, khi bơi quanh hồ, hái một bông sen lớn có bảy chồi và dâng lên Đại Sĩ. Và Ngài, cầm lấy bằng vòi, rắc phấn hoa lên trán mình và tặng bông hoa cho vị tượng vương đầu đàn, Mahasubhadda.

Khi thấy điều này, người đối thủ của bà nói: "Bông sen bảy chồi này cũng được trao cho người vợ được yêu chuộng của Ngài chứ không phải cho ta," và bà lại ôm ấp mối thù đối với Ngài. Nay một hôm khi Bồ-tát đã chuẩn bị những quả ngon và cuống sen và sợi sen với nhụy hoa, và đang cúng dường năm trăm vị Bích Chi Phật, Cullasubhadda dâng những quả rừng bà kiếm được cho các vị Bích Chi Phật, và bà thực hiện lời nguyện như sau: "Sau này, khi ta qua đời từ đây, mong ta được tái sinh làm công chúa Subhadda trong dòng họ vua Madda, và khi trưởng thành mong ta đạt đến địa vị chính cung hoàng hậu của vua xứ Ba-la-nại.

Lúc đó ta sẽ được ngài yêu quý và ưng ý, ở vị thế làm những gì ta muốn. Vậy là ta sẽ nói với vua và sai một thợ săn với mũi tên tẩm độc đến làm bị thương và giết chết con voi này. PTS vp Pali 40 Và như vậy ta sẽ có thể đưa về cho ta một đôi ngà của Ngài tỏa sáu màu." Từ đó trở đi bà không ăn uống và vì héo mòn, chẳng bao lâu sau bà qua đời, và tái sinh làm con của chính cung hoàng hậu trong vương quốc Madda, và được đặt tên là Subhadda.

Khi đủ tuổi thích hợp, người ta gả bà cho vua xứ Ba-la-nại. Và bà được ngài yêu quý và ưng ý, đứng đầu trong số mười sáu nghìn người vợ. Và bà nhớ lại những kiếp trước của mình và nghĩ: "Lời nguyện của ta đã được thực hiện; bây giờ ta sẽ đưa ngà của con voi đó về." Rồi bà xức dầu thô lên người, khoác áo dơ bẩn và nằm trên giường giả vờ PTS vp En 23 bệnh.

Nhà vua hỏi: "Subhadda đâu rồi?" Và khi nghe bà đang ốm, ngài vào nội cung ngự tọa trên giường xoa lưng bà và đọc kệ ngôn đầu tiên:

Mắt to và vô song, nữ hoàng của trẫm ơi, hỡi người tái nhợt vì sầu khổ,

Như vòng hoa bị dẫm nát dưới chân, tại sao nàng héo tàn?

Nghe điều này bà đọc kệ ngôn thứ hai:

Như thể trong một giấc mơ, thần thiếp đã có một khát khao cháy bỏng;

Ước muốn của thiếp thật vô vọng để đạt được ân huệ này, và đó là lý do thiếp buồn.

Nhà vua, nghe điều này, đọc một kệ ngôn:

Mọi niềm vui mà trong thế giới hạnh phúc này một người phàm có thể khao khát,

Bất cứ điều gì họ muốn đều thuộc thẩm quyền của trẫm để ban tặng, vậy hãy nói với trẫm điều nàng mong ước.

Nghe điều này hoàng hậu nói: "Tâu đại vương, ước muốn của thiếp khó đạt được; thiếp sẽ không nói ngay bây giờ, nhưng thiếp muốn tập hợp tất cả các thợ săn trong vương quốc của ngài. PTS vp Pali 41 Rồi thiếp sẽ nói ra trước mặt họ." Và để giải thích ý bà, bà đọc kệ ngôn tiếp theo:

Hãy gọi tập tất cả những người thợ săn theo lệnh ngài, những ai sinh sống trong vương quốc này,

Và điều thiếp mong muốn được ưu ái từ họ, thiếp sẽ nói ra trước mặt họ.

Nhà vua đồng ý, và bước ra khỏi buồng ngự, ngài ra lệnh cho các đại thần rằng: "Hãy truyền hịch bằng dùi trống rằng tất cả những thợ săn trong vương quốc Kasi, rộng ba trăm do-tuần, đều phải tụ tập lại." Họ làm vậy, và chẳng bao lâu những thợ săn sống trong vương quốc Kasi, mang theo một món quà tùy theo khả năng của họ, đã trình tâu với nhà vua về việc họ đến. Tổng cộng họ khoảng sáu mươi nghìn người. Và nhà vua, nghe tin họ đã đến, đứng tại một cửa sổ mở và giơ tay ra, báo cho hoàng hậu biết về sự hiện diện của họ và nói:

Vậy thì hãy xem những thợ săn dũng cảm của ta, được rèn luyện thành thạo trong nghề săn bắt,

Họ có kỹ năng giết thú hoang, và tất cả đều sẵn sàng chết vì ta.

Hoàng hậu, nghe điều này, nói chuyện với họ và đọc một kệ ngôn khác:

Hỡi những thợ săn dũng cảm, tụ tập ở đây,

Hãy lắng nghe lời của ta, ta cầu xin;

Trong mơ, thiếp thấy một con voi,

Sáu ngà và thuần trắng không tì vết:

Thiếp ao ước ngà của nó và muốn có được chúng;

Không có gì khác có thể cứu sống này.

Những thợ săn, nghe điều này, đáp lại:

Cha ông ta xưa kia chưa bao giờ

Nhìn thấy một con voi sáu ngà:

PTS vp Pali 42 Hãy cho chúng tôi biết sinh vật đó là loại gì

Mà đã hiện ra trong giấc mơ của nàng. PTS vp En 24

Sau đó còn có một kệ ngôn nữa được họ đọc:

Bốn hướng: Bắc, Nam, Đông, Tây, người ta thấy,

Bốn hướng trung gian thêm vào những hướng này,

Nadir và thiên đỉnh thêm vào, và rồi

Hãy nói ở hướng nào trong mười hướng đó

Con voi hoàng tộc này có thể ở,

Mà trong mơ đã hiện ra với nàng.

Sau những lời này Subhadda, nhìn khắp các thợ săn, nhận ra trong số họ một người bàn chân to, bắp chân phồng như cái túi khất thực, đầu gối và sườn to lớn, râu rậm, răng vàng, mặt đầy sẹo, nổi bật trong số tất cả họ như một gã xấu xí, thô kệch, tên Sonuttara, người đã từng là kẻ thù của Đại Sĩ. Và bà nghĩ: "Người này sẽ có thể làm theo lệnh ta," và với sự cho phép của nhà vua bà dẫn người đó đi theo, leo lên tầng cao nhất của cung điện bảy tầng, bà mở một cửa sổ về phía Bắc, và giơ tay về phía dãy Himalaya ở phương Bắc, bà đọc bốn kệ ngôn:

Thẳng về phía Bắc, qua bảy ngọn núi vĩ đại,

Người ta đến Vách Đá Vàng sau cùng,

Một nơi cao do các hình Dạ-xoa (Goblin) chiếm giữ

Và rực rỡ với hoa từ chân đến đỉnh.

Dưới đỉnh Dạ-xoa này người ta thấy

Một khối màu xanh đen đậm hình đám mây,

PTS vp Pali 43 Một cây bồ-đề hoàng tộc có rễ

Cho sức mạnh cho tám nghìn chồi.

Ở đó sống bất khả chiến bại trong sức mạnh

Con voi sáu ngà và thuần trắng này,

Với đàn tám nghìn con hùng mạnh chiến đấu.

Ngà của chúng như những cột xe chiến mã:

Nhanh như gió chúng bảo vệ và tấn công.

Hổn hển và dữ dội chúng đứng nhìn chằm chặp,

Bị khiêu khích bởi hơi thở nhẹ nhất của không khí,

Nếu chúng thấy một kẻ sinh ra từ con người,

Cơn thịnh nộ của chúng sẽ thiêu rụi kẻ đó hoàn toàn.

Sonuttara nghe điều này thì sợ hãi đến chết và nói:

Ngọc lưu ly hay ngọc trai óng ánh,

Cùng với nhiều đồ trang sức bằng vàng, thưa hoàng hậu,

Có thể thấy trong các nhà hoàng tộc.

PTS vp Pali 44 Ngọc ngà thì ngài cần dùng làm gì,

Hay ngài muốn giết những thợ săn trung thành này?

Rồi hoàng hậu đọc một kệ ngôn:

Bị thiêu đốt bởi đau khổ và tức giận,

Khi ta nhớ lại vết thương của mình.

Hãy ban cho ta, thưa người thợ săn, điều ta cầu,

Và ngươi sẽ có năm làng được chọn lọc.

Và kèm theo đó bà nói: "Này người thợ săn, khi ta tặng quà cho các vị Bích Chi Phật, ta đã phát nguyện để ta có quyền lực giết con voi sáu ngà này và chiếm hữu một đôi ngà của nó. PTS vp En 25 Đây không chỉ đơn thuần là ta thấy trong một tầm nhìn, mà lời nguyện ta đã thực hiện sẽ được thành tựu. Ngươi hãy đi và đừng sợ." Và nói như vậy bà trấn an ông ta. Và ông đồng ý với lời bà và nói: "Vâng, thưa bà; nhưng trước tiên hãy nói rõ cho tôi biết và cho tôi biết trú xứ của Ngài ở đâu," và hỏi han bà, ông đọc kệ ngôn này:

Ngài sống ở đâu? Ngài có thể được tìm thấy ở đâu?

Con đường nào là con đường của Ngài khi đi tắm?

Con vật hoàng tộc này bơi ở đâu?

Hãy cho chúng tôi biết cách bắt được Ngài.

PTS vp Pali 45 Rồi bằng cách nhớ lại kiếp trước của mình, bà nhìn thấy rõ ràng nơi đó và nói cho ông biết trong hai kệ ngôn này:

Bãi tắm của Ngài không xa,

Đó là một ao sâu và tốt lành:

Ở đó ong bay rù rì và hoa đầy ắp,

Và ở đó con vật hoàng tộc này xuất hiện.

Nay được đội sen, vừa tắm xong

Ngài vui mừng tiến về con đường trở về nhà,

Khi Ngài màu trắng như huệ và cao lớn bước đi

Theo sau người vợ mà Ngài yêu quý.

Sonuttara nghe điều này đồng ý và nói: "Thưa bà, tôi sẽ giết con voi và mang ngà về cho bà." Rồi trong niềm vui của mình, bà tặng cho ông nghìn đồng tiền và nói: "Hãy về nhà trong thời gian này, và sau bảy ngày ngươi sẽ lên đường đến đó," và cho ông trở về, bà triệu tập các thợ rèn và ra lệnh, nói: "Thưa các ông, chúng ta cần một cái rìu, một cái xẻng, một cái mũi khoan, một cái búa, một dụng cụ để cắt tre, một cái cắt cỏ, một cái gậy sắt, một cái cọc, một cái nĩa ba ngạnh bằng sắt; hãy làm chúng thật nhanh và mang đến cho chúng ta." Và sai người thợ da đến, bà dặn bảo họ rằng: "Thưa các ông, các ông phải làm cho ta một cái túi da, đựng được trọng lượng của một hogshead;

ta cần dây da và quai đeo, giày đủ lớn cho voi đi, và một cái dù da: hãy làm chúng thật nhanh và mang đến cho ta." Và cả thợ rèn lẫn thợ da đều nhanh chóng làm mọi thứ PTS vp Pali 46 và mang đến dâng cho bà.

Sau khi cung cấp tất cả mọi thứ cần thiết cho chuyến đi, cùng với củi đốt và những thứ tương tự, bà đặt tất cả các dụng cụ và nhu yếu phẩm cho chuyến đi, như bột bánh rang và những thứ khác, vào túi da. Tất cả đồ đạc nặng khoảng một hogshead. Và Sonuttara, sau khi hoàn tất việc chuẩn bị của mình, đến vào ngày thứ bảy và đứng cung kính trước mặt hoàng hậu.

Rồi bà nói: "Này người thợ săn, tất cả dụng cụ cho chuyến đi của ngươi đã xong rồi: vậy hãy lấy cái túi này." Và ông ta là một gã lực sĩ, khoẻ như năm con voi, vớ lấy cái túi như thể đó chỉ là một túi bánh, và đặt lên hông, đứng như thể hai tay không. Cullasubhadda giao các phần ăn cho những người tùy tùng của thợ săn và, sau khi báo với nhà vua, cho Sonuttara ra đi. Và ông ta, sau khi đảnh lễ nhà vua và hoàng hậu, bước xuống khỏi cung điện và, đặt đồ đạc vào xe ngựa, lên đường PTS vp En 26 từ thành phố với đoàn tùy tùng lớn, và đi qua nhiều làng mạc và thôn xóm liên tiếp đến biên giới.

Rồi ông trả những người từ trong nước về và tiếp tục với những người sống ở biên giới cho đến khi vào rừng, và đi vượt qua nơi sinh sống của con người, ông cũng cho những người biên giới trở về, và tiến đi hoàn toàn một mình trên một con đường dài ba mươi do-tuần, đi qua đám cỏ kuca và các loại cỏ khác mọc dày, những bụi cây húng quế, sậy và cây gai, những đám cây gai dày và lau sậy, những đám hỗn hợp, rừng sậy và lau, rừng cây rậm rạp không cả rắn chui qua được, những đám cây và tre, những vùng bùn và nước, những vùng núi non, mười tám khu vực tất cả, từng cái một.

Những bụi cỏ ông cắt bằng liềm, những bụi húng quế và những thứ tương tự ông dọn bằng dụng cụ cắt tre, những cây ông chặt bằng rìu, và những cây quá to ông đục trước bằng mũi khoan. Rồi, tiếp tục đường đi, ông làm một cái thang trong rừng tre và leo lên đỉnh của đám cây, đặt một cây tre dài vừa chặt xong, trải sang đám tre tiếp theo, và cứ thế bò trên đỉnh đám cây ông đến được một vùng đầm lầy. PTS vp Pali 47 Rồi ông trải một tấm ván khô trên bùn, bước lên đó rồi ném một tấm ván khác ra trước và như vậy vượt qua đầm lầy.

Rồi ông làm một chiếc thuyền độc mộc và nhờ nó vượt qua vùng nước ngập, và cuối cùng đứng ở chân núi. Rồi ông buộc một móc sắt ba ngạnh vào một sợi dây và ném lên trên, làm nó gắn chặt trên núi. Rồi leo lên theo dây, ông khoan núi bằng một cây gậy sắt có đầu bọc kim cương, và đóng một cái cọc vào lỗ rồi đứng trên đó.

Rồi rút móc sắt ra, ông một lần nữa gắn nó ở chỗ cao hơn trên núi, và từ vị trí này thả dây da xuống, ông nắm lấy và bước xuống rồi cột sợi dây vào cái cọc bên dưới. Rồi nắm sợi dây bằng tay trái và cầm búa bằng tay phải, ông đánh một cú vào sợi dây, và như vậy đã kéo cọc ra, ông leo lên thêm một lần nữa. Theo cách này ông leo lên đỉnh ngọn núi đầu tiên và sau đó bắt đầu đi xuống phía bên kia, sau khi đóng một cọc như trước vào đỉnh ngọn núi đầu tiên và buộc sợi dây vào túi da của mình rồi quấn quanh cọc, ông ngồi vào trong túi và thả mình xuống, tháo dây như con nhện nhả tơ.

Rồi để cái dù da của mình hứng gió, ông xuống như một con chim—ít nhất người ta nói vậy. Vậy là Bậc Đạo Sư đã kể về việc người thợ săn theo lời của Subhadda đã xuất phát từ thành và đi qua mười bảy vùng khác nhau đến một miền núi như thế nào, và về việc ông ta đã vượt qua sáu ngọn núi và leo lên đỉnh Vách Đá Vàng như thế nào:

Người thợ săn nghe xong, không hoảng sợ,

Lên đường với cung tên và bao đựng tên,

Và vượt qua bảy ngọn núi vĩ đại

Cuối cùng đến được Vách Đá Vàng cao quý. PTS vp En 27

Đạt đến độ cao có Dạ-xoa trú ngụ,

Khối nào hình đám mây xuất hiện trước mắt người đó?

Đó là cây bồ-đề hoàng tộc có rễ

Nâng đỡ tám nghìn chồi rải rộng.

PTS vp Pali 48 Ở đó đứng bất khả chiến bại trong sức mạnh

Con voi sáu ngà và thuần trắng,

Với đàn tám nghìn con hùng mạnh chiến đấu;

Ngà của chúng như những cột xe chiến mã:

Nhanh như gió chúng bảo vệ và tấn công.

Gần đó một ao—Nước đầy đến bờ,

Nơi thích hợp cho con vật hoàng tộc tắm;

Bờ đẹp của nó đầy hoa

Và những con ong rù rì bay quanh.

Ghi nhận con đường con vật đó đã đi

Mỗi khi có ý định tắm,

Ông ta đào một cái hố, bị thúc đẩy đến hành động hèn hạ như vậy

Bởi cơn giận của người hoàng hậu độc ác.

Đây là câu chuyện từ đầu đến cuối: người thợ săn, tương truyền, sau bảy năm, bảy tháng và bảy ngày, sau khi đến trú xứ của Đại Sĩ theo cách đã kể ở trên, đã ghi nhận trú xứ của Ngài và đào một cái hố ở đó, nghĩ rằng: "Ta sẽ đứng đây và làm bị thương voi vương và đưa đến cái chết của Ngài." Vậy ông ta sắp đặt mọi việc và vào rừng chặt cây làm cọc và chuẩn bị nhiều vật liệu. PTS vp Pali 49 Rồi khi đàn voi đi tắm, ở chỗ mà voi vương thường đứng, ông ta đào một cái hố vuông bằng một cái cuốc lớn, và đất đào lên ông rắc lên mặt nước như thể đang gieo hạt, và trên những hòn đá như cối giã ông cắm cọc, lắp quả nặng và dây và trải ván lên.

Kế đó ông làm một lỗ có kích thước của mũi tên và ném đất và rác lên trên, và về một phía ông làm lối vào cho mình, và khi hố đã xong, vào lúc rạng sáng ông đeo búi tóc giả và mặc y phục màu vàng và, cầm cung tên tẩm độc, ông bước xuống và đứng trong hố.

Bậc Đạo Sư, để làm rõ toàn bộ sự việc, nói:

Hố được ông ta che phủ bằng ván trước,

Rồi cung trong tay bước vào bên trong,

Và khi con voi đi qua,

Kẻ khốn nạn ấy buông một mũi tên mạnh mẽ.

Con vật bị thương rống lên đau đớn

Và toàn bộ đàn cùng rống lên:

Những cành gãy và cỏ bị giẫm nát phơi bày

Hướng hoảng loạn chạy trốn của chúng.

Đức chúa của họ suýt giết kẻ thù,

Vì Ngài đau đớn điên cuồng như vậy, thì kìa!

Một y phục màu vàng hiện ra trước mắt Ngài,

Biểu tượng của thánh thiện, dáng vẻ tu sĩ

Và được người trí coi là bất khả xâm phạm. PTS vp En 28

PTS vp Pali 50 Bậc Đạo Sư, nói chuyện với người thợ săn, đọc một đôi kệ ngôn:

Ai bị vết tội lỗi làm ô nhiễm

Và không có chân lý và tự chế,

Dù có mặc y vàng đi nữa,

Cũng không có tư cách thánh thiện.

Nhưng người nào thoát khỏi vết tội lỗi,

Được phú bẩm với chân lý và tự chế,

Và kiên định trong sự ngay thẳng,

Thì xứng đáng mặc y phục màu vàng.

PTS vp Pali 51 Nói như vậy, Đại Sĩ, dập tắt mọi cảm giác tức giận đối với kẻ đó, hỏi người này rằng: "Tại sao ngươi làm bị thương ta? Vì lợi ích của ngươi hay ngươi được ai đó xúi bẩy?"

Bậc Đạo Sư giải thích rõ sự việc rồi nói:

Con vật bị hạ gục bởi mũi tên mạnh mẽ,

Không xao động, nói chuyện với kẻ thù của mình:

"Mục đích gì, thưa bạn, trong việc giết ta,

Và, ta cầu xin, ai đã xúi bẩy người?"

Rồi người thợ săn kể cho Ngài nghe và đọc kệ ngôn này:

Vua Kasi người vợ yêu dấu

Subhadda nói với ta rằng bà đã thấy

Hình dáng Ngài trong mơ, "và vì vậy," bà nói,

"Ta muốn có ngà của Ngài; hãy đi và mang chúng về cho ta."

Nghe điều này, và nhận ra rằng đây là hành động của Cullasubhadda, Ngài nhẫn nhịn chịu đựng và nghĩ: "Bà ta không muốn ngà của ta; bà ta sai kẻ này vì muốn giết ta," và để minh họa sự việc, Ngài đọc một đôi kệ ngôn:

Ta có nhiều ngà tốt đẹp,

Di vật của tổ tiên ta đã khuất,

Và điều này người đàn bà đáng nguyền rủa kia biết rõ,

Chính mạng sống của ta mà mụ hướng tới.

PTS vp Pali 52 Hãy đứng dậy, người thợ săn, và trước khi ta chết,

Hãy cưa đôi ngà ngà voi của ta:

Hãy về bảo con mụ độc ác đó yên tâm,

"Con vật đã chết; đây là ngà của nó."

Nghe lời của Ngài, người thợ săn đứng dậy từ chỗ ngồi và, cưa trong tay, đến gần để cắt ngà của Ngài. Nay con vật to như ngọn núi cao tám mươi hắc tay, nhưng chỉ được cắt không hiệu quả. Vì người đó không thể với tới ngà của Ngài.

Vậy Đại Sĩ uốn cong người về phía ông ta, nằm với đầu cúi xuống. Rồi người thợ săn leo lên vòi của Đại Sĩ, dùng bàn chân đạp vào như thể đó là sợi dây bạc, và đứng trên trán Ngài như thể đó là đỉnh PTS vp En 29 Kelasa. Rồi ông ta nhét chân vào trong miệng Ngài, dùng đầu gối đánh vào phần thịt mềm của miệng, ông leo xuống từ trán con vật và thọc lưỡi cưa vào miệng.

Đại Sĩ chịu đựng cơn đau khủng khiếp và miệng Ngài đầy máu. Người thợ săn, di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác, vẫn không thể cưa ngà bằng cái cưa của mình. Vậy Đại Sĩ để máu nhỏ giọt từ miệng, phó thác mình cho cơn đau đớn, hỏi rằng: "Thưa ngài, ngài không thể cắt chúng không?" Và khi người đó nói "Không," Ngài thu hồi lại bình tĩnh và nói: "Vậy thì, vì bản thân ta không đủ sức để nâng vòi lên, ngươi hãy nâng nó lên cho ta và để nó nắm lấy đầu lưỡi cưa." Người thợ săn làm vậy: và Đại Sĩ nắm lấy lưỡi cưa bằng vòi và đưa qua lại, và những chiếc ngà bị cắt như thể là những chiếc chồi cây.

Rồi bảo ông ta cầm lấy ngà, Ngài nói: "Ta không tặng những thứ này cho người, thưa người thợ săn, vì ta không trân trọng chúng, PTS vp Pali 53 cũng chẳng phải vì muốn địa vị của Đế Thích, Ma vương hay Phạm Thiên, mà là những chiếc ngà của sự toàn tri quý hơn những thứ này gấp trăm nghìn lần, và mong rằng hành động công đức này là nhân duyên cho ta đạt được Toàn Tri." Và khi trao ngà cho ông ta, Ngài hỏi: "Ngươi đi đến đây mất bao lâu?" "Bảy năm, bảy tháng và bảy ngày." "Vậy thì hãy về bằng thần lực của những chiếc ngà này, và ngươi sẽ đến được Ba-la-nại trong bảy ngày." Và Ngài cho ông ta một lá bùa hộ mệnh và để ông ra đi.

Và sau khi đưa ông ta đi, trước khi những con voi còn lại và Subhadda quay trở về, Ngài đã qua đời.

Bậc Đạo Sư, để làm rõ sự việc, nói:

Rồi người thợ săn cưa những chiếc ngà

Từ hàm của con vật cao quý đó,

Và với phần thưởng sáng rực, vô song của mình

Vội vã trở về nhà nhanh chóng.

Khi ông ta ra đi, đàn voi không tìm được kẻ thù đã quay trở lại.

Bậc Đạo Sư, để làm rõ sự việc, nói:

Buồn bã trước cái chết của Ngài và đầy sợ hãi,

Đàn voi đã bỏ chạy hoảng loạn,

Thấy không có dấu vết của kẻ thù độc ác,

Quay trở lại để tìm thủ lĩnh của mình nằm xuống.

PTS vp Pali 54 Và cùng với họ cũng đến Subhadda, và tất cả lúc đó liền ở đó vừa khóc vừa than khóc đi đến những vị Bích Chi Phật đã từng rất thân thiết với Đại Sĩ, và nói: "Thưa các Ngài, người đã cung cấp PTS vp En 30 những thứ cần thiết cho cuộc sống của các Ngài đã chết từ vết thương của mũi tên tẩm độc. Hãy đến xem nơi thi hài Ngài đang được phơi bày." Và năm trăm vị Bích Chi Phật bay qua không trung đáp xuống trong khu vực thiêng liêng. Vào lúc đó hai con voi trẻ, dùng ngà nâng thi thể của voi vương lên, và như vậy làm cho thi thể đảnh lễ các vị Bích Chi Phật, nâng nó lên cao trên một giàn hỏa táng và đốt. Các vị Bích Chi Phật suốt đêm đọc tụng kinh điển tại nghĩa địa. Tám nghìn con voi, sau khi dập tắt ngọn lửa, trước tiên tắm rửa rồi, với Subhadda ở đầu đàn, trở về trú xứ của mình.

Bậc Đạo Sư, để làm rõ vấn đề này, nói:

Họ khóc than, như người ta kể,

Mỗi con rắc đất lên đầu mình,

Rồi chậm rãi trở về nhà,

Theo sau vị hoàng hậu từ bi của họ.

Và Sonuttara trong bảy ngày đến được Ba-la-nại với những chiếc ngà.

Bậc Đạo Sư, để làm rõ sự việc, nói:

Người thợ săn thẳng tiến về Kasi

Mang theo phần thưởng sáng rực và vô song của mình

—Ngà của con vật cao quý kia, ta muốn nói,

Làm vui lòng mọi trái tim với vẻ óng vàng—

Và nói với người hoàng hậu hoàng tộc ấy rằng:

"Đây là ngà của Ngài: con vật đã chết."

PTS vp Pali 55 Nay khi dâng chúng cho hoàng hậu, ông nói: "Thưa bà, con voi mà bà đã ôm ấp mối hận trong lòng vì một tội lỗi nhỏ nhặt, đã bị ta giết." "Ngươi có nói với ta rằng Ngài đã chết không?" bà kêu lên. Và ông đưa cho bà những chiếc ngà, nói: "Hãy tin chắc rằng Ngài đã chết: đây là ngà của Ngài." Bà nhận những chiếc ngà tỏa sáu màu khác nhau trên chiếc quạt ngọc của mình, và đặt chúng lên lòng, nhìn ngắm những chiếc ngà của kẻ trong kiếp trước đã là đức chúa yêu quý của bà, và bà nghĩ: "Kẻ này đã đến với những chiếc ngà mà hắn đã cưa từ con voi tốt lành mà hắn đã giết bằng mũi tên tẩm độc." Và khi nhớ đến Đại Sĩ, bà bị tràn ngập một nỗi đau buồn lớn đến mức không chịu đựng được, tâm bà vỡ tan ở đó và ngay ngày đó bà qua đời.

Bậc Đạo Sư, để làm rõ câu chuyện, nói:

Ngà của Ngài vừa mới được bà nhìn thấy

—Đức chúa yêu quý từ kiếp trước của bà chính là Ngài—

Thì liền tức thì tâm bà vỡ tan vì đau thương

Và bà, kẻ khờ dại kia, chết vì Ngài. PTS vp En 31

Khi Ngài, toàn năng và toàn trí,

Bật cười trước mắt mọi người,

Ngay lập tức những Tỳ-kheo thánh thiện này nghĩ,

"Chắc chắn những vị Phật không bao giờ cười vô cớ."

"Cô mà các vị thường thấy," Ngài nói,

"Là ni cô mặc y vàng,

Xưa kia là một hoàng hậu và ta," Ngài thốt lên,

"Chính là vị voi vương đó đã qua đời."

"Kẻ đã lấy những chiếc ngà trắng kia,

Vô song trên đất, sáng rực rỡ,

PTS vp Pali 56 Và mang chúng đến thành Ba-la-nại

Nay được biết đến với tên Devadatta."

Từ sự hiểu biết của bản thân mình, Phật đã kể

Câu chuyện dài kéo dài từ thời cổ đại này,

Với tất cả sự buồn bã đa dạng của nó,

Dù Ngài không bị đau đớn và buồn bã.

Con voi đó từ thời xa xưa

Chính là ta, vị vua của cả đàn,

Và thưa các Huynh Đệ, ta muốn các vị hiểu

Câu chuyện Tiền Thân này một cách đúng đắn.

Những kệ ngôn này được các trưởng lão ghi lại khi họ tụng kinh pháp và ca ngợi Đức Chúa của mọi Oai Lực.

PTS vp Pali 57 Và khi nghe bài thuyết pháp này, nhiều người đã bước vào Đệ Nhất Đạo, nhưng người nữ Sa-di ấy sau đó bằng tuệ giác tâm linh đã đạt đến Thánh Quả A-la-hán.

The Jātaka, or Stories of the Buddha's Former Births , edited by E.B. Cowell , published by The Cambridge University Press.

Vol. 1, translated by Robert Chalmers , 1895.

Vol. 2, translated by W.H.D. Rouse , 1895.

Vol. 3, translated by H.T. Francis and R.A. Neil , 1897.

Vol. 4, translated by W.H.D. Rouse , 1901.

Vol. 5, translated by H.T. Francis , 1905 .

Vol. 6, translated by E.B. Cowell and W.H.D. Rouse , 1907.

These translations are in the public domain. You are free to do whatever you like with them.

Scanned, proofed and formatted at sacred-texts.com, January 2006–February 2010, by John Bruno Hare and others. Thanks to the Sacred Texts Archive for making these texts available in digital form.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếuPrepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato .🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến