Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 507Maha-Palobhana Jātaka

Tên Pāli / Sanskrit:Mahāpalobhanajātaka

📖1,311 từ · ~5 phút đọc
2
Tóm tắt

Câu chuyện này Đức Bổn Sư kể khi đang trú tại Jetavana, về sự ô nhiễm của những bậc đã được thanh tịnh hóa. Hoàn cảnh đã được trình bày trước đây. Ở đây, Đức Bổn Sư lại nói: "Phụ nữ gây ô nhiễm ngay cả đối với những tâm hồn đã được thánh hóa," rồi kể câu chuyện trong quá khứ này.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân Đức Phật

Quyển 15 Vīsatinipāta

507. Maha-Palobhana Jātaka

"Từ cõi trời Phạm thiên," v.v.—Câu chuyện này Đức Thế Tôn kể khi Ngài đang cư trú tại Jetavana (Kỳ Viên), liên quan đến sự sa ngã của những bậc được tịnh hóa. Hoàn cảnh đã được trình bày trước đây. Lần này Đức Thế Tôn lại nói: "Nữ nhân gây ô nhiễm ngay cả những tâm hồn đã được thánh hóa," rồi Ngài kể câu chuyện quá khứ này. PTS vp En 291

PTS vp Pali 469 Một thuở nọ tại thành Benares—ở đây câu chuyện quá khứ cần được khai triển như trong Culla-palobhana Jātaka. Lần này Bồ-tát tái sinh từ cõi trời Phạm thiên (Brahmā) xuống làm hoàng tử xứ Kasi, được đặt tên là Hoàng tử Anitthi-gandha—Người Ghét Nữ Nhân. Ngài không chịu để tay phụ nữ chạm vào; những người nuôi dưỡng phải mặc trang phục đàn ông mới được cho bú; Ngài sống trong phòng thiền định và chưa bao giờ nhìn thấy một người nữ nào.

Để giải thích điều này, Đức Thế Tôn đọc bốn bài kệ:

"Từ cõi trời Phạm thiên, một thiên nhân xuống trần gian,
Thác sinh làm hoàng tử, được toàn quyền như ý nguyện.
"Tại cõi Phạm thiên, chẳng có dục vọng, chẳng đề cập;
Nên khi sinh vào cõi này, hoàng tử ghét tên gọi ấy.
"Trong cung điện, hoàng tử lập riêng một phòng thiền định,
Ngài trọn ngày đắm mình trong thiền quán, sống cô đơn.
"Nhà vua lo lắng cho con, than thở về nỗi này:
'Ta chỉ có một con, mà nó không màng tới lạc thú.'"

Bài kệ thứ năm diễn tả nỗi than của vua:

"Ôi, ai sẽ mách ta phải làm gì! Có cách nào không?
Ai sẽ dạy nó biết tham cầu dục lạc, ai cám dỗ được?"

Bài kệ tiếp theo và nửa bài là lời của trí tuệ viên mãn:

"Có một thiếu nữ, hình dáng yêu kiều, làn da trắng ngà:
Nàng biết vô số bài ca, lại khéo múa và khéo dệt.
Thiếu nữ ấy tâu với Đức vua, và nàng bắt đầu thưa:"

PTS vp Pali 470 Câu còn lại là lời của cô gái trẻ:

"Con sẽ cám dỗ được chàng, nếu bệ hạ ban cho con được cưới chàng."

Nhà vua đáp lời cô gái và phán như thế này:
"Nếu ngươi thành công trong việc cám dỗ chàng, chàng sẽ là chồng ngươi."

Nhà vua liền ra lệnh tạo mọi cơ hội thuận tiện cho nàng, và sai nàng vào hầu hạ hoàng tử. Mỗi sáng, tay cầm đàn luýt, nàng đứng ngay bên ngoài phòng ngủ của hoàng tử, dùng đầu ngón tay gảy đàn và cố cám dỗ Ngài bằng giọng hát ngọt ngào. PTS vp En 292

Để giải thích điều này, Đức Thế Tôn đọc:

"Thiếu nữ vào trong nhà, đứng ở một góc riêng,
Hát những khúc ca dịu dàng, tha thiết, để chạm tới trái tim người yêu.
"Khi thiếu nữ đứng ca hát, hoàng tử nghe tiếng nhạc,
Lập tức mê đắm, bèn hỏi những người hầu bên cạnh—
"Tiếng giai điệu gì vang lên trong trẻo đến tai ta,
Xuyên thấu tim ta bằng những suy tư về tình ái, dễ chịu làm sao?
"'Thưa điện hạ, đó là một thiếu nữ diễm lệ, vô vàn duyên dáng:
Nếu điện hạ muốn thưởng thức vị ngọt của ái tình, hãy nhường bộ niềm vui này.'
"'Hãy để nàng đến gần hơn, hãy để nàng tiếp tục hát,
Hãy để nàng hát ngay trước mặt ta, ngay cửa phòng thiền!'
"Nàng vốn hát bên ngoài vách, nay đứng ngay trong phòng:
Nàng bắt chàng như voi bị bắt trong bẫy rừng.
"Chàng cảm nhận hoan lạc ái tình, và ghen tuông nổi lên:
'Không đàn ông nào khác được yêu!' chàng kêu, 'chỉ ta yêu một mình!'
"'Không ai khác, chỉ ta!' chàng la—rồi bỏ đi—
Vớ lấy kiếm, điên cuồng xông đến giết tất cả đàn ông khác!

PTS vp Pali 471 "Dân chúng hoảng loạn kêu la chạy vào cung điện:
'Con trai ngài đang giết người mà không có lý do!' họ kêu.
"Đức vua chiến binh liền bắt chàng lại và đuổi chàng khỏi mặt mình:
'Trong ranh giới vương quốc của ta, ngươi không có chỗ đứng.'
"Chàng đưa vợ lên đường cho đến khi đứng bên bờ biển,
Nơi đó dựng túp lều lá, sống bằng cách lượm hái trong rừng.
"Một vị ẩn sĩ thiêng liêng bay qua mặt đại dương,
Vào trong túp lều khi bữa ăn đang sẵn sàng.
"Người phụ nữ cám dỗ vị ẩn sĩ—hãy xem đây là hành động gì đê hèn!
Vị ấy sa ngã khỏi phạm hạnh, và tất cả thần thông của vị ấy tiêu tan!
"Chiều đến; hoàng tử trở về, đem theo từ chuyến lượm hái
Treo trên vai bộ đồ đầy đủ rễ cây và hoa quả rừng.
"Vị ẩn sĩ thấy hoàng tử đến gần: xuống bờ biển vị ấy đi,
Tính bay lên không trung, nhưng lại chìm xuống biển!
"Khi hoàng tử thấy vị đạo sĩ đang chìm xuống biển,
Lòng từ bi dấy lên trong chàng, và chàng nói những vần kệ này—
"Bằng thần thông chứ không phải thuyền bè mà Ngài đã đến,
Nay Ngài chìm xuống; một người vợ xấu xa đã đưa Ngài đến kết cục này.
"Những kẻ cám dỗ phản bội, chúng cám dỗ ngay bậc thánh thiện nhất để sa ngã:
Chìm—chìm xuống: ai hiểu được đàn bà thì phải tránh xa tất cả.
"Nói dịu dàng, khó thỏa mãn, như những dòng sông khó lấp đầy;
Chìm—chìm xuống: ai hiểu được đàn bà thì phải tránh xa hơn nữa.
"Và bất kỳ ai họ phục vụ vì vàng hay vì dục vọng,
Họ thiêu đốt y, như củi bị ném vào đám lửa đang cháy."

"Vị ẩn sĩ nghe lời hoàng tử; vị ấy ghê tởm cái thế gian hư ảo này:
Quay lại Con Đường cũ, bay lên không trung trở lại. PTS vp En 293

"Ngay khi hoàng tử thấy vị ấy bay lên trong không trung,
Chàng đau xót và với quyết tâm kiên định, chàng chọn đời sống thánh thiện;
"Rồi, xuất gia, hoàn toàn dập tắt dục vọng và ái luyến nóng bỏng;
Và với ái luyến được dập tắt, từ đây chàng hướng đến cõi trời Phạm thiên."

PTS vp Pali 473 Sau khi thuyết pháp này kết thúc, Đức Thế Tôn nói: "Như vậy, các Tỳ-khưu, vì lợi ích của nữ nhân mà ngay cả những tâm hồn đã được thánh hóa cũng phạm tội;" rồi Ngài tuyên bố Tứ Diệu Đế: (bây giờ ở cuối phần tuyên bố Tứ Diệu Đế, vị Tỳ-khưu sa ngã đã chứng đắc quả vị A-la-hán:) sau đó Ngài xác nhận tiền thân, nói: "Lúc bấy giờ, chính ta là Hoàng tử Anitthigandha."

The Jātaka, or Stories of the Buddha's Former Births, do E.B. Cowell biên tập, do The Cambridge University Press xuất bản.

  • Quyển 1, do Robert Chalmers dịch, 1895.
  • Quyển 2, do W.H.D. Rouse dịch, 1895.
  • Quyển 3, do H.T. Francis và R.A. Neil dịch, 1897.
  • Quyển 4, do W.H.D. Rouse dịch, 1901.
  • Quyển 5, do H.T. Francis dịch, 1905.
  • Quyển 6, do E.B. Cowell và W.H.D. Rouse dịch, 1907.

Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do sử dụng theo ý muốn.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006–tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và những người khác. Cảm ơn Kho Lưu Trữ Sacred Texts đã cung cấp những văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.

Được chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-khưu Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến