Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 506Campeyyajātaka — Jātaka số 506

Tên Pāli / Sanskrit:Campeyyajātaka

📖4,454 từ · ~18 phút đọc
2
Tóm tắt

Câu chuyện này Đức Bổn Sư kể khi đang trú tại Jetavana, liên quan đến các giới nguyện ngày trai giới. Đức Bổn Sư nói: "Lành thay, hỡi các cư sĩ, các vị đã thọ trì giới nguyện ngày trai giới. Các bậc trí tuệ thời xưa cũng vậy, họ từng từ bỏ cả vinh quang của một Long Vương để sống theo những giới nguyện này." Rồi theo lời thỉnh cầu của họ, Ngài kể một câu chuyện trong quá khứ.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân Đức Phật

Quyển 15 Vīsatinipāta (Phẩm Hai Mươi)

506. Campeyyajātaka (Tiền Thân Campeyya)

"Ai kia giống ánh chớp," v.v. — Câu chuyện này Đức Bổn Sư kể trong thời gian cư trú tại Jetavana (Kỳ Viên), liên quan đến giới hạnh trai giới. Đức Bổn Sư nói: "Thiện lành thay, hỡi các thiện nam, rằng các vị đã thọ nhận giới trai giới. Các bậc trí tuệ thuở xưa thậm chí đã từ bỏ vinh quang làm Long vương mà sống theo giới trai giới." Rồi theo yêu cầu của họ, Ngài kể một câu chuyện thuở quá khứ.

Xưa kia, khi vua Anga đang cai trị vương quốc Anga và vua Magadha đang trị vì Magadha, giữa hai cương vực Anga và Magadha có một con sông Campā, nơi đó có chỗ các long xà cư trú, và ở đây một vị long vương tên Campeyya đang ngự trị.

Đôi khi vua Magadha lấn chiếm lãnh thổ Anga, đôi khi vua Anga lấy lại Magadha. Một ngày, vua Magadha giao chiến với Anga nhưng thất bại, liền cưỡi ngựa bỏ chạy, bị binh lính Anga truy đuổi. Đến bờ sông Campā, nước đang dâng cao. Nhưng ngài nói: "Chết chìm trong sông này còn hơn chết dưới tay kẻ thù!" Rồi người và ngựa cùng lao xuống dòng nước.

Bấy giờ, long vương Campeyya đã xây dựng bên dưới nước một lâu đài đính trang bằng châu báu; lúc này ngài đang ngồi yến tiệc giữa triều thần trong cung điện đó. Vua Magadha và con ngựa lao xuống sông đúng trước mặt Long vương. Long xà thấy vị vua uy nghi này liền sinh lòng yêu mến.

Long xà đứng dậy khỏi ngai, mời vua ngồi vào chỗ của mình, bảo đừng sợ, và hỏi tại sao ngài lao vào nước. Vua kể lại tất cả. Long xà nói: "Đại vương chớ sợ!

Ta sẽ làm cho ngài làm chủ cả hai vương quốc." Thế là ngài an ủi vua, và trong bảy ngày tiếp đãi vua Magadha trọng hậu. Đến ngày thứ bảy, ngài cùng vua Magadha rời khỏi cung điện long xà. Nhờ thần lực của Long vương, vua Magadha chiếm được vua Anga, giết đi và cai trị cả hai vương quốc.

Từ đó có sự liên minh bền chặt giữa hai bên. PTS vp Pali 455 Hàng năm vua cho dựng một lâu đài châu báu trên bờ sông Campā và cống nạp hậu hĩnh cho Long vương; Long vương sẽ cùng đoàn tùy tùng đông đảo từ cung điện ra nhận lễ vật, và toàn dân được chiêm ngưỡng oai nghi của Long vương. PTS vp En 282

Bấy giờ Bồ-tát sinh ra trong một gia đình nghèo và thường đi cùng đoàn người của vua ra bên bờ sông. Ở đó nhìn thấy oai nghi của Long vương, Bồ-tát sinh lòng ước ao; và với lòng ham muốn đó, ngài qua đời, và bảy ngày sau cái chết của long vương Campeyya, Bồ-tát đã bố thí và sống đức hạnh, tái sinh vào cung điện của ngài trên long sàng hoàng đế: thân ngài như một tràng hoa nhài lớn. Nhìn thấy hình dạng đó, ngài sinh tâm hối hận.

"Do quả báo của những thiện nghiệp," ngài nói, "ta có đủ công đức được tích lũy trong sáu cõi trời dục giới, như thóc lúa trong kho. Nhưng xem đây, ta đã tái sinh vào hình dạng loài bò sát; ta cần gì cuộc sống này!" Và ngài có ý định tự kết liễu sinh mạng. Nhưng một nàng long nữ tên Sumanā nhìn thấy ngài, dẫn dắt những người còn lại: "Đây hẳn là Sakka (Đế Thích), đại lực, đã sinh đến với chúng ta!" Rồi tất cả đến dâng cúng ngài với đủ loại nhạc khí trên tay.

Cung điện long xà của ngài trở thành như cung điện của Sakka, ý nghĩ tự tử tan biến: ngài bỏ hình rắn và ngồi trên long sàng với y phục và trang sức uy nghi. Từ đó oai nghi của ngài lớn lao và ngài thống trị cõi long xà. Nhưng một lần khác ngài lại hối hận và nghĩ: "Ta cần gì hình dạng bò sát này?

Ta sẽ sống theo giới trai giới, và từ nơi này ta sẽ thoát ra, đến cõi người, học Chánh Pháp và chấm dứt khổ đau." Nhưng rồi ngài vẫn ở lại trong cung điện đó, thực hành giới trai giới, và khi các nàng long nữ đến quanh ngài với dáng vẻ trang điểm lộng lẫy, ngài thường vi phạm giới hạnh. Sau đó ngài ra vườn, nhưng các nàng theo đến đó, và giới trai lại bị phá vỡ như trước. Rồi ngài nghĩ: "Ta phải rời khỏi cung điện này và đến cõi người, và ở đó ta sẽ giữ giới trai giới." PTS vp Pali 456 Vậy là vào các ngày trai giới, ngài rời khỏi cung điện và nằm trên đỉnh ổ kiến bên đường cái, không xa một làng biên giới.

Ngài nói: "Ai muốn lấy da hay bất kỳ phần nào của ta, hãy lấy đi; hoặc ai muốn ta làm rắn múa, hãy sử dụng ta." Như vậy ngài hiến thân mình làm phẩm vật, khép tán phục mình lại và nằm đó thực hành giới trai giới.

Những người qua lại trên đường cái nhìn thấy ngài liền kính ngưỡng bằng hương hoa. Và những người dân trong làng biên giới, tin rằng đây là long vương uy lực, dựng lên một nhà che trên ngài, rải cát trước nhà, cúng dường hương và đồ thơm tho. Người ta bắt đầu cầu xin con cái nhờ sự gia hộ của ngài, với đức tin vào Đại Sĩ và cúng dường ngài. Đại Sĩ giữ giới trai giới ở đó vào ngày mười bốn và mười lăm của tuần trăng, nằm trên ổ kiến; và vào ngày đầu tiên của nửa tuần trăng, ngài trở về cung điện; và trong khi ngài thực hành giới trai như vậy, thời gian trôi qua. PTS vp En 283

Một ngày, người phối ngẫu Sumanā nói với ngài: "Thưa chúa công, chúa thường đến cõi người để giữ giới trai. Cõi người đầy nguy hiểm và sợ hãi. Nếu có nguy hiểm xảy đến, xin hãy nói với thiếp dấu hiệu gì để thiếp biết." Rồi Đại Sĩ dẫn nàng đến bên một ao phước và nói: "Nếu ai đó đánh ta hay làm hại ta, nước trong ao này sẽ đục ngầu.

Nếu chim cánh vàng (roc) cướp ta đi, nước sẽ biến mất. Nếu thầy phù thủy bắt ta, nước sẽ chuyển thành màu máu." Sau khi giải thích ba dấu hiệu đó, ngài rời cung điện ra giữ giới ngày mười bốn, đến nằm trên ổ kiến, chiếu sáng ổ kiến bằng ánh sáng thân mình. Thân ngài trắng như cuộn bạc thuần khiết, đầu ngài như cuộn len đỏ: trong kiếp này thân Bồ-tát to như lưỡi cày, trong kiếp Bhūridatta (Bhuridatta) to như bắp đùi, trong kiếp Saṅkhapāla (Sankhapala) to như một chiếc xuồng độc mộc có đòn kiềng.

Trong những ngày ấy, một thanh niên Bà-la-môn ở Ba-la-nại (Benares) đến Takkasila để theo học người thầy nổi tiếng khắp thiên hạ, PTS vp Pali 457 đã học được từ đó thần chú khống chế mọi vật của giác quan. Trên đường trở về, chàng ta nhìn thấy Đại Sĩ. "Ta sẽ bắt con rắn này," chàng nghĩ, "và ta sẽ đi qua thị trấn, làng mạc và kinh đô, làm nó múa và thu lợi lớn." Rồi chàng lấy dược thảo thần kỳ và đọc thần chú rồi tiếp cận con rắn.

Vừa nghe tiếng thần chú, Đại Sĩ cảm thấy như tai bị đâm xuyên bởi những mảnh gỗ đang cháy, đầu như bị đập vỡ bởi một nhát kiếm. "Cái gì đây!" ngài nghĩ; nhô đầu ra khỏi tán phục, ngài nhìn thấy thầy phù thủy. Rồi ngài nghĩ: "Nọc độc của ta rất mạnh, và nếu ta nổi giận và phun hơi thở từ lỗ mũi ra thì thân hắn sẽ vỡ vụn và tan tác như một nắm trấu; nhưng như vậy giới hạnh của ta sẽ bị phá vỡ.

Ta sẽ không nhìn hắn." Nhắm mắt lại, ngài thu đầu vào tán phục. Thầy Bà-la-môn phù thủy ăn một loại dược thảo, đọc thần chú, phun nước bọt lên ngài: nhờ thần lực của dược thảo và thần chú, bất kỳ chỗ nào nước bọt chạm vào, mụn nhọt nổi lên. Rồi hắn nắm đuôi ngài, kéo ra, duỗi thẳng hết chiều dài; bằng cây gậy móc dê, hắn bóp ngài cho đến khi ngài yếu đi, rồi nắm chắc đầu và bóp mạnh.

Đại Sĩ há miệng to; hắn nhỏ nước bọt vào và bằng dược thảo và thần chú bẻ gãy răng ngài; miệng đầy máu. Nhưng Đại Sĩ sợ phá vỡ giới hạnh đến mức chịu đựng tất cả hành hạ đó mà không một lần mở mắt nhìn hắn. Rồi hắn nói: "Ta sẽ làm cho con rắn vua này yếu đi!" Từ đuôi đến đầu, hắn bóp thân con rắn như thể muốn nghiền nát xương cốt thành bột.

Rồi hắn bọc ngài trong cái gọi là vải quấn, thực hiện cái gọi là xoa dây thừng, nắm đuôi ngài và thực hiện cái gọi là đòn bông. PTS vp En 284 Thân Đại Sĩ bê bết máu, ngài đau đớn khôn cùng. Thấy con rắn đã yếu, PTS vp Pali 458 hắn đan một chiếc sọt liễu và đặt rắn vào đó.

Rồi hắn mang ngài đến làng và biểu diễn trước dân chúng. Đen hay xanh hay màu nào khác, hình tròn và hình vuông, nhỏ hay lớn — bất kỳ điều gì thầy Bà-la-môn muốn, Đại Sĩ sẽ làm, múa và bung tán phục ra tưởng như có hàng trăm hay hàng ngàn cái. Dân chúng rất hài lòng đến mức họ đưa rất nhiều tiền: một ngày hắn có thể thu được một ngàn rupee, và hàng hóa trị giá thêm một ngàn nữa.

Ban đầu hắn có ý định thả ngài khi thu được một ngàn đồng; nhưng khi được rồi, hắn nghĩ: "Ở một làng biên giới nhỏ, ta đã được ngần này: từ vua chúa và quan triều, ta có thể trông đợi thu được bao nhiêu!" Vậy hắn mua xe thùng và xe ngựa, chất hàng vào xe thùng còn hắn ngồi xe ngựa. Như vậy với đoàn người theo hầu, hắn đi qua thị trấn và làng mạc, biểu diễn Đại Sĩ, và tiến về phía vua Uggasena ở Ba-la-nại với mục đích biểu diễn trước vua rồi thả ngài đi.

Hắn thường giết ếch và đưa cho long xà ăn. Nhưng rắn mỗi lần đều từ chối ăn, vì không muốn bất kỳ con vật nào bị giết vì mình. Rồi hắn đưa mật ong và ngũ cốc rang. Nhưng Đại Sĩ cũng từ chối những thứ đó; vì ngài nghĩ: "Nếu ta nhận thức ăn, ta sẽ ở trong sọt này cho đến chết."

Sau một tháng, thầy Bà-la-môn đã đến Ba-la-nại. Ở đó hắn thu được nhiều tiền bằng cách biểu diễn rắn ở các làng ngoài cổng thành. Vua cũng cho người mời hắn và ra lệnh biểu diễn: hắn hứa sẽ làm vào ngày hôm sau, là ngày cuối tháng. Rồi vua cho gióng trống đi khắp kinh thành, thông báo rằng ngày mai một long xà vua sẽ múa ở sân hoàng cung; dân chúng hãy tập họp đông đảo để xem. Hôm sau sân cung được trang hoàng, và thầy Bà-la-môn được triệu tới. Hắn mang Đại Sĩ vào trên một chiếc sọt đính châu ngọc đặt trên thảm đẹp, đặt xuống, rồi tự ngồi xuống. Vua xuống từ tầng trên và ngồi vào long sàng giữa đại chúng đông đảo. Thầy Bà-la-môn đưa Đại Sĩ ra và làm ngài múa. Dân chúng không thể giữ yên: hàng ngàn chiếc khăn tay vẫy trong không trung; mưa châu báu đủ bảy loại rơi xuống quanh Bồ-tát.

Đã tròn một tháng kể từ khi Long xà bị bắt; và trong suốt thời gian đó ngài không nhận thức ăn. PTS vp Pali 459 Bấy giờ Sumanā bắt đầu nghĩ— PTS vp En 285 "Chồng yêu của ta đã đi lâu quá. Đã một tháng rồi ngài chưa trở về; chuyện gì đã xảy ra?" Nàng đến nhìn vào ao: kìa, nước đỏ như máu!

Rồi nàng biết chắc chắn rằng ngài đã bị thầy phù thủy bắt. Từ cung điện nàng ra đi, đến ổ kiến; nàng nhìn thấy nơi ngài đã bị bắt, và nơi ngài đã bị hành hạ, rồi nàng khóc. Rồi nàng đến làng biên giới dò hỏi; khi biết được toàn bộ sự thật, nàng tiến về Ba-la-nại, và giữa đám đông người, trong không trung phía trên sân hoàng cung, nàng đứng than khóc.

Đại Sĩ đang múa ngước nhìn lên không trung và thấy nàng, liền xấu hổ bò vào sọt và nằm đó. Khi ngài bò vào sọt, vua hỏi lớn: "Chuyện gì vậy?" Nhìn khắp xung quanh, ngài nhìn thấy nàng đứng trên không, rồi đọc bài kệ đầu tiên:

"Ai kia sáng như tia chớp, hay như vì sao rực cháy?
Nữ thần hay dạ-xoa? Hình như chẳng phải người trần."

Cuộc đối thoại của họ được ghi lại trong những bài kệ tiếp theo:

"Chẳng phải nữ thần, chẳng phải dạ-xoa, chẳng phải người, thưa đại vương,
Ta là giống long nữ, đến đây vì một việc."

"Đầy giận dữ và oán thán ngươi xuất hiện,Từ đôi mắt ngươi lệ chảy tuôn:Nói ta nghe, điều oan trái gì hay điều gì ngươi muốnĐưa ngươi đến đây, hỡi nàng? Ta muốn biết."
"Con rắn bò, dữ tợn như ngọn lửa!Người ta gọi hắn như vậy: có kẻ đến,Bắt hắn để lấy lợi, thưa tôn vương:Ta cầu xin tự do cho chúa của ta!"
"Làm sao một tên thầy bói gầy còmCó thể bắt được một sinh linh đầy uy lực?Hỡi con gái của long xà, hãy nói,Làm sao nhận ra con rắn đó?"
PTS vp Pali 460 "Uy lực của hắn đủ sứcĐốt cháy thị trấn này thành tro tàn.Nhưng hắn yêu quý con đường thánh thiệnVà tìm cầu danh tiếng của khổ hạnh."

Rồi vua hỏi làm sao người đó bắt được ngài. Nàng đáp bằng bài kệ:

"Vào những ngày thánh, long xà vuaỞ ngã tư đường thường giữGiới thánh: thầy phù chú bắt hắn.Hãy thả chồng ta vì ta!"

Sau những lời đó, nàng thêm hai bài kệ nữa, cầu xin thả ngài:

"Hãy nghe, mười sáu ngàn phụ nữ trang điểm với ngọc và nhẫn,
Dưới lòng nước coi hắn là nơi nương tựa và là vua. PTS vp En 286

"Hãy công bình và nhân từ thả hắn ra,Hãy mua lấy tự do cho Long xà,Bằng vàng, trăm bò, một làng:Điều đó sẽ mang công đức cho ngài."

PTS vp Pali 461 Rồi vua đọc ba bài kệ:

"Công bình và nhân từ, hãy xemTa mua lấy tự do cho Long xàBằng vàng, trăm bò, một làng,Điều đó sẽ mang công đức cho ta."

"Ta sẽ tặng ngươi một bông tai ngọc, một trăm đồng vàng,
Một ngai tòa đẹp như hoa lanh với đệm trải bốn lớp!

"Một con bò đực, trăm bò cái, hai người vợ sinh đồng đẳng với ngươi:
Hãy thả Long xà thánh thiện: hành động đó sẽ có phước đức."

Đến đây thầy săn bắt đáp lại:

"Ta không cần lễ vật gì, thưa điện hạ,Chỉ xin thả Long xà ra.Như vậy ta nay thả Long xà:Hành động đó sẽ có phước đức."

Sau lời nói đó, hắn lấy Đại Sĩ ra khỏi sọt. Long vương từ trong sọt bò ra và chui vào một bông hoa, ở đó ngài cởi bỏ hình rắn và tái hiện trong hình dạng một chàng thanh niên trang điểm lộng lẫy: ngài đứng đó như thể đã xuyên qua đất bước lên. Rồi từ trên không trung Sumanā bước xuống và đứng bên cạnh ngài. Long vương đứng kính cẩn chắp tay cúi chào vua.

PTS vp Pali 462 Để làm rõ mọi sự, Đức Bổn Sư đọc hai bài kệ:

"Long vương Campeyya nói với vua, nay đã tự do:
'Ôi Vua của xứ Kāsi, đấng nuôi dưỡng chúng sanh, nay xin kính chào ngài!
Ta kính ngài, trước khi ta về thăm lại nhà ta.'"

"Những sinh linh siêu phàmKhó mà được tin, người ta nói.Nếu ngươi nói thật, hỡi Long xà,Cung điện của ngươi ở đâu? Hãy chỉ đường."

Nhưng Đại Sĩ, để được tin, lập thệ như sau trong hai bài kệ:

"Dù gió có lay chuyển được núi cao,Dù mặt trăng và mặt trời có rơi xuống khỏi bầu trời,Dù các con sông có chảy ngược nguồn,Ta, hỡi đại vương! Sẽ không bao giờ nói dối.
"Dù bầu trời có vỡ, biển cạn đi,Dù đất mẹ hào phóng có nghiêng lệchCuộn lại bất thường, nhổ bật núi Meru,Nhưng, hỡi đại vương, ta không thể nói dối!" PTS vp En 287

Nhưng dẫu được bảo đảm như vậy, vua vẫn không tin Đại Sĩ và nói—

"Những sinh linh siêu phàmKhó mà được tin, người ta nói.PTS vp Pali 463 Nếu ngươi nói thật, hỡi Long xà!Cung điện của ngươi ở đâu? Hãy chỉ đường."

Lại lần nữa ngài đọc cùng bài kệ đó, thêm vào: "Ngươi phải biết ơn những thiện hạnh ta đã làm: việc ta có nên tin ngươi hay không, đó là quyền của ta." Ngài làm rõ điều này trong bài kệ tiếp theo:

"Đầy nọc độc, đầy uy lực,Mau chóng tranh cãi, sáng rực rỡ,Ngươi được ta giải thoát khỏi ngục tù:Vậy lòng biết ơn là quyền của ta."

Đại Sĩ lập thệ như sau để được vua tin:

"Ai không chịu đền đáp lòng ân,Không bao giờ nên biết hạnh phúc:Kẻ đó đáng chết trong sọt-ngục,Kẻ đó đáng đốt cháy trong địa ngục khủng khiếp!"

Bấy giờ vua tin và cảm ơn như sau:

"Vì lời thề của ngươi là thật,Hãy tránh xa giận dữ và oán thù:Như ta tránh xa lửa trong mùa hè,Mong chim cánh vàng (roc) sẽ tránh xa ngươi!"

Đại Sĩ cũng đọc thêm một bài kệ bày tỏ lòng cảm ơn vua:

"Như một người mẹ sẽ làmVới đứa con trai yêu duy nhất,Ngài nhân từ với tất cả long xà:Chúng ta sẽ phục vụ ngài, mỗi người một."

PTS vp Pali 464 Bấy giờ vua, hăng hái muốn thăm cõi long xà, ra lệnh chuẩn bị quân đội lên đường trong bài kệ sau:

"Hãy thắng xe hoàng gia, và đứng đóNhững con la Cambodian (Kamboja) được luyện sẵn,Những con voi trong đồ trang sức vàng:Chúng ta sẽ đến thăm cõi long xà!"

Bài tiếp theo là bài kệ Trí Tuệ Viên Mãn:

"Hãy nổi trống cơm, thúc trống lớn,Tiếng tù và và chũm chọe vang lên,Rực rỡ giữa đoàn phụ nữ đông đảoHãy xem vua Uggasena đến." PTS vp En 288

Khi ngài rời khỏi kinh thành, Đại Sĩ bằng thần lực của mình làm xuất hiện trong cõi long xà một bức tường bao quanh bằng bảy loại châu báu, các cổng tháp, và con đường dẫn đến cư sở của long xà được trang hoàng rực rỡ. Theo con đường này, vua cùng đoàn tùy tùng tiến vào cung điện và nhìn thấy một nơi chốn tuyệt đẹp với các lâu đài trong đó.

Để giải thích điều này, Đức Bổn Sư nói:

"Vua của xứ Kāsi nhìn thấy mặt đất rải cát vàng,
Hoa san hô đẹp rải rắc xung quanh, tháp vàng khắp nơi.

"Rồi vua đi vào các điện đường thần thánh của Campeyya,
Sáng rực như sét đánh hay mặt trời đỏ rực.

"Vào các điện đường thần thánh của Campeyya vua bước chân vào:
Ngàn hương thơm tỏa trong không khí, ngàn cây tỏa bóng mát.

"Vào cung điện của Campeyya một lần vua đã bước vào:
Đàn thiên cầm tấu nhạc, các long nữ xinh đẹp ca múa."

PTS vp Pali 465 "Ngài được tiếp đón trên một ghế ngồi bằng vàng
Có đệm và có hương gỗ đàn,
Nơi đoàn phụ nữ xinh đẹp đông đảo
Bước đi trong các điện đường ấy với bàn chân sải rộng."

Vừa ngồi vào đó, người ta dọn cho ngài thức ăn thần tiên hương vị tuyệt hảo, và cũng đưa đến cho mười sáu ngàn phụ nữ và phần còn lại của đoàn tùy tùng. Trong bảy ngày, ngài cùng đoàn tùy tùng thưởng thức thức ăn và đồ uống thần tiên và tận hưởng mọi thứ vui thú. Ngồi trong ghế tốt đẹp của mình, ngài ca ngợi oai nghi của Đại Sĩ. "Hỡi Long vương," ngài hỏi, "tại sao ngài lại từ bỏ tất cả sự huy hoàng này để nằm trên ổ kiến, ở cõi người, và giữ giới trai giới?" Người kia kể lại cho ngài nghe.

Để giải thích điều này, Đức Bổn Sư nói:

"Ở đó vua hân hoan dừng chân.Rồi ngài nói với Campeyya:'Những lâu đài của ngài thật tráng lệ!Đỏ như mặt trời chúng chiếu sáng.Trên trần thế chẳng có gì như vậy:Sao ngài muốn làm ẩn sĩ?
"'Những nàng thiếu nữ xinh đẹp đó đứng đây,Với những ngón tay thon thả cầmThức uống trong đôi tay đỏ thắm,Thân và ngực vấn vàng.Trên trần thế chẳng có gì như vậy:Sao ngài muốn làm ẩn sĩ? PTS vp En 289
PTS vp Pali 466 "'Sông hồ, ao cá, sáng như gương,Mỗi nơi có cầu thang xây đẹp,Trên trần thế chẳng có gì như vậy:Sao ngài muốn làm ẩn sĩ?
"'Cò trắng, công, thiên nga thiên đường,Những duyên dáng của chim cu như vậy,Trên trần thế chẳng có gì như vậy:Sao ngài muốn làm ẩn sĩ?
"'Xoài, cây sāl, và tilaka mọc lên,Cassia, kèn hoa nở đầy,Trên trần thế chẳng có gì như vậy:Sao ngài muốn làm ẩn sĩ?
"'Nhìn những ao hồ kìa! Và tỏa quaHương thơm thần thánh trên mọi bờ:Trên trần thế chẳng có gì như vậy:Sao ngài muốn làm ẩn sĩ?'"
"'Không phải vì mạng sống, con cái hay tài sảnMà ta đấu tranh với chính mình;Đó là lòng tham muốn của ta, nếu ta có thể,Được tái sinh một lần nữa làm Người.'"

Vua đáp lại câu trả lời này:

"Ăn mặc bảnh bao, mắt đỏ và mờ đục,Vai rộng, đầu cạo, và râu,Như một Thiên vương ngỏ lờiVới cả thế gian, bôi hương gỗ đàn.
"Đại lực, thần thông vô cùng,Chúa tể của mọi dục lạc, hãy ngả lòng,Long vương, để trả lời câu hỏi của ta —Cõi ngài vượt trội cõi ta như thế nào?"

PTS vp Pali 467 Long vương đáp như sau:

"Sự kiểm soát và thanh tịnh chỉ đếnKhi người ta ở trong cõi người,Chỉ ở đó thôi: một khi làm người, ta sẽ không bao giờThấy sinh hay tử nữa."

Vua lắng nghe và đáp:

"Quả thật tốt lành khi kính ngưỡng bậc trí
Trong đó trí tuệ sâu xa và tư tưởng cao vời nảy sinh.
Khi ta nhìn ngươi và tất cả các nàng thiếu nữ này,
Ta sẽ làm nhiều thiện hành."

Long vương nói với ngài:

"Quả thật tốt lành khi kính ngưỡng bậc trí
Trong đó trí tuệ sâu xa và tư tưởng cao vời nảy sinh.
Khi ngươi nhìn ta và tất cả các nàng thiếu nữ này,
Hãy làm nhiều thiện hành." PTS vp En 290

Sau lời nói đó, Uggasena muốn ra đi và từ giã: "Hỡi Long vương, ta đã ở đây lâu rồi và ta phải về." Đại Sĩ chỉ vào kho báu của mình và đề nghị ngài lấy bất kỳ thứ gì mình muốn, nói rằng:

"Ta từ bỏ nó, vàng vô số,Những đống bạc cao như cây, hãy nhìn đây!Hãy lấy và xây tường bằng bạc,Hãy lấy và làm nhà bằng vàng.
PTS vp Pali 468 "Ngọc trai, năm ngàn gánh, theo ta ước đoán,Với san hô đỏ hồng xen giữa,Hãy lấy và rải ra trong cung điện ngươiCho đến khi không còn thấy đất hay bụi bẩn.
"Một lâu đài như ta kể đâyHãy xây, và ở đó, hỡi đại vương! Ngươi hãy ngự:Thành Ba-la-nại sẽ giàu có:Hãy trị vì nó bằng trí tuệ, trị vì nó tốt đẹp."

Vua đồng ý với đề nghị đó. Rồi Đại Sĩ cho gióng trống đi khắp kinh thành: "Hãy để tất cả người hầu của vua lấy bất kỳ thứ gì họ muốn từ kho báu của ta, vàng và vàng ròng!" Và ngài cho chở kho báu đến vua trên vài trăm xe thùng. Sau đó vua rời cõi long xà với oai nghi lớn lao và trở về Ba-la-nại. Từ đó trở đi, người ta nói, khắp cõi Ấn Độ, đất đai đều là vàng.

Kết thúc bài pháp, Đức Bổn Sư nói: "Như vậy, các bậc trí tuệ thuở xưa đã từ bỏ những vinh quang của cõi long xà để giữ giới trai giới." Rồi Ngài xác định kiếp tái sinh: "Lúc bấy giờ, Devadatta là thầy phù chú bắt rắn, mẹ của Rāhula là Sumanā, Sāriputta là Uggasena, còn ta chính là Long vương Campeyya."

---

The Jātaka, or Stories of the Buddha's Former Births, biên tập bởi E.B. Cowell, xuất bản bởi The Cambridge University Press.

  • Tập 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.
  • Tập 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.
  • Tập 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
  • Tập 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.
  • Tập 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.
  • Tập 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Những bản dịch này thuộc phạm vi công cộng.

Quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006–tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và các cộng sự. Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Bhikkhu Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến