Ja 487Uddalaka Jātaka — Bổn Sinh Uddālaka
Tên Pāli / Sanskrit:Uddālakajātaka
Câu chuyện này Đức Bổn Sư kể khi đang trú tại Jetavana, liên quan đến một người không trung thực. Người này, dù đã quy hướng đức tin dẫn đến giải thoát, vẫn vì mưu cầu sinh kế mà thực hành đủ ba loại gian trá.
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
– Những Chuyện Tiền Thân Đức Phật
– Quyển 14 Pakiṇṇakanipāta
487. Uddalaka Jātaka — Bổn Sinh Uddālaka
"Với răng chưa sạch," v.v. — Câu chuyện này Đức Đạo Sư kể trong khi trú tại Jetavana, về một người bất chính. Người này, dù đã quy y đức tin dẫn đến giải thoát, nhưng để có được nhu cầu sinh sống vẫn thực hành ba loại lừa đảo. Các Tỳ-khưu đem chuyện này ra ánh sáng khi đang trò chuyện trong Đường Đạo Lý: "Người như vậy, thưa huynh đệ, sau khi đã quy y đức tin vĩ đại này của Phật Đà dẫn đến giải thoát, vẫn sống trong lừa dối!" Đức Đạo Sư đến và hỏi họ đang bàn luận chuyện gì. Họ thuật lại. Ngài nói: "Đây không phải lần đầu tiên người ấy gian dối;" rồi nói vậy, Ngài kể câu chuyện quá khứ.
PTS vp Pali 293 Ngày xưa, khi Brahmadatta là vua Benares, vị Bồ-tát là tư tế, người trí tuệ và học rộng. Một ngày kia Ngài đến vườn thượng uyển để vui chơi, và thấy một người kỹ nữ tươi đẹp, Ngài đem lòng yêu, và đến lưu trú cùng nàng. Ngài làm cho nàng mang thai, và khi nàng nhận ra, nàng nói với Ngài: "Thưa Ngài, tôi đang mang thai; khi đứa bé sinh ra, và tôi đặt tên cho nó, tôi sẽ đặt tên theo ông nội của cháu." Nhưng Ngài nghĩ: "Không thể có chuyện danh của một gia đình danh giá lại được trao cho đứa con hoang của con gái nô lệ." Rồi Ngài nói với nàng: "Này thân, cây ở đây gọi là Uddāla, và nàng có thể đặt tên con là Uddālaka vì nó được thai nghén ở đây." Rồi Ngài trao cho nàng một chiếc nhẫn có ấn, và nói: "Nếu là con gái, hãy dùng nhẫn này giúp nuôi nó;
nhưng nếu là con trai, hãy đưa nó đến gặp ta khi nó lớn."
Đúng thời gian, nàng sinh một con trai, và đặt tên là Uddālaka. Khi cậu lớn lên, cậu hỏi mẹ: "Mẹ ơi, cha con là ai?" — "Vị tư tế, con ơi." — "Nếu vậy, con muốn học kinh sách." Vậy nhận chiếc nhẫn từ mẹ, và một học phí cho thầy, cậu lên đường đến Takkasila và học ở đó với một vị thầy danh tiếng thế giới. Trong quá trình học, cậu thấy một nhóm tu sĩ khổ hạnh.
"Những vị này chắc chắn có tri thức hoàn hảo," cậu nghĩ, "ta sẽ học với họ." Vì vậy, khát khao tri thức, cậu từ bỏ đời thế tục, và phục vụ họ trong những công việc tầm thường, cầu xin họ đổi lại bằng cách dạy cho cậu trí tuệ của họ. Vậy họ dạy cậu tất cả những gì họ biết; nhưng trong số cả năm trăm người, không ai trong họ vượt qua cậu về tri thức, cậu là người trí tuệ nhất trong tất cả. Rồi họ tụ họp và bổ nhiệm cậu làm thầy của họ.
Cậu PTS vp En 189 nói với họ: "Thưa chư Ngài, các Ngài luôn sống trong rừng ăn hoa quả và rễ cây; tại sao các Ngài không đi vào con đường của con người?" "Thưa Ngài," họ nói, "người ta sẵn sàng bố thí cho chúng tôi, nhưng họ bắt chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn bằng cách giải thích pháp, họ hỏi chúng tôi câu hỏi: vì sợ điều này mà chúng tôi không bao giờ đến với họ." Cậu đáp: "Thưa chư Ngài, nếu có ta đây, dù vị Chuyển Luân Vương hỏi câu hỏi, hãy để ta giải quyết, và đừng lo gì." Vậy cậu đi hành hương cùng họ, tìm kiếm khất thực, và cuối cùng đến Benares, PTS vp Pali 299 và ở lại trong vườn thượng uyển của nhà vua.
Hôm sau, cùng với tất cả họ, cậu đi khất thực trong một ngôi làng trước cổng thành. Người ta bố thí rất nhiều. Hôm sau, các tu sĩ khổ hạnh đi qua thành phố, người ta bố thí rất nhiều.
Vị tu sĩ khổ hạnh Uddālaka cảm tạ, chúc phúc cho họ và trả lời các câu hỏi. Người ta được cảm kích, cho tất cả những gì họ cần với số lượng dồi dào. Cả thành phố xôn xao với tin: "Một vị thầy trí tuệ đã đến, một tu sĩ thánh thiện," và nhà vua nghe được tin đó.
"Họ sống ở đâu?" nhà vua hỏi. Người ta trả lời: "Trong vườn thượng uyển." "Tốt lắm," vua nói, "hôm nay ta sẽ đến xem họ." Một người đến báo cho Uddālaka: "Hôm nay nhà vua sẽ đến xem các Ngài." Cậu triệu tập nhóm họp lại, và nói: "Thưa chư Ngài, nhà vua sắp đến: hãy lấy lòng những người quyền quý trong một ngày, thế là đủ cho cả đời." "Chúng tôi phải làm gì, thưa thầy?" họ hỏi. Cậu nói: "Một số trong các vị hãy thực hiện khổ hạnh đánh đu, một số ngồi xổm trên đất, một số nằm trên giường đinh, một số thực hành khổ hạnh năm ngọn lửa, một số khác xuống nước, một số khác lại tụng kinh ở chỗ này hay chỗ kia." Họ làm như cậu chỉ.
Bản thân cậu cùng mười người trí tuệ ngồi trên chiếc ghế có tựa đầu được chuẩn bị sẵn, đang tranh luận, bên cạnh là một cuốn sách đẹp đặt trên một giá sách đẹp, và khán giả vây quanh. Đúng lúc đó nhà vua với vị tư tế và một đoàn tùy tùng đông đảo bước vào vườn, và khi thấy tất cả họ chìm đắm trong những khổ hạnh giả tạo, vua vui lòng và nghĩ: "Họ không còn sợ hãi về các trạng thái xấu về sau." PTS vp Pali 300 Tiến đến Uddālaka, vua chào đón thân ái và ngồi sang một bên; rồi trong niềm vui lòng, bắt đầu nói chuyện với vị tư tế, và đọc bài kệ đầu tiên:
"Với răng chưa sạch, và áo lông dê và tóc
Tất cả rối bù, đang lẩm bẩm lời kinh trong an bình:
Chắc chắn họ không tiếc sức người để đạt điều tốt lành,
Chắc chắn họ biết Chân Lý, đã đạt Giải Thoát." PTS vp En 190
PTS vp Pali 300 Nghe điều này, vị tư tế đáp: "Nhà vua đang vui lòng ở nơi không nên vui lòng, và ta không thể im lặng." Rồi Ngài đọc bài kệ thứ hai:
"Một hiền nhân học rộng có thể làm điều ác, thưa Đại Vương:
Một hiền nhân học rộng có thể thất bại trong việc theo đúng đạo.
Một ngàn Vệ-đà cũng không đảm bảo an toàn,
Thiếu hành động chính đáng, hay cứu thoát khỏi hoàn cảnh xấu."
Uddālaka, khi nghe những lời này, nghĩ thầm: "Nhà vua đang vui lòng với các tu sĩ khổ hạnh, dù họ là thế nào; nhưng người này đến vỗ mõm bò khi nó chạy quá nhanh, đổ bẩn vào đĩa đã sẵn sàng để ăn: ta phải nói chuyện với ông ta." Vậy cậu nói với ông, đọc bài kệ thứ ba:
"Một ngàn Vệ-đà cũng không đảm bảo an toàn,
Thiếu hành động chính đáng, hay cứu thoát khỏi hoàn cảnh xấu:
Vậy thì Vệ-đà hẳn là thứ vô dụng:
Giáo lý chân thật là — hãy tự chế bản thân, hành động đúng đắn."
PTS vp Pali 301 Lúc đó vị tư tế đọc bài kệ thứ tư:
"Không phải vậy: Vệ-đà không phải thứ vô dụng:
Dù hành động với tự chế mới là giáo lý chân thật.
Học tốt Vệ-đà sẽ mang lại danh tiếng,
Nhưng bằng hành xử đúng đắn ta đạt đến hạnh phúc."
Bây giờ Uddālaka nghĩ: "Không ổn chút nào khi không hòa thuận với người này. Nếu ta nói với ông ấy rằng ta là con ông, ông ắt phải yêu mến ta; ta sẽ nói với ông ấy rằng ta là con ông." Rồi cậu đọc bài kệ thứ năm:
"Ông có thật sự là Uddālaka không?" ông hỏi. "Có," cậu đáp. Rồi ông nói: "Ta đã trao cho mẹ ông một vật kỷ niệm, nó ở đâu?" Cậu nói: "Đây, thưa Bà-la-môn," và đưa cho ông chiếc nhẫn. Vị Bà-la-môn nhận ra chiếc nhẫn và nói: "Không còn nghi ngờ gì nữa, ông là Bà-la-môn; nhưng ông có biết bổn phận của một Bà-la-môn không?" Ông hỏi về những bổn phận này qua lời của bài kệ thứ sáu:
PTS vp Pali 302 "Điều gì làm nên Bà-la-môn? Ông ấy có thể hoàn thiện bằng cách nào? Hãy nói cho ta biết điều này:
Người chính trực là gì, và bằng cách nào ông ấy đạt đến phúc lạc Niết-bàn?"
Uddālaka giải thích trong bài kệ thứ bảy:
"Từ bỏ thế gian, bằng lửa, ông thờ phụng,
Đổ nước, dựng cột tế lễ:
Người ta ca ngợi ông như người làm đúng bổn phận,
Và một Bà-la-môn như vậy đạt được an bình tâm hồn."
Vị tư tế lắng nghe lời giải thích về bổn phận Bà-la-môn của cậu, nhưng tìm ra lỗi trong đó, đọc bài kệ thứ tám như sau:
"Không phải việc rảy nước làm cho Bà-la-môn thanh tịnh, đây không phải sự hoàn thiện,
Cũng không phải an bình hay tử tế mà ông đạt được, cũng chẳng phải phúc lạc Niết-bàn." PTS vp En 191
Lúc đó Uddālaka hỏi: "Nếu điều này không làm cho Bà-la-môn, vậy điều gì mới làm?" đọc bài kệ thứ chín:
"Điều gì làm nên Bà-la-môn? Ông ấy có thể hoàn thiện bằng cách nào? Hãy nói cho ta biết điều này:
Người chính trực là gì? Và bằng cách nào ông ấy đạt đến phúc lạc Niết-bàn?"
PTS vp Pali 303 Vị tư tế trả lời bằng cách đọc một bài kệ khác:
"Ông ta không có ruộng đất, của cải, ước muốn, thân thuộc,
Không quan tâm đến mạng sống, không tham dục, không đường lối ác:
Ngay cả một Bà-la-môn như vậy sẽ đạt được an bình tâm hồn,
Cũng như người ta ca ngợi ông như người trung thành với bổn phận."
Sau đó Uddālaka đọc một bài kệ:
"Khattiya, Bà-la-môn, Vessa, Sudda, và Candāla, Pukkusa,
Tất cả những ai này có thể từ bi, có thể đạt phúc lạc Niết-bàn:
Trong số các thánh nhân, ai là người tệ hơn hay tốt hơn?"
Rồi vị Bà-la-môn đọc một bài kệ, để chỉ ra rằng không có cao hay thấp từ khoảnh khắc đạt được thánh nhân:
"Khattiya, Bà-la-môn, Vessa, Sudda, và Candāla, Pukkusa,
Tất cả những ai này có thể từ bi, có thể đạt phúc lạc Niết-bàn:
Trong số các thánh nhân không tìm thấy ai tệ hơn hay tốt hơn."
Nhưng Uddālaka tìm lỗi trong điều này, đọc hai bài kệ:
"Khattiya, Bà-la-môn, Vessa, Sudda, và Candāla, Pukkusa,
Tất cả những ai này có thể có đức hạnh, và tất cả đều đạt Niết-bàn:
Trong số các thánh nhân không tìm thấy ai tệ hơn hay tốt hơn.
Vậy thì ông là Bà-la-môn không vì lý do gì: địa vị ông là vô ích, ta hiểu vậy."
PTS vp Pali 304 Đây vị tư tế đọc hai bài kệ nữa, cùng một ví dụ:
"Với vải nhuộm nhiều màu sắc, người ta có thể dựng lán trại:
Mái, một vòm nhiều màu sắc: một màu là bóng râm.
"Cũng vậy, khi người ta được thanh tịnh, như vậy ở đây trên cõi đời:
Người thiện nhận ra rằng họ là thánh nhân, và không bao giờ hỏi về xuất thân của họ."
Bây giờ Uddālaka không thể bác bỏ điều này, nên cậu ngồi im. Rồi vị Bà-la-môn nói với nhà vua: "Tất cả những người này là kẻ bất chính, thưa Đại Vương, cả Ấn Độ sẽ đi đến hủy diệt vì sự bất chính. Hãy thuyết phục Uddālaka từ bỏ cuộc sống tu khổ hạnh và làm tư tế dưới quyền ta; hãy để những người còn lại bỏ tu khổ hạnh, trao cho họ khiên và giáo và cho họ thành người của ngài." Nhà vua đồng ý và làm vậy, và tất cả họ bước vào phục vụ nhà vua.
Khi Đức Đạo Sư kết thúc bài thuyết pháp này, Ngài nói: "Đây không phải lần đầu tiên, thưa các Tỳ-khưu, người ấy là kẻ bất chính." Rồi Ngài nhận diện Bổn Sinh: "Lúc đó người Tỳ-khưu bất chính là Uddālaka, Ānanda là nhà vua, và chính ta là vị tư tế."
Jātaka, hay Những Chuyện Tiền Thân Đức Phật, biên soạn bởi E.B. Cowell, xuất bản bởi Nhà xuất bản Đại học Cambridge.
- Tập 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.
- Tập 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.
- Tập 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
- Tập 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.
- Tập 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.
- Tập 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.
Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Quý vị tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào.
Được số hóa, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006 – tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và các cộng sự. Cảm ơn Kho lưu trữ Văn bản Thiêng liêng đã cung cấp các văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.
Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-khưu Sujato.
Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.
🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.