Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 465Jātaka 465: Bhaddasāla Jātaka — Chuyện Cây Bhadda-Sāla

Tên Pāli / Sanskrit:Bhaddasālajātaka

📖5,022 từ · ~20 phút đọc
2
Tóm tắt

Câu chuyện này bậc Đạo Sư kể tại Jetavana, về việc làm điều lành cho thân bằng quyến thuộc của mình.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Jātaka 465: Bhaddasāla Jātaka — Chuyện Cây Bhadda-Sāla

Những Câu Chuyện Tiền Thân Của Đức Phật

Quyển 12: Dvadasanipāta (Nhóm Mười Hai Kệ)

---

465. Bhaddasāla Jātaka

"Ngươi là ai..." v.v. — Câu chuyện này được Bậc Đạo Sư kể lại khi Ngài đang cư trú tại Jetavana, nhân đề tài làm điều thiện cho thân quyến. Tại Sāvatthī, trong nhà của Trưởng giả Anāthapiṇḍika, luôn có thực phẩm thường trực dâng cúng năm trăm vị Tỳ-khưu; Tỳ-khưu-ni Visākhā và vua xứ Kosala cũng duy trì tập tục tương tự. Nhưng trong cung vua, dẫu thức ăn phong phú và tinh hảo, chẳng ai thân thiết với chư Tăng. Hệ quả là chư Tỳ-khưu không bao giờ thọ thực trong cung, mà mang bình bát đến thọ thực tại nhà Anāthapiṇḍika, của Visākhā hoặc những thí chủ đáng tin cậy khác.

Một hôm nhà vua truyền: "Có lễ vật đã đến; hãy mang tới cúng dường chư Tăng", rồi sai mang đến trai đường. Người đưa tin trở về báo rằng chư Tỳ-khưu không có mặt ở đó. Vua hỏi: "Họ đi đâu rồi?" Đáp rằng các Ngài đang ngồi thọ thực trong nhà của thí chủ thân thiết. Nhân đó, nhà vua sau bữa thọ trai buổi sáng đến yết kiến Bậc Đạo Sư và thưa: "Bạch Tôn giả, thức ăn nào là ngon nhất?" Ngài đáp: "Thức ăn của tình thân hữu là ngon nhất, tâu đại vương; dù cháo chua do bạn hữu dâng tặng cũng trở nên ngọt ngào." "Bạch Tôn giả, vậy chư Tỳ-khưu tìm thấy tình hữu nghị ở đâu?" "Ở nơi thân quyến của các Ngài, tâu đại vương, hoặc trong các gia đình dòng Thích-ca (Sakya)."

Nhà vua liền nghĩ: "Ta hãy nạp một cô gái dòng Thích-ca làm chánh hậu; như vậy chư Tỳ-khưu sẽ trở thành bạn hữu với ta, như thể trong thân tộc." PTS vp Pali 145. Vua từ chỗ ngồi đứng dậy, trở về hoàng cung, sai sứ đến Kapilavatthu với thông điệp: PTS vp En 92. "Xin hãy ban cho trẫm một người con gái để kết thành hôn phối, vì trẫm muốn kết thân với quý tộc các ngài." Nhận được tin này, người Thích-ca họp mặt và bàn luận.

"Chúng ta sống dưới quyền uy của vua Kosala; nếu từ chối, ngài sẽ nổi giận; nếu gả, phong tục dòng tộc sẽ bị phá vỡ. Chúng ta phải làm gì?" Khi ấy Mahānāma nói: "Đừng lo lắng. Ta có một con gái tên Vāsabhakhattiyā.

Mẹ nàng là một nô tỳ tên Nāgamuṇḍā; nàng khoảng mười sáu tuổi, dung nhan tuyệt đẹp, có tướng tốt và về phía cha dòng dõi quý phái. Chúng ta sẽ gởi nàng đi, như một tiểu thư xuất thân dòng dõi cao quý." Người Thích-ca đồng ý, cho triệu sứ giả đến, nói rằng sẵn sàng gả một tiểu thư dòng tộc, và mời họ đưa nàng đi ngay.

Nhưng sứ giả suy nghĩ: "Người Thích-ca rất kiêu ngạo về huyết thống. Nếu họ gửi một cô gái không thuộc dòng tộc mà nói là có thì sao? Ta sẽ chỉ nhận người nào ăn chung bàn với họ." Họ đáp: "Được, chúng tôi sẽ nhận, nhưng chỉ nhận người ăn chung với các ngài."

Người Thích-ca sắp xếp chỗ trú cho sứ giả, rồi băn khoăn không biết làm thế nào. Mahānāma nói: "Đừng lo; ta sẽ tìm cách. Đến giờ ăn của ta, hãy dẫn Vāsabhakhattiyā vào, trang phục đẹp đẽ; khi ta vừa ăn một miếng, hãy mang thư đến và thưa: 'Thưa chủ, vua như vậy đã gửi thư đến ngài; kính mời ngài nghe ngay.'"

Họ đồng ý; lúc ông đang dùng bữa, cô gái được trang điểm, mặc trang phục lộng lẫy. "Hãy dẫn con gái ta vào, cho nó ngồi ăn với ta", Mahānāma truyền. "Thưa ngay khi nó trang điểm xong", họ đáp và sau chốc lát dẫn nàng vào. Vì muốn ăn cùng cha, nàng nhúng tay vào đĩa ăn chung. Mahānāma đã ăn một miếng cùng nàng, nuốt xong; nhưng vừa giơ tay lấy miếng thứ hai thì người ta mang thư đến: "Thưa ngài, vua như vậy đã gửi thư đến: xin ngài nghe ngay." Mahānāma nói: "Con cứ ăn đi", PTS vp Pali 146. rồi giữ tay phải trong đĩa ăn, tay trái cầm thư xem qua. Trong lúc ông đọc thư, thiếu nữ tiếp tục ăn. Ăn xong, ông rửa tay súc miệng. Sứ giả hoàn toàn tin chắc nàng là con gái Mahānāma, vì không đoán được điều bí ẩn.

Mahānāma tiễn con gái đi với lễ nghi trọng thể. Sứ giả đưa nàng đến Sāvatthī, tâu rằng thiếu nữ này là con gái chính thức của Mahānāma. Nhà vua hài lòng, truyền trang hoàng cả kinh thành, đặt nàng lên đống châu báu, dùng nghi lễ quán đỉnh lập nàng làm chánh hậu. Nàng trở thành người mà vua yêu quý và sủng ái.

Ít lâu sau, chánh hậu thụ thai; vua truyền thực hiện các biện pháp chăm sóc thích hợp; sau mười tháng, nàng hạ sinh một hoàng tử có làn da màu vàng nâu. Ngày đặt tên, vua sai người đến thưa với bà nội và hỏi đặt tên gì. Người đưa tin hơi điếc; đến nơi, ông ta truyền đạt lại với bà nội. Bà nghe xong nói: "Kể cả khi Vāsabhakhattiyā chưa sinh được con trai, bà ta đã hơn tất cả mọi người rồi; nay lại càng trở thành báu vật của nhà vua." Người điếc không nghe rõ chữ "báu vật" (darling), tưởng bà nói "Vidudabha"; ông quay về tâu vua phải đặt tên hoàng tử là Vidudabha. Vua nghĩ đây hẳn là tên truyền thống của gia tộc và đặt tên hoàng tử là Vidudabha.

Sau đó, hoàng tử trưởng thành trong cung điện với mọi tôn vinh xứng đáng.

Khi được bảy tuổi, thấy các hoàng tử khác được tặng đồ chơi voi, ngựa và nhiều thứ khác từ phía gia đình ngoại, cậu bé hỏi mẹ: "Mẹ ơi, PTS vp En 93. những người kia được ngoại cho quà, còn con thì chẳng ai gửi gì. Mẹ có phải cô nhi không?" Bà đáp: "Con ơi, ông ngoại con là những vị vua Thích-ca, nhưng họ ở rất xa nên không gửi gì đến con." Đến năm mười sáu tuổi, cậu lại nói: "Con muốn đi thăm gia đình của mẹ." Bà gạt đi: "Con đừng nhắc chuyện ấy.

Con đến đó làm gì?" Nhưng cậu hỏi đi hỏi lại mãi. Cuối cùng bà nói: PTS vp Pali 147. "Thôi thì đi." Cậu xin phép cha rồi lên đường với nhiều tùy tùng.

Vāsabhakhattiyā trước đó đã gởi thư báo: "Mẹ đang sống bình an; xin các bậc thân tộc đừng tiết lộ bí mật gì với con." Nhưng người Thích-ca khi nghe tin Vidudabha đến đã cho tất cả trẻ em rời đi nơi khác. "Không thể tiếp đón cậu ta một cách tôn trọng", họ bảo nhau.

Khi hoàng tử đến Kapilavatthu, người Thích-ca đã tụ họp tại sảnh đường hoàng gia. Hoàng tử đến trước sảnh và chờ đợi. Rồi họ chỉ dẫn: "Đây là ông ngoại, đây là cậu của hoàng tử." Cậu lần lượt đến chào từng người. Dù cúi đầu chào đến mỏi lưng mà chẳng ai đáp lễ, cậu hỏi: "Sao không ai chào lại ta?" Người Thích-ca đáp: "Thưa hoàng tử, các trẻ em đều ở nơi khác cả"; rồi họ đón tiếp cậu linh đình.

Sau vài ngày lưu trú, cậu cùng tùy tùng lên đường trở về. Ngay lúc ấy, một nô tỳ dùng nước sữa rửa sạch chỗ ngồi của cậu trong sảnh đường, vừa làm vừa chửi mắng: "Đây là chỗ ngồi của con trai Vāsabhakhattiyā, con gái đứa nô tỳ!" Một người lính quên cây giáo đang quay lại lấy thì nghe thấy lời nhục mạ hoàng tử Vidudabha. Hỏi ra mới biết Vāsabhakhattiyā là con gái do Mahānāma sinh với một nô tỳ. Anh ta kể lại cho các binh lính; tiếng xôn xao lan nhanh, mọi người đều hét lên: "Họ nói Vāsabhakhattiyā là con gái nô tỳ!" Hoàng tử nghe được. "Phải", cậu nghĩ, "hãy để họ rửa chỗ ta ngồi bằng nước sữa đi! Đến khi ta làm vua, ta sẽ rửa chỗ đó bằng máu tim của họ!"

Trở về Sāvatthī, các cận thần thuật lại toàn bộ sự việc cho nhà vua. Vua nổi giận với người Thích-ca vì đã gả cho vua con gái của một nô tỳ. Ngài cắt giảm tất cả đặc quyền của Vāsabhakhattiyā và con trai, chỉ cấp cho họ những gì dành cho nô tỳ.

Vài ngày sau, Bậc Đạo Sư vào cung và ngồi xuống một chỗ. Nhà vua đến gần, kính chào và thưa: "Bạch Tôn giả, nghe rằng thân tộc của Ngài đã gả cho trẫm con gái của một nô tỳ. Trẫm đã cắt giảm đặc quyền của mẹ con bà ấy và chỉ cấp những gì dành cho nô lệ." Bậc Đạo Sư dạy: "Người Thích-ca đã làm sai, tâu đại vương!

PTS vp Pali 148. Nếu muốn gả ai, họ phải gả người thuộc dòng máu của họ. Nhưng, tâu đại vương, điều này ta muốn nói: Vāsabhakhattiyā là con gái của một vị vua, và trong nhà một vị vua cao quý, nàng đã được thực hiện nghi lễ quán đỉnh; Vidudabha cũng được sinh ra bởi một vị vua cao quý.

Bậc trí nhân xưa đã nói: nguồn gốc của người mẹ thì có quan trọng gì? Dòng dõi của người cha mới là thước đo; và với một người vợ nghèo hèn nhặt củi, họ đã gả cho một vị vua; người con sinh ra từ đó đã đạt được vương quyền trên đất Benares rộng mười hai do-tuần và trở thành vua Kaṭṭhavāhana, Người Vác Củi." Rồi Ngài kể Chuyện Kaṭṭhahāri.

Nhà vua nghe xong hài lòng; nghĩ thầm "Dòng dõi người cha mới là thước đo của con người", liền phục hồi lại đặc quyền xứng đáng cho mẹ con bà ấy.

Bấy giờ vị Tổng tư lệnh quân đội của nhà vua là người tên Bandhula. Vợ ông, Mallikā, son sẻ không con, và ông định gửi bà về Kusinārā, nơi gia đình ngoại của bà. Bà nói: "Tôi sẽ đi sau khi đã đến kính lễ Bậc Đạo Sư." Bà đến Jetavana, kính chào Đức Như Lai rồi đứng một bên.

Ngài hỏi: "Bà đi đâu vậy?" Bà đáp: "Bạch Tôn giả, chồng tôi gởi tôi về nhà." Ngài hỏi: "Tại sao vậy?" Bà thưa: "Bạch Tôn giả, tôi son sẻ, không có con." Ngài dạy: "Nếu chỉ vậy thôi thì không có lý do gì để bà phải về. Hãy quay lại." Bà rất vui mừng, đảnh lễ Bậc Đạo Sư rồi về nhà. Chồng bà hỏi sao lại trở về.

Bà đáp: "Đấng Thập Lực sai tôi trở lại, thưa ngài." PTS vp En 94. Tổng tư lệnh nghĩ: "Hẳn Đức Như Lai đã thấy lý do chính đáng." Không lâu sau, người phụ nữ thụ thai, và khi những cơn thèm ăn bắt đầu, bà nói với chồng. Ông hỏi: "Bà muốn gì?" Bà thưa: "Thưa ngài, tôi muốn đi tắm và uống nước từ cái hồ trong thành Vesālī, nơi hoàng gia dùng nước để thực hiện lễ quán đỉnh." Tổng tư lệnh hứa sẽ cố gắng.

Cầm cây cung mạnh hơn nghìn cây cung, ông đặt vợ lên xe ngựa, rời Sāvatthī và lái xe đến Vesālī.

Bấy giờ gần cổng thành có một người Licchavī tên Mahāli, học cùng thầy với Tổng tư lệnh Bandhula của vua Kosala. Người này bị mù và thường cố vấn cho người Licchavī về mọi việc trần thế và tâm linh. Nghe tiếng bánh xe lăn qua ngưỡng cửa, ông nói: "Tiếng xe của Bandhula người Malla! PTS vp Pali 149. Hôm nay người Licchavī sẽ gặp nguy hiểm!" Tại hồ nước có lực lượng canh gác dày đặc, trong lẫn ngoài; phía trên giăng một tấm lưới sắt; ngay cả chim cũng không thể chui qua. Nhưng vị tướng xuống xe, dùng gươm đánh tan lực lượng canh gác, xé toạc lưới sắt, tắm vợ và cho bà uống nước hồ; rồi tự mình tắm xong, đặt Mallikā lên xe và rời thành theo con đường đã đến.

Lính canh báo lại toàn bộ sự việc cho người Licchavī. Các vua Licchavī nổi giận; năm trăm người, mỗi người trên một chiếc xe, lên đường để bắt Bandhula người Malla. Họ báo cho Mahāli biết, và ông nói: "Đừng đi!

Ông ta sẽ giết hết các người." Nhưng họ nói: "Không, chúng tôi vẫn đi." "Thì khi thấy bánh xe lún xuống đến trục, hãy quay lui. Nếu không quay, hãy quay lui khi nghe tiếng sét. Nếu lúc ấy vẫn không quay, hãy quay lui khi thấy cái lỗ phía trước các xe của các người.

Đừng đi tiếp!" Nhưng họ không quay lui theo lời ông, cứ đuổi theo mãi. Mallikā nhìn thấy và nói: "Thưa ngài, có xe đang đến." Ông bảo: "Báo cho ta biết khi nào tất cả trông như một chiếc xe." Khi tất cả xếp thành hàng trông như một, bà báo: "Thưa ngài, trông như chỉ thấy đầu một chiếc xe." "Hãy cầm dây cương", ông nói, trao dây cương vào tay bà; ông đứng thẳng trên xe và giương cung. Bánh xe lún xuống đất đến trục.

Người Licchavī đến nơi, thấy vậy mà không quay lui. Ông tiếp tục một đoạn và bật dây cung; âm thanh vang như tiếng sét, nhưng họ vẫn không quay mà đuổi theo. Bandhula đứng trên xe, bắn một mũi tên; mũi tên xuyên qua đầu cả năm trăm chiếc xe, xuyên qua năm trăm vị vua ngay chỗ thắt lưng, rồi cắm xuống đất.

Họ không biết mình đã trúng thương vẫn tiếp tục đuổi, la hét: "Đứng lại! Đứng lại!" Bandhula dừng xe và nói: "Các người đã chết, và ta không thể đánh với người chết." "Sao cơ?" họ hỏi, "chúng tôi chết trong khi đang sống thế này?" "Hãy tháo thắt lưng của người đầu tiên ra", Bandhula nói.

PTS vp Pali 150. Họ tháo ra, và ngay lúc thắt lưng được tháo, người ấy ngã chết. Rồi ông nói: "Tất cả các người đều trong tình trạng ấy: hãy về nhà, sắp xếp mọi chuyện cần thiết, dặn dò vợ con, rồi cởi áo giáp ra." Họ làm vậy và tất cả đều tắt thở.

Bandhula đưa Mallikā về Sāvatthī. Bà sinh đôi mười sáu lần liên tiếp, tất cả đều là tráng sĩ anh hùng, thành thục mọi tài nghệ. Mỗi người có một nghìn PTS vp En 95. tùy tùng hầu cận, và khi họ cùng cha vào chầu vua, chỉ riêng họ đã lấp đầy sân hoàng cung.

Một ngày, có người bị thua kiện oan vì cáo trạng giả mạo, thấy Bandhula đến thì kêu lớn và cho ông biết các quan tòa đã ủng hộ cáo trạng giả mạo. Bandhula bèn vào tòa, xét xử vụ án và trả lại quyền lợi cho từng người. Đám đông hò reo hoan hô.

Nhà vua hỏi đó là gì, nghe xong rất vui; cách chức tất cả các quan tòa đó và giao cho Bandhula phụ trách tòa án; từ đó ông phán xử công minh. Những quan tòa cũ trở nên nghèo vì không còn nhận hối lộ, bèn vu khống Bandhula với nhà vua, cáo buộc ông đang âm mưu chiếm ngôi báu. Vua nghe những lời đó và không kìm được lòng nghi ngờ.

"Nhưng", vua nghĩ, "nếu giết ở đây, ta sẽ bị chê trách." Vua bèn thuê người quấy rối các vùng biên giới; rồi triệu Bandhula và nói: "Vùng biên đang rối loạn; hãy đem các con đi bắt bọn kẻ cướp." Vua cũng sai theo những chiến binh tài giỏi khác với lệnh bí mật giết Bandhula cùng ba mươi hai con trai và mang về đầu họ.

Khi đang trên đường, bọn cướp thuê đã nghe tin tướng đến và bỏ chạy. Ông ổn định dân chúng trong vùng, trấn an tỉnh thành và lên đường về. Khi sắp đến kinh thành, các chiến binh kia chặt đầu ông và các con trai.

Ngày hôm đó Mallikā đã mời hai vị đệ tử tối thượng cùng năm trăm Tỳ-khưu. Vừa vào buổi sáng sớm, người ta mang thư đến báo rằng chồng và các con bà đều đã bị chặt đầu. PTS vp Pali 151.

Khi nghe tin này, bà không nói với ai một lời, giấu thư vào vạt áo và tiếp tục phục vụ chư Tăng. Các thị nữ đang dâng cơm cho chư Tăng thì khi mang vào một bình ghee, vô tình làm rơi vỡ trước mặt các vị Trưởng lão. Khi ấy Trưởng lão đệ nhất nói: "Bình vốn để vỡ; đừng lo về chuyện đó." Bà liền lấy thư ra khỏi vạt áo: "Đây, tôi có một bức thư báo tin chồng và ba mươi hai con trai của tôi đều đã bị chặt đầu.

Nếu điều đó tôi còn không lo, thì há lại lo khi vỡ một cái bình?" Vị Trưởng lão đệ nhất liền bắt đầu: "Không thấy, không biết..." v.v., rồi đứng dậy thuyết một bài pháp và ra về. Bà triệu ba mươi hai người con dâu lại và nói: "Chồng các con, dù vô tội, đã gặt hái quả báo từ hành nghiệp trước. Đừng đau buồn, và đừng phạm tội của tâm trí còn nặng hơn cả lỗi lầm của nhà vua." Đó là lời khuyên của bà.

Thám tử của vua nghe được lời ấy và báo cáo rằng họ không hề tức giận. Nhà vua cảm thấy xấu hổ và đau khổ, đến chỗ ở của bà, xin lỗi Mallikā và các con dâu, rồi cho họ một điều ước. Bà đáp: "Xin tiếp nhận." Bà dọn mâm cúng tế rồi tắm rửa và đến gặp nhà vua.

"Thưa bệ hạ, ngài đã cho tôi một điều ước. Tôi không cần gì khác ngoài việc xin ngài cho phép ba mươi hai con dâu và tôi được trở về nhà." Vua chấp thuận. Bà gửi từng người con dâu về nhà và tự mình quay về gia đình ở thành Kusinārā.

Nhà vua phong chức Tổng tư lệnh cho Dīgha-Kārayana, cháu trai của Tổng tư lệnh Bandhula. Nhưng người này đi khắp nơi chỉ trích nhà vua, nói: "Ông ta đã giết chú của tôi."

Sau vụ giết hại Bandhula vô tội, nhà vua suốt ngày bị lương tâm cắn xé và không tìm được sự bình an, chẳng còn vui gì với vương vị. Bấy giờ Bậc Đạo Sư đang ở gần một thị trấn của người Thích-ca tên Ulumpā. Nhà vua đến đó, lập trại không xa vườn ngự uyển, rồi với vài tùy tùng đến tu viện đảnh lễ Bậc Đạo Sư. Ngài giao năm biểu hiệu vương quyền lại cho Kārayana và một mình vào Hương Phòng. Tất cả những gì diễn ra tiếp theo phải được mô tả như trong kinh Dhammacetiya. Khi nhà vua PTS vp En 96. vào Hương Phòng, Kārayana lấy những biểu hiệu vương quyền, PTS vp Pali 152. và lập Vidudabha lên làm vua; rồi để lại cho nhà vua một con ngựa và một nữ tỳ, y trở về Sāvatthī.

Sau khi đàm đạo thú vị với Bậc Đạo Sư, nhà vua trở ra thì không thấy quân đội đâu. Ông hỏi người nữ tỳ và biết được sự việc. Ông liền lên đường đến thành Rājagaha, quyết tâm rước cháu trai về rồi bắt Vidudabha. Đến nơi thì trời đã tối và cổng thành đã đóng; nằm trong một cái lán, kiệt sức vì gió và nắng, nhà vua băng hà tại đó.

Khi đêm dần sáng, người nữ tỳ bắt đầu khóc: "Thưa ngài, vua xứ Kosala đã băng hà!" Tiếng kêu được nghe, tin đưa về cho nhà vua. Nhà vua tổ chức tang lễ cho bác với nghi lễ rất trọng thể.

Vidudabha khi đã vững chắc trên ngôi vua nhớ lại mối hận xưa và quyết tâm tiêu diệt toàn bộ người Thích-ca; nhân đó khởi binh với đại quân. Ngày hôm đó khi rạng đông, Bậc Đạo Sư quán sát thế giới và thấy tai họa đang giáng xuống thân tộc. "Ta phải cứu giúp thân quyến", Ngài nghĩ.

Buổi sáng Ngài đi khất thực, sau đó trở về dùng bữa, nằm nghỉ theo tư thế sư tử trong Hương Phòng, rồi vào buổi chiều tối, qua không trung đến một chỗ gần Kapilavatthu, ngồi dưới gốc cây có bóng mát thưa thớt. Gần đó có một cây bồ-đề cổ thụ rậm rạp đứng ở ranh giới của lãnh thổ Vidudabha. Vidudabha thấy Bậc Đạo Sư bèn đến đảnh lễ và thưa: "Bạch Tôn giả, sao Ngài lại ngồi dưới cây thưa thớt như vậy trong cái nóng này?

Xin Ngài ngồi dưới tán cây bồ-đề rậm rạp này." Ngài đáp: "Thôi được, tâu đại vương! Bóng mát của thân quyến ta che chở ta đủ mát mẻ rồi." Vidudabha nghĩ: "Bậc Đạo Sư hẳn đến đây để bảo vệ thân quyến Ngài." Ông đảnh lễ Bậc Đạo Sư rồi quay trở về Sāvatthī. Bậc Đạo Sư đứng dậy và trở về Jetavana.

Lần thứ hai, vua lại nhớ mối hận với người Thích-ca, lại ra đi, và lại thấy Bậc Đạo Sư ngồi ở đó, rồi lại quay về. Lần thứ tư, vua lại xuất phát; nhưng Bậc Đạo Sư, khi quán sát hành nghiệp trước của người Thích-ca, nhận ra rằng không điều gì có thể xóa bỏ quả báo tội lỗi của họ khi đã rải thuốc độc xuống sông; nên lần thứ tư này Ngài không đến nữa. Rồi Vidudabha giết tất cả người Thích-ca, từ trẻ sơ sinh, và dùng máu tim của họ rửa sạch cái sàng, rồi trở về.

Ngày hôm sau kể từ lần thứ ba Bậc Đạo Sư đi về, PTS vp Pali 153. sau khi đi khất thực và thọ thực xong, Ngài đang nghỉ trong Hương Phòng. Chư Tỳ-khưu từ khắp nơi tụ họp vào Giảng đường Chánh Pháp, ngồi lại và bắt đầu nói về đức hạnh của Bậc Đại Sĩ: "Thưa chư Hiền, chỉ cần Bậc Đạo Sư xuất hiện là đã khiến nhà vua quay lui, và giải thoát thân quyến khỏi nỗi sợ cái chết. Bậc Đạo Sư là người bạn hữu có ích cho dòng tộc của Ngài biết bao!" Bậc Đạo Sư vào và hỏi họ đang bàn gì. Họ kể lại. Ngài bèn nói: "Không chỉ bây giờ, thưa chư Tỳ-khưu, mà từ xa xưa Như Lai đã từng hành động vì lợi ích thân quyến của mình." Với những lời đó, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.

---

Thuở xưa, khi Brahmadatta trị vì tại Benares theo Mười Đức Vương, nhà vua nghĩ: "Trên khắp xứ Ấn Độ, các vua ở cung điện có nhiều cột chống đỡ. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên; nhưng nếu ta xây cung điện chỉ với một cột chống đỡ thì sao? Khi đó ta sẽ là vị vua vĩ đại nhất trong các vua!" Ông triệu thợ xây và bảo họ dựng một cung điện tráng lệ chỉ dựa trên một cột. Họ đồng ý và vào rừng tìm kiếm.

Họ trông thấy nhiều cây thẳng và to lớn, xứng đáng làm cột trụ duy nhất cho cung điện đó. PTS vp En 97. "Đây có những cây này", họ nói, "nhưng đường sá gồ ghề, không thể vận chuyển được; ta hãy hỏi nhà vua." Khi họ hỏi, nhà vua nói: "Dù bằng cách nào cũng phải mang chúng về, và thật nhanh." Nhưng họ đáp: "Không cách nào có thể làm được." Nhà vua bèn nói: "Vậy hãy tìm cây trong vườn thượng uyển của ta."

Những người thợ đến vườn thượng uyển và ở đó họ thấy một cây sāl uy nghi, thẳng và sum sê, được làng mạc và thị trấn tôn thờ; cả hoàng gia cũng thường đến dâng lễ vật và tế lễ; họ tâu nhà vua. Nhà vua nói: "Các ngươi đã tìm được cây trong vườn của ta rồi: tốt lắm — hãy đi chặt nó đi." Họ làm vậy và đến vườn thượng uyển với vòng hoa thơm và các thứ khác trong tay; rồi treo lên cây một vòng hoa năm cành, buộc một sợi dây quanh cây, buộc một bó hoa lên đó, thắp đèn lên và tế lễ, giải thích: PTS vp Pali 154. "Bảy ngày nữa chúng ta sẽ chặt cây này: đó là lệnh của nhà vua. Xin thần linh cư ngụ trong cây này hãy đi sang chỗ khác, và đừng để tội lỗi đổ lên đầu chúng ta."

Vị thần cư ngụ trong cây nghe xong, nghĩ thầm: "Những người thợ này nhất quyết chặt cây và phá hủy chỗ ở của ta. Mà sinh mệnh của ta chỉ tồn tại khi nơi cư ngụ này còn đây. Và tất cả những cây sāl non mọc quanh đây, nơi cư ngụ của các thần linh thân quyến của ta, mà họ đông lắm, sẽ bị hủy diệt. Sự hủy diệt của bản thân ta không làm ta đau lòng bằng sự hủy diệt của con cái ta: vì vậy ta phải bảo vệ sinh mệnh của chúng." Theo đó, vào lúc nửa đêm, trang điểm uy nghi thần thánh, ngài đi vào phòng ngủ tráng lệ của nhà vua, tỏa sáng khắp phòng với ánh hào quang rực rỡ, rồi đứng khóc bên đầu giường nhà vua. Nhìn thấy ngài, nhà vua kinh sợ và đọc bài kệ đầu tiên:

---

"Ngươi là ai, đứng giữa không trung, khoác y phục thiên giới:
Lo sợ từ đâu đến, sao đôi mắt ngươi đẫm lệ?"

---

Nghe vậy, vị thần linh vương đọc hai bài kệ:

---

"Trong lãnh thổ ngài, tâu Đại Vương, ta được biết là Cây Lành Tốt:
Sáu mươi nghìn năm ta đứng đây, và muôn người tôn kính ta.

"Dẫu nhiều làng mạc và nhà ở được xây, dẫu nhiều cung vua xuất hiện,
Chưa ai từng quấy rầy ta, chẳng ai mang hại đến cho ta:
Vậy như họ đã dâng lễ tế, xin ngài cũng hãy tôn kính, tâu Đại Vương!"

---

PTS vp Pali 155. Rồi nhà vua đọc hai bài kệ:

---

"Nhưng một thân cây hùng vĩ như vậy ta chưa từng thấy,
Cao lớn, khỏe mạnh, rậm rạp đến thế.

"Ta sẽ xây một cung điện tuyệt vời, một cột duy nhất chống đỡ:
Đó sẽ là chỗ ngài ngự — PTS vp En 98. cuộc đời ngài sẽ chẳng ngắn ngủi."

---

Nghe vậy, vị thần linh vương đọc hai bài kệ:

---

"Vì ngài nhất quyết tách thân xác ta ra khỏi ta, hãy chặt ta cho nhỏ,
Chặt ta từng phần từng đoạn, tâu Đại Vương, hoặc đừng chặt gì cả.

PTS vp Pali 156. "Hãy chặt ngọn trước, giữa kế tiếp, rồi sau cùng là gốc của ta:
Và nếu ngài chặt như vậy, tâu Đại Vương, cái chết sẽ không đau đớn."

---

Rồi nhà vua đọc hai bài kệ:

---

"Trước tay và chân, rồi mũi và tai, trong khi nạn nhân vẫn còn sống,
Và sau cùng mới để đầu rơi — đó là cái chết đau đớn.

"Ôi Cây Lành Tốt! Ôi Vua Rừng! Ngài có thể cảm thấy vui gì,
Tại sao, vì lý do gì ngài lại muốn bị chặt từng mảnh như vậy?"

---

Rồi Cây Lành Tốt đáp bằng hai bài kệ:

---

"Lý do (và đó là lý do cao quý) tại sao từng phần
Ta muốn bị chặt, tâu đại vương hùng mạnh! Hãy lắng nghe khi ta kể.

"Thân quyến ta, sum sê và thịnh vượng, đứng xung quanh ta được che chở tốt:
Nếu ta ngã một cái, ta sẽ đè bẹp chúng — và nỗi đau của chúng sẽ rất lớn."

---

PTS vp Pali 157. Nhà vua nghe vậy, rất vui mừng: "Đây là vị thần cao quý", ông nghĩ, "ngài không muốn thân quyến mất chỗ cư ngụ chỉ vì ngài mất chỗ ở; ngài hành động vì lợi ích thân quyến." Và ông đọc bài kệ còn lại:

---

"Ôi Cây Lành Tốt! Ôi Vua Rừng! Tư tưởng của ngài phải thật cao quý:
Ngài muốn che chở thân quyến, vì vậy ta giải thoát ngài khỏi sợ hãi."

---

Vị thần linh vương, sau khi đã thuyết phục vị vua này, rời đi. Và nhà vua, được an lập theo lời giáo huấn của ngài, bố thí và làm các việc lành khác, cho đến khi ông đi để gia nhập hàng ngũ thiên chúng.

---

Bậc Đạo Sư kết thúc bài pháp thoại này và nói: "Như vậy, thưa chư Tỳ-khưu, Như Lai hành động để mang lại lợi ích cho thân quyến của mình"; rồi Ngài xác định tiền thân: "Lúc bấy giờ Ānanda là nhà vua, các đệ tử của Đức Phật là các thần linh cư trú trong những cây sāl non, và ta chính là Cây Lành Tốt, vua của các thần linh."

---

Tập Jātaka, hay Những Câu Chuyện Tiền Thân Của Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, xuất bản bởi Cambridge University Press.

  • Quyển 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.
  • Quyển 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.
  • Quyển 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
  • Quyển 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.
  • Quyển 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.
  • Quyển 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Những bản dịch này thuộc phạm vi công cộng.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Bhikkhu Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến