Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 463Suppārakajātaka — Tiền Thân Thuyền Trưởng Supparaka

Tên Pāli / Sanskrit:Suppārakajātaka

📖2,417 từ · ~10 phút đọc
2
Tóm tắt

Câu chuyện này được Đức Bổn Sư kể trong thời gian Ngài trú tại Jetavana, nhân duyên liên quan đến sự Viên mãn Trí tuệ.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân Đức Phật

Quyển 11 Ekadasanipāta

463. Suppārakajātaka

"Những kẻ mõm dao nhọn…" v.v. Câu chuyện này Bậc Đạo Sư kể khi ngụ tại Kỳ Viên, về sự Viên Mãn Trí Tuệ. Một hôm, ta được kể, vào buổi chiều tà, chư Tỳ-khưu đang chờ Đức Như Lai đến thuyết pháp, và khi ngồi trong Giảng đường Chánh pháp, họ đang nói với nhau: "Thưa đạo hữu, Bậc Đạo Sư có trí tuệ vĩ đại!

Trí tuệ rộng lớn! Trí tuệ mau lẹ! Trí tuệ nhanh nhạy!

Trí tuệ sắc bén! Trí tuệ thâm nhập! Trí tuệ của Ngài chọn đúng phương pháp cho đúng thời điểm; rộng như thế gian, như đại dương bất khả trắc, như bầu trời trải rộng: trong khắp Ấn Độ không có người trí nào sánh được với Dasabala.

Như một làn sóng nổi lên trên biển cả không thể đến bờ, hay nếu đến bờ thì tan vỡ; PTS vp Pali 137 cũng vậy, không ai có thể sánh kịp Dasabala về trí tuệ, hay nếu đến được dưới chân Bậc Đạo Sư thì tan vỡ." Bằng những lời này, họ ngợi khen Trí Tuệ Viên Mãn của Dasabala. Bậc Đạo Sư bước vào và hỏi: "Các Tỳ-khưu, các ông đang nói về điều gì khi ngồi ở đây?" Họ kể lại. Ngài nói: "Không chỉ bây giờ Đức Như Lai mới đầy trí tuệ.

Thuở trước, ngay cả khi trí thức của Ngài chưa trưởng thành, Ngài đã thông tuệ. Dù mù lòa, Ngài biết qua các dấu hiệu của đại dương rằng trong đại dương có ẩn chứa loại ngọc quý như vậy." Rồi Ngài kể câu chuyện quá khứ.

Thuở xa xưa, có một vị vua tên Bharu trị vì vương quốc Bharu. Có một thành phố cảng biển tên Bhārukaccha, hay Đầm Bharu. Lúc đó Bồ-tát sinh ra trong gia đình một thuyền trưởng ở đó; Ngài dễ mến và có màu da vàng ánh. Người ta đặt tên Ngài là Supparaka-kumāra. Ngài lớn lên với danh tiếng lớn lao; và ngay khi mới mười sáu tuổi, Ngài đã hoàn toàn tinh thông nghệ thuật điều hướng tàu thuyền. Sau này khi phụ thân qua đời, Ngài trở thành người đứng đầu các thủy thủ và hành nghề hàng hải: Ngài thông tuệ và đầy thông minh; với Ngài trên tàu, không có con tàu nào gặp nạn.

Đến một lúc, do bị nước mặn làm tổn thương, cả hai mắt Ngài mất thị lực. Sau đó, dù là người đứng đầu các thủy thủ, Ngài không còn hành nghề hàng hải nữa; mà quyết định phục vụ trong triều đình nhà vua, Ngài đến gặp vua với mục đích đó. Và nhà vua bổ nhiệm Ngài vào chức vụ định giá và thẩm định. Từ đó Ngài đánh giá giá trị của những con voi quý, ngựa quý, trân châu và đá quý.

Một hôm người ta dẫn đến cho nhà vua một con voi màu đen như đá tảng, để trở thành voi ngự. Nhà vua liếc nhìn và ra lệnh đưa voi cho người thông tuệ xem. Họ dẫn con vật đến trước mặt Ngài. Người đàn ông dùng tay sờ khắp thân voi và nói: "Con voi này không xứng đáng làm voi ngự. Con voi này có đặc điểm của một con vật bị biến dạng phía sau. Khi mẹ nó sinh ra, bà ta không thể đặt nó lên vai; vì vậy bà ta để nó rơi xuống đất, và do đó nó bị biến dạng ở hai chân sau." Họ hỏi những người đã dẫn voi đến; và họ đáp rằng người thông tuệ nói đúng. PTS vp Pali 138 Khi nhà vua nghe điều này, ông hài lòng và ra lệnh tặng Ngài tám đồng tiền.

Một hôm khác, người ta dẫn đến một con ngựa để làm ngựa ngự của nhà vua. Con này cũng được gửi đến người thông tuệ. Ngài sờ khắp người nó bằng tay, rồi nói: "Con ngựa này không xứng đáng làm ngựa ngự của nhà vua. Ngày con ngựa này sinh ra, mẹ nó chết, và vì không có sữa ngựa mẹ nên nó không lớn lên đúng cách." Lời nói của Ngài cũng đúng. Khi nhà vua nghe điều đó, ông hài lòng và tặng thêm tám đồng tiền.

Hôm khác, người ta mang đến một cỗ xe để làm xe ngự của nhà vua. Cái này nhà vua cũng sai mang đến Ngài. Ngài sờ khắp bằng tay và nói: "Cỗ xe này được làm từ cây rỗng ruột, vì vậy không xứng đáng cho nhà vua." Lời nói này cũng đúng như những lần trước. Nhà vua lại hài lòng khi nghe và tặng thêm tám đồng tiền.

Rồi lại người ta mang đến một tấm thảm quý giá, nhà vua sai mang đến Ngài như trước. Ngài sờ khắp và nói: "Có một chỗ ở đây bị chuột cắn thủng." Họ kiểm tra và tìm thấy chỗ đó, rồi báo lại cho nhà vua. Nhà vua hài lòng và ra lệnh tặng thêm tám đồng tiền.

Bấy giờ Ngài nghĩ: "Chỉ tám đồng tiền, với những điều kỳ diệu như vậy! Đây là khoản thưởng của thợ hớt tóc; ông vua này chắc phải là con trai của một anh thợ hớt tóc. Tại sao ta phải phục vụ ông vua như vậy? Ta sẽ trở về nhà mình." PTS vp En 88 Vậy Ngài trở về cảng Bhārukaccha và sống ở đó.

Xảy ra một lúc, vài thương nhân đã sắm sửa một con tàu và đang tìm thuyền trưởng. "Người Supparaka khéo léo kia," họ nghĩ, "là người thông tuệ và tài giỏi; với ông ta trên tàu, không con tàu nào gặp nạn. Dù mù lòa, Supparaka thông tuệ là người giỏi nhất." Vì vậy họ đến gặp Ngài và xin Ngài làm thuyền trưởng. "Các bạn ơi, ta mù lòa rồi," Ngài đáp, "và làm sao ta có thể lái tàu?" "Dù mù lòa, thưa thầy," thương nhân nói, "ông vẫn là người giỏi nhất." Vì họ khẩn cầu mãi, Ngài cuối cùng đồng ý: "Vì các bạn đặt vào tay ta điều đó," Ngài nói, "ta sẽ là thuyền trưởng của các bạn." PTS vp Pali 139 Rồi Ngài xuống tàu của họ.

Họ buồm ra khơi. Bảy ngày tàu đi suôn sẻ: rồi một cơn gió bất thường nổi lên. Bốn tháng con tàu chao đảo trên đại dương nguyên thủy, cho đến khi đến nơi được gọi là Biển Khuramāla. Ở đây có những con cá mình người, mõm nhọn như dao cạo râu, lặn ngụp dưới nước. Các thương nhân quan sát những sinh vật này và hỏi Đại Nhân biển này tên gì, đọc kệ thứ nhất:

"Những kẻ mõm nhọn như dao cạo râu nổi lên và lặn xuống!
Hãy nói, Supparaka, và cho chúng tôi biết biển này có tên gì?"

Đại Nhân, trả lời câu hỏi này, suy xét trong tâm kiến thức hàng hải của mình, đáp bằng kệ thứ hai—

"Thương nhân từ Bhārukaccha đến, tìm kiếm tài sản,
Đây là đại dương Khuramāla nơi con tàu của các bạn bị lạc đường."

Bây giờ trong đại dương này có kim cương. Đại Nhân suy nghĩ, nếu Ngài bảo họ đây là biển kim cương, vì lòng tham họ sẽ đánh chìm tàu bằng cách vớt kim cương. Vì vậy Ngài không nói gì; mà cho tàu dừng lại, lấy dây thừng và thả lưới như thể đánh cá. Bằng cách này Ngài vớt được một mẻ kim cương và tích trữ trên tàu; rồi Ngài cho quăng những hàng hóa ít giá trị xuống biển.

Con tàu vượt qua biển này và đến một biển khác tên Aggimāla. Biển này tỏa ra hào quang như đống lửa hừng hực, như mặt trời giữa trưa. Các thương nhân hỏi trong kệ—

"Kìa! một đại dương như đống lửa đang cháy, như mặt trời, chúng tôi thấy!
Hãy nói, Supparaka, và cho chúng tôi biết tên của nơi này?"

Đại Nhân đáp họ trong kệ tiếp theo—

PTS vp Pali 140 "Thương nhân từ Bhārukaccha đến, tìm kiếm tài sản,
Đây là đại dương Aggimāla nơi con tàu của các bạn bị lạc đường." PTS vp En 89

Bây giờ trong biển này có vàng dồi dào. Theo cách tương tự như trước, Ngài vớt được một mẻ vàng từ đó và đưa lên tàu. Vượt qua biển này, con tàu tiếp đến một đại dương tên Dadhimāla, lấp lánh như sữa hay sữa chua. Các thương nhân hỏi tên nó trong kệ:

"Kìa! một đại dương trắng như sữa, trắng như sữa chua chúng tôi dường như thấy!
Hãy nói, Supparaka, và cho chúng tôi biết tên của nơi này?"

Đại Nhân đáp họ bằng kệ tiếp theo—

"Thương nhân từ Bhārukaccha đến, tìm kiếm tài sản,
Đây là đại dương Dadhimāla nơi con tàu của các bạn bị lạc đường."

Trong biển này có bạc dồi dào. Ngài thu được theo cách tương tự như trước và đưa lên tàu. Vượt qua biển này, con tàu đến một đại dương tên Nīlavanṇakusamāla, có dáng vẻ như một đám cỏ kusa xanh đậm, hay một cánh đồng lúa. Các thương nhân hỏi tên nó trong kệ:

"Kìa! một đại dương xanh tươi như cỏ, như lúa non chúng tôi dường như thấy!
Hãy nói, Supparaka, và cho chúng tôi biết tên của nơi này?"

Ngài đáp bằng những lời của kệ tiếp theo—

"Thương nhân từ Bhārukaccha đến, tìm kiếm tài sản,
Đây là đại dương Kusamāla nơi con tàu của các bạn bị lạc đường."

Bây giờ trong đại dương này có rất nhiều ngọc lục bảo quý giá. Như trước, Ngài vớt chúng lên và tích trữ trên tàu. Vượt qua biển này, con tàu đến một biển tên Nālamāla, có dáng vẻ như một dải sậy hay một rừng tre. PTS vp Pali 141 Các thương nhân hỏi tên nó trong kệ:

"Kìa! một đại dương như bãi sậy, như rừng tre chúng tôi thấy!
Hãy nói, Supparaka, và cho chúng tôi biết tên của nơi này?"

Đại Nhân đáp bằng kệ sau đây—

"Thương nhân từ Bhārukaccha đến, tìm kiếm tài sản,
Đây là đại dương Nālamāla nơi con tàu của các bạn bị lạc đường."

Bây giờ đại dương này đầy san hô màu như tre. Ngài cũng vớt được loại này và đưa lên tàu.

Sau khi vượt qua Biển Nālamāla, các thương nhân đến một biển tên Vaḷabhamukha. Ở đây nước bị hút đi và dâng lên từ mọi phía; và nước bị hút đi từ khắp phía dâng lên thành những vách dựng đứng để lại một cái hố sâu trông đáng sợ. Sóng nổi lên một bên như bức tường: tiếng ầm ầm kinh hoàng vang lên, như thể muốn làm bể tai và vỡ tim. PTS vp En 90 Nhìn thấy điều này, các thương nhân kinh hoàng và hỏi tên nó trong kệ:

"Nghe tiếng âm thanh dữ dội kinh khủng của một biển cả khổng lồ phi thường!
Kìa một cái hố, và đến vách nước dựng đứng!
Hãy nói, Supparaka, và cho chúng tôi biết tên của nơi này?"

Bồ-tát đáp trong kệ sau đây: "Thương nhân…" v.v., kết thúc—"Đây là đại dương Vaḷabhamukhi…" v.v.

Ngài tiếp tục, PTS vp Pali 142 "Các bạn ơi, một khi con tàu đã vào Biển Vaḷabhamukha thì không có đường trở về. Nếu con tàu này đến đó, nó sẽ bị nhấn chìm và tiêu tan." Bây giờ trên con tàu này có bảy trăm linh hồn, và họ đang sợ hãi cái chết; đồng thanh họ cất lên tiếng khóc than rất thảm thiết, như tiếng khóc của những kẻ đang cháy trong địa ngục thấp nhất. Đại Nhân nghĩ: "Ngoài ta ra, không ai khác có thể cứu họ; ta sẽ cứu họ bằng một Lời Chứng Thực." Rồi Ngài nói to: "Các bạn ơi, hãy tắm rửa cho ta nhanh bằng nước thơm và mặc y phục mới cho ta, chuẩn bị một bình đầy, và đặt ta ở mũi tàu." Họ làm ngay như vậy. Đại Nhân cầm bình đầy trong cả hai tay, và đứng ở mũi tàu, thực hiện Lời Chứng Thực, đọc kệ cuối:

"Từ khi ta nhớ được, từ khi trí tuệ đầu tiên nảy sinh,
Ta chưa bao giờ cướp đi một mạng sống của sinh linh nào, theo ta biết:
Cầu mong con tàu này trở về an toàn nếu lời ta thành thật!"

Bốn tháng con tàu đã đi hành trình ở những vùng xa xôi; và giờ đây như được phú cho sức mạnh siêu nhiên, nó trở về trong một ngày duy nhất đến cảng thị Bhārukaccha, và thậm chí trên đất khô nó đi tiếp, cho đến khi dừng lại trước cửa nhà thuyền trưởng, đã vượt qua một khoảng cách mười một trăm khuỷu tay. Đại Nhân chia đều cho các thương nhân tất cả vàng bạc, đá quý, san hô và kim cương, nói: PTS vp Pali 143 "Kho báu này đủ cho các bạn: đừng đi biển nữa." Rồi Ngài thuyết pháp cho họ; và sau khi làm việc thiện bố thí suốt đời, Ngài ra đi gia nhập hàng ngũ cõi thiên.

Bậc Đạo Sư, sau khi kết thúc bài thuyết giảng này, nói: "Bấy giờ, thưa các Tỳ-khưu, Đức Như Lai rất thông tuệ thuở trước, như bây giờ vậy," và xác định thân phận: "Bấy giờ chúng của Đức Phật là đoàn thương nhân, và chính ta là Supparaka thông tuệ."

Jātaka, hay Những Câu Chuyện Tiền Thân Đức Phật, biên tập bởi E.B. Cowell, xuất bản bởi Cambridge University Press.

  • Tập 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.
  • Tập 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.
  • Tập 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
  • Tập 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.
  • Tập 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.
  • Tập 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1/2006–tháng 2/2010, bởi John Bruno Hare và các cộng sự. Cảm ơn Sacred Texts Archive đã cung cấp các văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-khưu Sujato.

📜Vì sao trong bài có dấu “…”?

Dấu “…” là lối viết tắt có từ chính bản gốc Pāli, gọi là peyyāla. Kinh tạng nguyên thuỷ vốn được tụng thuộc lòng, nên những đoạn lặp lại y nguyên ở bài trước thường được rút gọn lại bằng một dấu lược thay vì chép lại toàn văn. Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu giữ đúng lối ấy. Vì vậy có bài trông ngắn, nhưng đó là hình thức chuẩn mực của kinh điển chứ không phải app thiếu nội dung hay bản dịch bị cắt. Phần bị lược có thể đọc đầy đủ ở các bài liền trước trong cùng phẩm.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến