Ja 442Saṅkhajātaka — Chuyện Tiền Thân Số 442: Bà-la-môn Sankha
Tên Pāli / Sanskrit:Saṅkhajātaka
Câu chuyện này được Đức Bổn Sư kể tại Jetavana, nhân đề tài bố thí tứ vật dụng đầy đủ.
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
– Chuyện Tiền Thân Đức Phật (Jātaka)
– Quyển 10 — Thập Tập (Dasanipāta)
442. Saṅkhajātaka — Chuyện Tiền Thân Số 442: Bà-la-môn Sankha
PTS vp Pali 15 "Thưa bậc Bà-la-môn uyên bác," v.v. — Câu chuyện này được Bậc Đạo Sư thuyết tại Kỳ Viên (Jetavana), nhân dịp một vị cư sĩ dâng cúng đầy đủ tứ vật dụng cho Tăng chúng.
Tại Xá-vệ (Sāvatthī), tương truyền có một vị nam cư sĩ, sau khi nghe lời giảng của Đức Như Lai, tâm ý hoan hỷ, liền thỉnh Ngài ngày hôm sau; trước cửa nhà ông dựng một lễ đường trang hoàng rực rỡ, rồi sai người vào bạch giờ đã đến. Bậc Đạo Sư ngự đến cùng năm trăm vị Tỳ-kheo, an tọa trên pháp tòa trang nghiêm. Vị cư sĩ đã dâng tặng phẩm phong phú lên Tăng đoàn do Đức Phật dẫn đầu, rồi lại thỉnh ngày hôm sau; cứ như vậy trong bảy ngày liên tiếp, ông thỉnh Tăng chúng, dâng phẩm vật, và đến ngày thứ bảy, ông cúng dường đầy đủ tứ vật dụng của người xuất gia.
Trong buổi dâng cúng đó, ông tặng riêng một phần giày đặc biệt: đôi giày cúng dường lên Đức Phật trị giá một ngàn đồng tiền vàng; đôi cúng cho hai vị Thượng Thủ Thanh Văn trị giá năm trăm; và giày trị giá một trăm được tặng cho mỗi vị trong số năm trăm Tỳ-kheo còn lại. Sau khi hoàn tất buổi dâng cúng đủ mọi vật dụng cho Tăng chúng, ông cùng đại chúng ngồi trước Đức Thế Tôn. Bậc Đạo Sư với giọng ngọt ngào dịu dàng tuyên thuyết lời tán thán: "Thí chủ, sự bố thí của thí chủ thật vô cùng phong phú; hãy hoan hỷ.
Thuở xưa, trước khi Đức Phật xuất thế, đã có những người chỉ nhờ dâng tặng một đôi giày cho một vị Phật Độc Giác (Pacceka Buddha) mà, do phước báu của vật thí đó, đã tìm được nơi nương tựa trên biển khơi khi không có nơi nương tựa nào; còn thí chủ đã dâng cúng đầy đủ tứ vật dụng lên toàn thể Tăng đoàn của Đức Phật — làm sao mà món quà giày của thí chủ lại không trở thành chỗ nương tựa cho thí chủ được?" Và theo lời thỉnh cầu của ông, Ngài liền kể câu chuyện quá khứ.
Thuở xưa, thành Bārāṇasī này được gọi là Molinī. Khi vua Brahmadatta trị vì thành Molinī, có một vị Bà-la-môn giàu có tên Sankha, gia sản dồi dào, đã xây dựng sáu nhà bố thí ở sáu địa điểm: một ở mỗi cổng thành bốn phương, một ở trung tâm thành, và một ngay trước cửa nhà ông. Hằng ngày ông bố thí sáu trăm ngàn đồng tiền vàng, và ông cũng rất hào phóng với những người lữ hành và kẻ ăn xin. PTS vp En 10
Một hôm ông suy nghĩ: "Khi gia sản của ta đã tiêu hết, ta sẽ không còn gì để bố thí. Trong khi gia tài vẫn còn chưa cạn kiệt, ta hãy lên thuyền ra khơi, đi đến Vàng Quốc để mang về tài sản." Vậy ông sai đóng một chiếc thuyền, chất đầy hàng hóa; và ông nói khi từ biệt vợ con: PTS vp Pali 16 "Cho đến khi ta trở về, hãy xem không được gián đoạn việc bố thí." Nói xong, ông cầm lấy chiếc lọng, đi đôi giày, cùng đoàn tùy tùng, hướng mặt về phía bến cảng, lên đường vào buổi trưa.
Đúng lúc đó, một vị Phật Độc Giác (Pacceka Buddha) trên núi Gandha-madana, đang thiền định, nhìn thấy ông đang đi tìm của cải, và suy nghĩ: "Bậc đại nhân này đang lên đường tìm tài sản: liệu trên biển có điều gì ngăn trở ông không? — Có. — Nếu ông nhìn thấy ta, ông sẽ dâng tặng giày và lọng cho ta; và nhờ phước báu của đôi giày đó, ông sẽ tìm được nơi nương tựa khi thuyền đắm trên biển. Ta hãy giúp ông." Vậy Ngài bay qua không trung, hạ xuống không xa vị lữ khách, và bước tới gặp ông, dẫm lên nền cát nóng như lớp than hồng trong cơn gió và ánh nắng thiêu đốt.
Vị Bà-la-môn nghĩ: "Đây là cơ hội tạo phước; hôm nay ta phải gieo một hạt giống." Vui mừng hớn hở, ông nhanh chóng tiến đến nghênh đón và chào hỏi Ngài. Ông thưa: "Bạch Đại đức, xin Ngài từ bi dừng lại dưới gốc cây này một lúc." Khi vị kia bước vào dưới bóng cây, ông quét sạch cát, trải thượng y của mình lên, mời Ngài ngồi; với nước thơm tinh khiết ông rửa chân Ngài, thoa dầu thơm; ông tháo đôi giày của chính mình ra, lau sạch, thoa dầu thơm, rồi mang vào cho Ngài, và dâng cả giày lẫn lọng lên Ngài, thỉnh Ngài đi đôi giày đó và giương lọng trên đầu khi đi đường.
Vị kia để làm vui lòng ông, nhận món quà, và khi vị Bà-la-môn chiêm ngưỡng Ngài để tăng trưởng đức tin, Ngài bay lên trở về núi Gandha-madana.
Vị Bồ-tát (Bodhisatta) lòng dạ hoan hỷ, tiếp tục đến bến cảng và xuống thuyền.
Khi ra đến biển khơi, vào ngày thứ bảy thuyền bị thủng lỗ, không thể tát nước kịp. Tất cả người trên thuyền hoảng sợ tính mạng, la hét thất thanh, mỗi người kêu cầu vị thần hộ mệnh riêng của mình. PTS vp Pali 17 Bậc Đại Sĩ chọn một người hầu cận, thoa dầu khắp thân mình, ăn một bát bột đường với ghee theo ý muốn, cho người đó ăn cũng vậy, rồi leo lên cột buồm. "Theo hướng đó," ông nói, "là thành của chúng ta"; ông chỉ ra phương hướng, và buông bỏ mọi nỗi sợ cá và rùa, lao xuống biển cùng người hầu, bơi xa hơn một trăm năm mươi khuỷu tay. PTS vp En 11 Rất nhiều người thiệt mạng; nhưng Bậc Đại Sĩ cùng người tùy tùng bắt đầu vượt biển. Bảy ngày liên tiếp ông bơi. Ngay trong những ngày đó ông vẫn giữ ngày trai giới, súc miệng bằng nước muối mặn.
Lúc bấy giờ có một nữ thần tên Mani-mekhala, nghĩa là Vòng-bảo-châu, đã được bốn vị Hộ Thế thiên vương ra lệnh: "Nếu trên biển có điều gì bất hạnh xảy ra với những người đã quy y Tam Bảo, hoặc những người có giới đức, hoặc những người cung kính cha mẹ, thì ngươi phải cứu họ";
và để bảo vệ những người như vậy, nữ thần trú ở trên biển. Với thần lực của mình, suốt bảy ngày bà không để ý gì cả, nhưng đến ngày thứ bảy, nhìn ra biển khơi, bà nhìn thấy vị Bà-la-môn đức hạnh Sankha, và bà nghĩ: "Đã bảy ngày kể từ khi người này bị đẩy xuống biển: nếu ông ta chết đi, ta sẽ bị trách nhiệm nặng nề." Vậy, lòng đầy lo lắng, nữ thần đổ đầy thức ăn thần thánh các loại vào một chiếc đĩa vàng, bay nhanh như gió đến gặp ông, dừng lại trước mặt ông giữa không trung, nói: "Bảy ngày rồi, vị Bà-la-môn, thí chủ chưa ăn: hãy dùng món này!" Vị Bà-la-môn nhìn bà và đáp: "Hãy mang thức ăn của ngươi đi, vì ta đang giữ trai giới."
Người tùy tùng đi sau không nhìn thấy nữ thần, chỉ nghe tiếng động; và anh ta nghĩ: "Vị Bà-la-môn này có lẽ đang lảm nhảm điều gì, vì thể lực mỏng manh, và do nhịn đói bảy ngày, đang đau khổ và sợ chết: ta sẽ an ủi ông ấy." Và anh ta đọc đoạn kệ đầu tiên:
Vị Bà-la-môn nghe vậy, biết rằng người hầu không nhìn thấy nữ thần, liền nói: "Bạn ơi, ta không sợ chết; nhưng ta có người khác đang trò chuyện cùng ta"; và ông đọc đoạn kệ thứ hai:
Rồi người đó đọc đoạn kệ thứ ba:
PTS vp Pali 19 "Bạn nói đúng," vị Bà-la-môn đáp, và ông đặt câu hỏi bằng cách đọc đoạn kệ thứ tư:
Thereupon the deity recited two stanzas / Nhân đó nữ thần đọc hai đoạn kệ:
Nghe vậy Bậc Đại Sĩ suy nghĩ: "Đây là vị nữ thần, giữa đại dương, đang dâng tặng ta điều này điều nọ. Tại sao bà ấy muốn tặng cho ta? Phải chăng vì một thiện hành nào đó của ta, hay vì quyền năng riêng của bà ấy mà bà ấy làm vậy? Thôi, ta sẽ hỏi." Và ông hỏi bằng lời của đoạn kệ thứ bảy:
PTS vp Pali 20 Nữ thần lắng nghe ông, nghĩ: "Vị Bà-la-môn này đặt câu hỏi, hẳn là ông nghĩ ta không biết ông đã làm điều thiện nào. Ta sẽ nói cho ông biết." Và bà nói cho ông biết bằng lời của đoạn kệ thứ tám:
Khi Bậc Đại Sĩ nghe những lời này, ông tự nghĩ: "Kìa! Giữa đại dương bao la khó vượt này, đôi giày ta đã dâng tặng đã trở thành món quà tặng tất cả cho ta! Ôi, thật may mắn thay sự bố thí của ta cho vị Phật Độc Giác!" Rồi với tâm đại hoan hỷ, ông đọc đoạn kệ thứ chín:
"Hãy cho ta một con thuyền đóng bằng ván gỗ tốt,
Được gió lành đẩy, không thấm nước biển;
Không có nơi nào ở đây cho phương tiện nào khác;
Ngay hôm nay hãy đưa ta về thành Molinī."
PTS vp Pali 21 Nữ thần, vui lòng khi nghe những lời này, khiến một chiếc thuyền hiện ra, được làm bằng bảy báu; chiều dài tám trăm khuỷu tay, chiều rộng sáu trăm khuỷu tay, sâu hai mươi tầm; có ba cột buồm bằng ngọc xanh, dây thừng bằng vàng, cánh buồm bằng bạc, và mái chèo cùng bánh lái cũng bằng vàng. Con thuyền này nữ thần chất đầy bảy thứ quý báu; rồi ôm lấy vị Bà-la-môn, đưa ông lên chiếc thuyền tuyệt mỹ. Bà không để ý đến người tùy tùng; nhưng vị Bà-la-môn PTS vp En 13 chia sẻ vận may của mình cho người đó; người hầu hoan hỷ, nữ thần cũng ôm người đó và đặt lên thuyền. Rồi bà dẫn đường cho thuyền về thành phố Molinī, và sau khi cất giữ toàn bộ tài sản vào trong nhà của vị Bà-la-môn, bà trở về chỗ ở của mình.
Bậc Đạo Sư, với Trí Tuệ Toàn Hảo, đọc đoạn kệ kết luận:
Và vị Bà-la-môn suốt cuộc đời còn lại sống tại gia, bố thí vô tận và giữ gìn giới đức; và khi mạng chung, ông cùng người tùy tùng tái sinh trong cõi trời.
PTS vp Pali 22 Khi Bậc Đạo Sư kết thúc bài giảng này, Ngài tuyên thuyết Tứ Thánh Đế — và vào cuối bài pháp, vị cư sĩ đắc Sơ Đạo — và Ngài nhận diện Tiền Thân như sau: "Thuở đó, Uppalavaṇṇā là nữ thần, Ānanda là người tùy tùng, và chính Ta là Bà-la-môn Sankha."
---
The Jātaka, or Stories of the Buddha's Former Births, biên tập bởi E.B. Cowell, xuất bản bởi The Cambridge University Press.
- Tập 1, Robert Chalmers dịch, 1895.
- Tập 2, W.H.D. Rouse dịch, 1895.
- Tập 3, H.T. Francis và R.A. Neil dịch, 1897.
- Tập 4, W.H.D. Rouse dịch, 1901.
- Tập 5, H.T. Francis dịch, 1905.
- Tập 6, E.B. Cowell và W.H.D. Rouse dịch, 1907.
Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn có thể tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào.
Quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1/2006–tháng 2/2010, bởi John Bruno Hare và nhiều người khác. Cảm ơn Sacred Texts Archive đã cung cấp các văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.
Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.
Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.
🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.