Ja 437Pūtimaṁsajātaka — Bản Sinh Chó Rừng Thịt Thối
Tên Pāli / Sanskrit:Pūtimaṁsajātaka
Câu chuyện này được Đức Bổn Sư kể tại Jetavana, nhân duyên liên quan đến việc điều phục các căn.
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
– Chuyện Tiền Thân Đức Phật
– Quyển 9 Navanipāta
437. Pūtimaṁsajātaka — Bản Sinh Chó Rừng Thịt Thối
PTS vp Pali 532 "Tại sao Pūtimaṁsa lại nhìn trừng như vậy" v.v. — Đây là câu chuyện Đức Bổn Sư kể khi trú tại Kỳ Viên, về việc điều phục các căn. Thuở ấy có nhiều Tỳ kheo không canh phòng các cổng của các căn. Đức Bổn Sư bảo Trưởng lão Ānanda: "Ta phải giáo giới các Tỳ kheo này," và vì sự buông thả không chế ngự của họ, Ngài triệu tập hội chúng Tỳ kheo, ngồi trên chiếc giường thiền bày trí trang nghiêm và dạy rằng: "Hỡi các Tỳ kheo, không đúng khi một Tỳ kheo dưới ảnh hưởng của sắc thân xinh đẹp mà buộc tâm vào những thuộc tính tinh thần hay thể chất, bởi vì nếu người đó chết vào lúc như vậy, họ sẽ tái sinh vào địa ngục và các cảnh giới xấu ác tương tự; vì thế đừng buộc tâm vào hình tướng vật chất và những thứ tương tự.
Một Tỳ kheo không nên để tâm nuôi dưỡng trên những thuộc tính tinh thần và thể chất. Những ai làm vậy ngay trong điều kiện sống hiện tại cũng sẽ bị tổn hoại hoàn toàn. Vì thế, hỡi các Tỳ kheo, thà để kim đỏ lửa đâm vào mắt của các căn còn hơn.
Ở đây Ngài nêu các chi tiết khác, thêm rằng: "Có lúc để ý đến cái đẹp và có lúc không để ý đến nó: khi để ý đến nó, đừng để ý dưới ảnh hưởng của cái khả ý mà hãy để ý dưới ảnh hưởng của cái bất khả ý. Như vậy các ông sẽ không rơi khỏi lĩnh vực của mình. Lĩnh vực của các ông là gì?
Chính là Tứ Niệm xứ, Thánh Bát Đạo, chín loại siêu thế. Nếu các ông đi trong lĩnh vực đúng của mình, Ma vương sẽ không tìm được lối vào; nhưng nếu các ông bị tham dục chi phối và để ý đến sự vật dưới ảnh hưởng của sắc thân xinh đẹp, như con chó rừng Pūtimaṁsa, thì các ông sẽ rơi khỏi lĩnh vực thật sự của mình," và với những lời này Ngài kể câu chuyện quá khứ.
Thuở xưa, dưới triều vua Brahmadatta ở Ba-la-nại, nhiều trăm dê rừng sinh sống trong một hang động trên núi ở một vùng rừng núi PTS vp En 317 thuộc sườn dãy Hy-mã-lạp-sơn. Không xa nơi cư trú của chúng, một con chó rừng tên Pūtimaṁsa và vợ nó là Veṇī sống trong một hang. Một ngày khi đi lang thang cùng vợ, nó phát hiện những con dê đó và nghĩ: "Ta phải tìm cách nào đó để ăn thịt những con dê này," và bằng một mưu kế nào đó nó giết được một con dê.
Cả hai vợ chồng nhờ ăn thịt dê mà trở nên mạnh khỏe và béo tốt. Dần dần số dê giảm đi. PTS vp Pali 533 Trong đàn có một con dê cái khôn ngoan tên Meḷamatā.
Con chó rừng dù mưu mẹo nhưng không giết được nó, và bàn với vợ: "Này em yêu, tất cả dê đã chết rồi. Chúng ta phải nghĩ cách ăn thịt con dê cái này. Đây là kế hoạch của anh.
Em hãy đi một mình và kết thân với nó, khi sự tin tưởng đã hình thành, anh sẽ nằm xuống giả chết. Em hãy đến gần con dê và nói: 'Bạn ơi, chồng tôi đã chết và tôi cô đơn quá; trừ bạn ra tôi không còn ai; hãy đến, chúng ta cùng khóc thương và chôn cất thân xác của anh ấy.' Nói xong, em hãy đến và dẫn nó đến đây. Rồi anh sẽ bật dậy và giết nó bằng một cắn vào cổ." Con dê cái sẵn lòng đồng ý và sau khi kết thân với con dê, khi sự tin tưởng đã được xây dựng, cô ta nói với dê con những lời mà chồng đã gợi ý.
Con dê đáp: "Bạn ơi, tất cả bà con của tôi đã bị chồng bạn ăn hết. Tôi sợ lắm; tôi không thể đến." "Đừng sợ; người chết làm hại gì được bạn?" "Chồng bạn có bản tính hung ác; tôi sợ lắm." Nhưng sau đó vì bị thúc ép nhiều lần, con dê nghĩ: "Nó chắc đã chết thật rồi," và đồng ý đi cùng. Nhưng trên đường đi, nó nghĩ: "Ai biết chuyện gì sẽ xảy ra?" và trong sự nghi ngờ đó, nó bắt con chó rừng cái đi trước, còn mình thì cảnh giác quan sát con chó rừng đực.
Nó nghe tiếng bước chân của họ và nghĩ: "Con dê đến rồi," rồi ngẩng đầu lên và lăn mắt nhìn xung quanh. Con dê nhìn thấy hành động này liền nói: "Tên ác này muốn đánh lừa ta và giết ta: nó nằm đó giả vờ chết," rồi nó quay đầu và bỏ chạy. Khi con chó rừng cái hỏi tại sao nó chạy, con dê giải thích lý do và đọc bài kệ đầu tiên:
Nói xong, nó quay lại và chạy thẳng về nơi ở của mình. Con chó rừng cái không ngăn được nó thì tức giận, đến gặp chồng và ngồi than thở. Lúc đó con chó rừng đực trách vợ và đọc bài kệ thứ hai:
Khi nghe điều này, con chó rừng cái đọc bài kệ thứ ba:
Bài kệ này được truyền cảm hứng bởi Trí Tuệ Hoàn Hảo.
PTS vp Pali 535 Nhưng con chó rừng cái an ủi Pūtimaṁsa và nói: "Thưa chàng, đừng bực bội, em sẽ tìm cách đưa nó đến đây một lần nữa, và khi nó đến, hãy cảnh giác và bắt lấy nó." Rồi nó tìm đến con dê và nói: "Bạn ơi, việc bạn đến thật có ích cho chúng tôi; bởi vì ngay khi bạn xuất hiện, chồng tôi đã hồi tỉnh, và nay anh ấy còn sống. Hãy đến nói chuyện thân thiện với anh ấy," rồi nói những lời đó, cô ta đọc bài kệ thứ năm:
Tình bạn xưa kia của chúng ta, hỡi dê, hãy hồi sinh,
Và hãy đến với chúng tôi với bát đầy ắp, tôi cầu xin,
Chồng tôi mà tôi đã tưởng đã chết vẫn còn sống,
Hãy đến thăm anh ấy hôm nay với lời chào thân thiện.
Con dê nghĩ: "Tên ác này muốn đánh lừa ta. Ta không nên hành động như kẻ thù công khai; ta sẽ tìm cách lừa lại nó," rồi đọc bài kệ thứ sáu:
Rồi con chó rừng cái hỏi về những người đi theo và đọc bài kệ thứ bảy:
Con dê đọc bài kệ thứ tám và nói:
PTS vp Pali 536 "Mỗi con trong số này," nó thêm vào, "đi kèm với năm trăm con chó: vậy ta sẽ xuất hiện với đoàn hộ tống hai ngàn con chó. Nếu chúng không tìm được thức ăn, chúng sẽ giết và ăn thịt cả ông lẫn bà." Khi nghe điều này, con chó rừng cái hoảng sợ đến mức nghĩ: "Ta đã nghe đủ rồi về việc nó đến gặp chúng ta; ta sẽ tìm cách ngăn nó đến," rồi đọc bài kệ thứ chín:
Nói xong, nó vội vã chạy về, như để cứu mạng mình, và dẫn chồng chạy trốn. Và chúng không bao giờ dám quay lại chỗ đó nữa.
Đức Bổn Sư kết thúc bài học ở đây và xác định Bản sinh: "Ngày đó, ta là thần cây trú trong một cây rừng già."
Jātaka, hay Chuyện Tiền Thân Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, xuất bản bởi Nhà xuất bản Đại học Cambridge.
- Tập 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.
- Tập 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.
- Tập 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
- Tập 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.
- Tập 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.
- Tập 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.
Những bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào.
Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1/2006–tháng 2/2010, bởi John Bruno Hare và cộng sự. Cảm ơn Kho Lưu Trữ Văn Bản Thiêng Liêng đã cung cấp những văn bản này ở dạng kỹ thuật số.
Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ kheo Sujato.
Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.
🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.