Ja 436Samugga Jātaka
Tên Pāli / Sanskrit:Samuggajātaka
Câu chuyện này được Đức Bổn Sư kể trong khi trú tại Jetavana, nhân câu chuyện về một vị tỳ-kheo còn nặng lòng thế tục. Tương truyền, Đức Bổn Sư hỏi vị ấy có thật là đang còn vương vấn thế gian không, và khi vị ấy thú nhận điều đó, Ngài nói: "Này tỳ-kheo, tại sao ông lại khao khát người phụ nữ? Thật vậy, người phụ nữ vốn xấu xa và bội bạc. Thuở xưa, các A-tu-la đã nuốt phụ nữ vào bụng, tuy giam giữ họ trong bụng mà vẫn không thể khiến họ chung thủy một chồng. Vậy thì làm sao ông có thể làm được điều đó?" Rồi nhân đó, Ngài kể một câu chuyện thuở xa xưa.
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
– Chuyện Tiền Thân Đức Phật
– Quyển 9 Navanipāta
436. Samugga Jātaka
PTS vp Pali 527 "Các bạn đến từ đâu," v.v.—Câu chuyện này được Bậc Đạo Sư kể trong khi cư trú tại Kỳ Viên (Jetavana), về một vị Tỳ-kheo luyến thế. Bậc Đạo Sư, theo lời đồn đại, hỏi ông có đúng là ông đang khao khát đời thế tục không, và khi ông thú nhận điều đó, Ngài nói: "Tại sao, này Tỳ-kheo, ông lại ham muốn phụ nữ? Quả thật phụ nữ là xấu xa và bội bạc. Ngày xưa các thiên ma A-tu-la (Asura) đã nuốt phụ nữ vào bụng, và dù họ canh giữ họ trong bụng mình, họ cũng không thể giữ cho họ trung thành với một người đàn ông. Vậy thì ông làm sao có thể làm được điều đó?" Và tiếp theo Ngài kể câu chuyện xa xưa.
Ngày xưa, khi Phạm-đạt-đa (Brahmadatta) đang trị vì tại Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát từ bỏ những thú vui tội lỗi và vào Hy Mã Lạp Sơn (Himalayas), chọn đời sống tu hành. Ngài sống ở đó bằng trái cây rừng và phát triển các Căn và Thiền Định. Không xa túp lều lá của Ngài có một thiên ma A-tu-la (Asura).
Thỉnh thoảng nó đến gần Đại Nhân và PTS vp En 314 lắng nghe Pháp, nhưng đứng trong rừng trên đường lớn nơi người ta tụ tập, nó bắt và ăn thịt họ. Vào thời đó, một quý bà nổi tiếng ở vương quốc Kāsi, vô cùng xinh đẹp, định cư ở một ngôi làng biên giới. Một hôm bà đi thăm cha mẹ, và trên đường trở về, thiên ma nhìn thấy những người đàn ông trong đoàn tùy tùng của bà và lao vào họ với hình dáng kinh khủng.
Những người đàn ông buông rơi vũ khí trong tay và bỏ chạy. Thiên ma khi thấy một người phụ nữ xinh đẹp ngồi trong xe ngựa, liền đem lòng yêu mến, và đưa bà đến hang của nó biến bà thành vợ. Từ đó trở đi nó mang về cho bà bơ ghee, lúa bóc vỏ, cá, thịt và những thứ tương tự, cũng như trái cây chín để ăn, và mặc cho bà y phục và đồ trang sức, và để giữ bà an toàn, nó nhét bà vào một chiếc hộp mà nó nuốt vào bụng, và như vậy canh giữ bà trong dạ dày của mình.
Một ngày nó muốn tắm, và đến ao, nó ói ra chiếc hộp, lấy bà ra, tắm rửa và thoa dầu cho bà, và khi đã mặc quần áo cho bà xong, nó nói: "Hãy vui vẻ ngoài trời một chút," và không nghi ngờ gì cả, nó đi ra xa một chút và tắm. PTS vp Pali 528 Vào lúc này, con trai của Vāyu, một pháp sư, đeo kiếm bên hông, đang đi bộ qua không trung. Khi bà nhìn thấy ông, bà đặt hai tay theo một tư thế nhất định và ra hiệu cho ông đến với mình.
Pháp sư nhanh chóng hạ xuống đất. Rồi bà đặt ông vào hộp, ngồi lên trên đó, đợi thiên ma đến, và ngay khi thấy nó đang đến, trước khi nó đến gần hộp, bà mở hộp ra, chui vào trong và nằm lên người pháp sư, rồi quấn áo chăng của mình quanh ông ta. Thiên ma đến và không kiểm tra hộp, cứ nghĩ đó chỉ là người phụ nữ, nuốt hộp vào và lên đường về hang.
Trên đường đi, nó nghĩ: "Đã lâu ta không thấy ẩn sĩ: hôm nay ta sẽ đến bái kiến ngài." Vậy nó đến thăm ngài. Ẩn sĩ, nhìn thấy nó từ khi còn ở xa, biết rằng có hai người trong dạ dày của thiên ma, và đọc bài kệ đầu tiên, nói:
Nghe điều này, thiên ma nghĩ: "Ta đến một mình thăm ẩn sĩ này, mà ngài lại nói về ba người: ngài muốn nói gì? Ngài nói từ sự hiểu biết về tình hình thực tế, hay ngài điên rồ và đang nói nhảm?" Rồi nó đến gần ẩn sĩ và chào kính ngài, rồi ngồi ở khoảng cách cung kính và trò chuyện với ngài, đọc bài kệ thứ hai:
Ẩn sĩ nói: "Ông có thực sự muốn nghe lý do không?" "Vâng, thưa Thánh giả." "Vậy hãy nghe," ngài nói, và đọc bài kệ thứ ba:
Bản thân ông và người vợ thân yêu của ông là hai, hãy chắc chắn;
Được nhốt trong một chiếc hộp, bà ta an toàn bên trong:
Được canh giữ luôn trong dạ dày của ông, bà ta
Đang vui vẻ với con trai của Vāyu.
Nghe điều này, thiên ma nghĩ: "Pháp sư thực sự đầy mánh lới: giả sử thanh kiếm đang trong tay ông ta, ông ta sẽ mổ bụng ta và thoát ra." Và vô cùng hoảng hốt, nó ói ra chiếc hộp và đặt trước mặt nó.
Bậc Đạo Sư, với Trí Tuệ Viên Mãn của Ngài để làm rõ vấn đề, đọc lại bài kệ thứ tư:
Ngay khi hộp được mở, pháp sư lầm thầm thần chú và cầm kiếm vút lên không trung. Thấy điều này, thiên ma vô cùng hài lòng với Đại Nhân đến mức đọc các bài kệ còn lại, chủ yếu đầy lời ca ngợi ngài:
Hỡi ẩn sĩ nghiêm khắc, tầm nhìn trong sáng của ngài đã thấy
Con người, nô lệ của đàn bà, có thể chìm đắm thấp hèn đến mức nào;
Như sinh mệnh chính nó dù được canh giữ trong dạ dày ta,
Kẻ đó vẫn hành xử trốn chạy, theo ta nghĩ.
Đàn ông vô ích đối phó với ngàn mưu mẹo của bà,
Vô ích tin rằng phòng thủ của mình là chắc chắn;
Như vực thẳm xuống địa ngục mà bà dẫn dụ,
Những linh hồn bất cẩn tội nghiệp đến diệt vong.
PTS vp Pali 531 Với những lời này, thiên ma phủ phục dưới chân Đại Nhân và ca ngợi ngài, nói: "Thưa Thánh giả, nhờ ngài mà mạng sống của tôi được cứu. Vì người phụ nữ xấu xa đó, ta gần như bị pháp sư giết chết." Rồi Bồ-tát giảng Pháp cho nó, nói: "Đừng làm hại bà ta: PTS vp En 316 hãy giữ giới," và an lập nó trong năm giới đạo đức. Thiên ma nói: "Dù ta canh giữ bà ta trong dạ dày ta, ta cũng không thể giữ bà ta an toàn. Ai khác sẽ giữ bà ta được?" Vậy nó thả bà ta ra và trực tiếp trở về nhà trong rừng của nó.
Bậc Đạo Sư, khi kết thúc bài học, tuyên thuyết Chân Lý và nhận diện Bổn Sanh—Vào cuối bài tuyên thuyết Chân Lý, vị Tỳ-kheo luyến thế đạt được Quả Dự Lưu—"Vào những ngày đó, ẩn sĩ với năng lực nhìn thấy siêu nhiên chính là Ta."
Jātaka, hay Chuyện Tiền Thân Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, xuất bản bởi Nhà xuất bản Đại học Cambridge.
– Quyển 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.
– Quyển 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.
– Quyển 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
– Quyển 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.
– Quyển 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.
– Quyển 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.
Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn có thể tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào.
Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006 – tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và những người khác. Cảm ơn Sacred Texts Archive đã cung cấp các văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.
Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.
Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.
🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.