Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 414Jāgara Jātaka – Chuyện Người Thức Giữa Kẻ Ngủ

Tên Pāli / Sanskrit:Jāgarajātaka

📖929 từ · ~4 phút đọc
2
Tóm tắt

Bậc Đạo Sư kể câu chuyện này khi đang trú tại Jetavana, nhân câu chuyện về một vị cư sĩ.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân của Đức Phật

Quyển 7 – Sattanipāta

414. Jāgara Jātaka

PTS vp Pali 403 "Ai là người thức khi," v.v. — Đức Thế Tôn kể câu chuyện này khi đang trú tại Jetavana, liên quan đến một vị cư sĩ. Vị này là một đệ tử đã nhập Sơ Đạo. Ông khởi hành từ Sāvatthī theo đường rừng cùng một đoàn xe hàng.

Tại một chỗ đất đẹp có nước, người đứng đầu đoàn xe tháo ách năm trăm xe lại, lo liệu thức ăn cả cứng lẫn mềm, rồi nghỉ ngơi tại đó. Những người đàn ông nằm ngủ rải rác khắp nơi. Vị cư sĩ đi kinh hành dưới gốc một cây gần chỗ người đứng đầu đoàn xe.

Năm trăm tên cướp lên kế hoạch cướp đoàn xe: tay cầm đủ loại vũ khí, chúng bao vây và chờ đợi. Thấy vị cư sĩ đang kinh hành, chúng đứng đợi cho đến khi ông ngủ mới bắt đầu cướp. Ông đi kinh hành suốt đêm.

Vào lúc rạng đông, bọn cướp ném bỏ gậy gộc, đá và các vũ khí khác mà chúng đã nhặt lên; chúng bỏ đi, nói rằng: "Thưa Trưởng đoàn, ông là chủ tài sản của mình vì ông giữ được mạng sống nhờ người đàn ông kia canh thức siêng năng: ông phải tôn kính người đó." Những người trong đoàn xe thức dậy sớm thấy đá và các thứ khác mà bọn cướp ném bỏ rồi tôn kính vị cư sĩ, nhận ra rằng họ nợ mạng sống mình ở ông. Vị cư sĩ đến điểm đến, lo xong việc rồi trở về Sāvatthī và đến Jetavana: ở đó ông đảnh lễ và tôn kính Như Lai, ngồi dưới chân Ngài, và theo lời mời trình bày câu chuyện, ông kể hết.

Đức Thế Tôn nói: "Này cư sĩ, không chỉ mình ông đã đạt được phước báo đặc biệt qua việc thức canh, các bậc trí giả thời xưa cũng đã làm như vậy." Và vậy theo yêu cầu của vị cư sĩ, Ngài kể một câu chuyện cũ.

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta đang trị vì tại Bārāṇasī, Bồ-tát được sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn. Khi lớn lên, ngài học tất cả các nghệ thuật tại Takkasila, rồi trở về sống đời gia chủ. Sau một thời gian, ngài rời bỏ gia đình và xuất gia: chẳng bao lâu ngài đạt được Căn Thiền Định, và sống trong vùng Himālaya chỉ đứng và đi kinh hành, suốt đêm kinh hành mà không ngủ. PTS vp Pali 404 Một vị thiên thần trú trong một cái cây ở cuối đoạn đường kinh hành hài lòng với ngài và nói bài kệ đầu từ một lỗ hổng trong thân cây — đặt ra câu hỏi cho ngài:

Ai là người thức khi người khác ngủ và ngủ khi người khác thức?
Ai là người có thể giải câu đố của ta, ai sẽ đáp lời ta được? PTS vp En 244

Bồ-tát nghe tiếng của vị thiên thần, đọc bài kệ này:

Ta là người thức khi người khác ngủ và ngủ khi người khác thức.
Ta là người có thể giải câu đố của ngài, ta sẽ đáp lời ngài được.

Vị thiên thần lại đặt câu hỏi qua bài kệ này:

Làm sao ngài thức khi người khác ngủ và ngủ khi người khác thức?
Làm sao ngài giải câu đố của ta, làm sao ngài đáp lời ta được?

Ngài giải thích điểm đó:

Một số người quên rằng đức hạnh nằm ở sự nghiêm chỉnh khắt khe,
Khi những người đó đang ngủ, ta thức, hỡi thiên thần của cây.
Đam mê, tà ác và vô minh ở một số người đã chấm dứt:
Khi những người đó đang thức, ta ngủ, hỡi thiên thần của cây.
Vì vậy ta thức khi người khác ngủ và ngủ khi người khác thức:
Vì vậy ta giải câu đố của ngài, vì vậy ta đáp lời ngài được.

PTS vp Pali 405 Khi Đại Hữu Tình đưa ra câu trả lời này, vị thiên thần hài lòng và đọc bài kệ cuối để ca ngợi ngài:

Tốt thay ngài thức khi người khác ngủ và ngủ khi người khác thức
Tốt thay ngài giải câu đố của ta, tốt thay câu trả lời ngài đưa ra.

Và như vậy, sau khi ca ngợi Bồ-tát, vị thiên thần trở vào nơi trú ngụ trong cây.

Sau bài pháp thoại, Đức Thế Tôn xác nhận Tiền Thân: "Lúc đó, vị thiên thần trú cây là [Tỳ-kheo ni] Uppalavaṇṇā, còn vị ẩn tu chính là ta."

---

Jātaka, hay Chuyện Tiền Thân của Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, xuất bản bởi The Cambridge University Press.

  • Quyển 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.
  • Quyển 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.
  • Quyển 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
  • Quyển 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.
  • Quyển 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.
  • Quyển 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006 – tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và các cộng tác viên khác. Cảm ơn Sacred Texts Archive đã cung cấp các văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Bhikkhu Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến