Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 413Dhumakari Jātaka

Tên Pāli / Sanskrit:Dhūmakārijātaka

📖1,175 từ · ~5 phút đọc
2
Tóm tắt

Bậc Đạo Sư kể câu chuyện này khi đang trú tại Jetavana, nhân việc vua Kosala thiên vị người lạ. Chuyện kể rằng vị vua ấy không ban ân huệ cho các chiến binh lão thành thường hay đến yết kiến, mà lại tôn trọng và tiếp đãi hậu hĩ những kẻ xa lạ mới đến lần đầu. Khi nhà vua thân chinh dẹp loạn ở vùng biên cương đang bất ổn, các chiến binh lão thành không chịu chiến đấu vì nghĩ rằng những tân binh đang được sủng ái sẽ ra trận; còn các tân binh cũng không chịu ra trận vì nghĩ rằng các chiến binh lão thành sẽ làm việc đó. Quân phiến loạn đã chiến thắng. Nhà vua, hiểu rằng sự thất bại của mình là do sai lầm khi thiên vị kẻ mới đến, bèn trở về Sāvatthī. Ngài quyết định hỏi bậc Đạo Sư xem mình có phải là vị vua duy nhất từng thất trận vì lý do đó không. Sau bữa ngọ trai, nhà vua đến Jetavana và thưa hỏi bậc Đạo Sư. Bậc Đạo Sư đáp: "Tâu Đại vương, không chỉ mình Đại vương như vậy; các vị vua thuở xưa cũng đã thất trận vì thiên vị người mới đến." Rồi theo lời thỉnh cầu của nhà vua, Ngài thuật lại một câu chuyện xưa.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân Đức Phật

Quyển 7 Sattanipāta

413. Dhumakari Jātaka

"Vị vua chính trực," v.v. — Đức Thế Tôn kể câu chuyện này trong khi trú tại Jetavana, liên quan đến ân huệ của vua Kosala đối với một người lạ. Có lần, câu chuyện kể rằng, vị vua đó không tỏ ân huệ đối với các chiến binh lão luyện của mình khi họ đến gặp ông theo đúng cách, nhưng lại ban danh dự và sự hiếu khách đối với những người xa lạ đến lần đầu. Ông ta đi chiến đấu ở một tỉnh biên giới bị xáo trộn: nhưng các chiến binh lão luyện của ông ta không chịu chiến đấu, nghĩ rằng những người mới đến đang được ủng hộ sẽ làm vậy; và những người mới đến cũng không chịu, nghĩ rằng các chiến binh lão luyện sẽ làm.

Quân phiến loạn đã thắng thế. Vị vua, biết rằng thất bại của mình là do lỗi lầm của mình khi ban ân huệ cho những người mới đến, trở về Sāvatthī. Ông ta quyết định hỏi Đức Thế Tôn xem có phải chỉ mình ông ta là vị vua từng bị đánh bại vì lý do đó không: vì vậy sau bữa ăn sáng ông ta đến Jetavana và đặt câu hỏi với Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn trả lời: "Đại Vương, không phải chỉ trường hợp của ngài: các vị vua trước đây cũng đã bị đánh bại vì ân huệ họ ban cho những người mới đến," và theo yêu cầu của vị vua, Ngài kể một câu chuyện cũ.

Ngày xưa tại thành phố Indapattana, trong vương quốc của người Kuru, có một vị vua trị vì tên là Dhanañjaya, thuộc dòng dõi Yudhiṭṭhila. Bồ-tát được sinh ra trong nhà vị tư tế thờ cúng của vị vua đó. Khi lớn lên, Ngài học tất cả các nghệ thuật tại Takkasila. Ngài trở về Indapattana, và khi cha Ngài qua đời, Ngài trở thành tư tế thờ cúng của nhà vua và cố vấn của ông ta trong các việc thế gian lẫn tâm linh. Tên Ngài được gọi là Vidhurapandita. PTS vp En 242

Vua Dhanañjaya coi thường các chiến binh lão luyện của ông ta và ban ân huệ cho những người mới đến. Ông ta đi chiến đấu ở một tỉnh biên giới bị xáo trộn: nhưng cả chiến binh lão luyện lẫn người mới đến đều không chịu chiến đấu, mỗi bên nghĩ bên kia sẽ lo liệu. Vị vua đã thất bại. Khi trở về Indapattana, ông ta suy nghĩ rằng thất bại của mình là do ân huệ ông ta đã ban cho những người mới đến. PTS vp Pali 401 Một ngày nọ ông ta nghĩ: "Có phải chỉ mình ta là vị vua đã bị đánh bại vì ân huệ ban cho những người mới đến, hay trước kia có những vị vua khác đã gặp cùng số phận? Ta sẽ hỏi Vidhurapandita." Vì vậy ông ta đặt câu hỏi với Vidhurapandita khi vị đó đến buổi tiếp kiến của nhà vua.

Đức Thế Tôn, tuyên bố lý do câu hỏi của ông ta, nói nửa câu kệ:

Vị vua chính trực Yudhiṭṭhila một lần hỏi Vidhura khôn ngoan,

"Bà-la-môn, ngươi có biết trong lòng cô độc của ai đang chứa nhiều nỗi sầu khổ đắng cay không?"

Khi nghe điều này, Bồ-tát nói: "Đại vương, nỗi sầu khổ của ngài chỉ là nỗi sầu khổ nhỏ nhặt. Ngày xưa, một vị Bà-la-môn chăn dê tên Dhumakari đã lấy một đàn dê lớn, và dựng lên một cái chuồng trong rừng, nuôi chúng ở đó: ông ta có một đống lửa khói và sống bằng sữa và các thứ tương tự, chăm sóc đàn dê của mình. Khi nhìn thấy một số con hươu màu vàng đã đến, ông ta cảm thấy yêu thích chúng, và coi thường đàn dê của mình, ông ta dành sự tôn trọng xứng đáng cho đàn dê cho đàn hươu. Vào mùa thu, đàn hươu di chuyển đến Himalaya: đàn dê của ông ta chết và đàn hươu rời khỏi tầm mắt ông ta: vì vậy vì sầu khổ ông ta bị vàng da và chết. Ông ta ban danh dự cho những người mới đến và chết, đã gánh chịu đau khổ và khốn khổ gấp trăm, gấp nghìn lần so với ngài." Đưa ra ví dụ này, ông ta nói:

Một Bà-la-môn với một đàn dê, thuộc dòng dõi cao quý Vasittha,

Giữ đống lửa khói đêm ngày trong nơi ở rừng.

Ngửi thấy khói, một đàn hươu, bị muỗi quấy nhiễu nặng nề, đến

Để tìm nơi ở cho mùa mưa gần nhà Dhumakari.

Đàn hươu bây giờ được chú ý toàn bộ; đàn dê của ông ta không được chăm sóc,

Chúng đến và đi không được trông coi, và vì vậy chúng chết ở đó.

PTS vp Pali 402 Nhưng bây giờ muỗi đã rời bỏ rừng, mùa thu đã trong sạch khỏi mưa:

Đàn hươu phải lên núi cao và tìm đến suối sông.

Vị Bà-la-môn nhìn thấy đàn hươu đã biến mất và tất cả đàn dê đã chết:

Bệnh vàng da tấn công ông ta đang mòn mỏi vì sầu khổ, và toàn bộ sắc mặt ông ta đã tái nhợt.

Vì vậy người nào coi thường những người thân của mình, và gọi người lạ là thân yêu,

Như Dhumakari, một mình than thở với nhiều giọt nước mắt đắng cay.

Đó là câu chuyện Bậc Vĩ Nhân kể để an ủi nhà vua. Nhà vua được an ủi và hài lòng, và ban cho ông ta nhiều của cải. Từ đó trở đi ông ta ban ân huệ cho người dân của mình, và làm các việc bố thí và đức hạnh, ông ta trở thành người có đường hướng đến cõi thiên đường. PTS vp En 243

Sau bài học, Đức Thế Tôn nhận diện Tiền Thân: "Vào thời đó vua Kuru là Ānanda, Dhumakari là Pasenadi, vua xứ Kosala, và Vidhurapandita là bản thân Ta."

Jātaka, hay Chuyện Tiền Thân Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, được xuất bản bởi The Cambridge University Press.

Tập 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.

Tập 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.

Tập 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.

Tập 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.

Tập 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.

Tập 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Những bản dịch này thuộc về tài sản công cộng. Bạn được tự do làm bất cứ điều gì với chúng.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006 – tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và những người khác. Cảm ơn Kho Lưu Trữ Văn Bản Thiêng Liêng đã cung cấp những văn bản này ở dạng kỹ thuật số.

Được chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-khưu Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến