Ja 406Gandhāra Jātaka — Jātaka số 406
Tên Pāli / Sanskrit:Gandhārajātaka
Câu chuyện này, Đức Thế Tôn kể khi đang trú tại Jetavana, liên quan đến học giới về việc tích trữ thuốc men.
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
– Chuyện Tiền Thân Đức Phật
– Quyển 7 — Sattanipāta
406. Gandhāra Jātaka
"Làng mạc đầy đủ mười sáu ngàn," v.v. — Bậc Đạo Sư kể chuyện này khi đang trú tại Jetavana, liên quan đến giới luật về việc tích trữ thuốc men. Tuy nhiên sự kiện xảy ra ở Rājagaha. Khi Tôn giả Pilindiyavaccha đến chỗ ở của vua để xin phóng thích gia đình người giữ vườn, ngài đã dùng thần thông biến cung điện thành vàng ròng; và người dân trong niềm vui mừng mang đến cho Trưởng lão năm loại thuốc men.
Ngài đem phân phát cho Tăng đoàn. Vậy là Tăng đoàn có rất nhiều thuốc, PTS vp Pali 364 và khi nhận thuốc, họ đổ vào nồi, hũ, túi theo cách đó rồi cất đi. Người đời trông thấy bèn bàn tán: "Các thầy tham lam kia đang tích trữ đầy nhà." Bậc Đạo Sư nghe vậy, ban hành giới luật: "Thuốc men dành cho Tỳ-khưu bệnh [phải dùng trong vòng bảy ngày]," và phán: "Này các Tỳ-khưu, người trí thuở xưa, trước thời Phật xuất thế, theo ngoại đạo và chỉ giữ năm giới, cũng đã quở trách những ai giữ lại dù chỉ muối và đường cho ngày hôm sau; thế mà các ông, dù đã xuất gia theo giới luật giải thoát như vậy, lại tích trữ cho ngày thứ hai, thứ ba," rồi Ngài kể câu chuyện xưa.
Thuở xưa, Bồ-tát là vương tử vương quốc Gandhāra; khi vua cha băng hà, ngài lên ngôi và trị vì với chánh pháp. PTS vp En 222
Ở Trung phần, trong vương quốc Videha, có một vị vua tên Videha đang trị vì. Hai vị vua này chưa từng gặp nhau, nhưng là bạn hữu và tin tưởng lẫn nhau sâu sắc. Thời bấy giờ người ta sống rất lâu: tuổi thọ của họ là ba vạn năm.
Rồi một lần, vào ngày rằm, vua Gandhāra đã thọ trì giới hạnh, ngồi trên bệ trong ngai vàng hoàng gia ở trung tâm, nhìn qua cửa sổ mở về phía đông, Ngài đang giảng pháp cho các đại thần. Lúc ấy, La-hầu (Rāhu) đang che lấp vầng trăng tròn đang tỏa sáng khắp bầu trời. Ánh trăng tắt dần.
Các đại thần không thấy ánh trăng bèn tâu vua rằng trăng đang bị Rāhu nuốt. Nhà vua quan sát mặt trăng và nghĩ: "Mặt trăng đã mất ánh sáng vì bị phiền não từ bên ngoài; nay việc trị vì của ta cũng là một phiền não, và ta không nên để mất ánh sáng của mình như mặt trăng bị Rāhu nuốt: ta sẽ từ bỏ vương quốc như vầng trăng sáng trên bầu trời trong xanh và xuất gia; tại sao ta phải khuyên bảo người khác? Ta sẽ đi khắp nơi, rời xa thân quyến và thần dân, chỉ tự khuyên bảo chính mình: điều đó mới thích hợp với ta." Vậy ngài nói: "Tùy ý các khanh" rồi giao vương quốc lại cho các đại thần.
Khi từ bỏ vương quốc trong cả hai vương quốc Kashmir và Gandhāra, ngài xuất gia, và đạt được thần thông siêu thế, ngài trải qua mùa an cư ở vùng Himalaya trong thiền định an lạc. Vua Videha, nghe thương nhân báo rằng "bạn tôi có bình an không," được biết ngài đã xuất gia, liền nghĩ: "Khi bạn ta đã xuất gia, ta còn cần vương quốc để làm gì?" Vậy ngài từ bỏ việc trị vì ở thành Mithilā, rộng bảy do-tuần, và vương quốc Videha, rộng ba trăm do-tuần, với mười sáu ngàn làng mạc, kho tàng đầy ắp và mười sáu ngàn vũ nữ, không nghĩ đến con cái, ngài đến vùng Himalaya và xuất gia.
Ở đó ngài chỉ ăn trái cây, sống trong trạng thái an tịnh. Cả hai người, theo đuổi cuộc sống an tịnh đó, sau này gặp nhau nhưng không nhận ra nhau; thế mà họ vẫn chung sống trong sự an tịnh đó trong tình bằng hữu. Đạo sĩ xứ Videha hầu hạ đạo sĩ xứ Gandhāra.
Một ngày rằm, khi họ đang ngồi dưới gốc cây trò chuyện về những việc liên quan đến pháp, Rāhu che lấp vầng trăng đang sáng trên bầu trời. Đạo sĩ Videha nhìn lên nói: "Sao ánh sáng mặt trăng lại tắt?" Và thấy trăng bị Rāhu che, ông hỏi: "Thưa Sư phụ, tại sao Rāhu che trăng và làm trăng tối đi?" "Này học trò, đó là nỗi khổ duy nhất của mặt trăng, tên là Rāhu; nó ngăn trăng tỏa sáng: ta, thấy vầng trăng bị Rāhu đánh vào, nghĩ rằng, 'Kìa là vầng trăng thuần tịnh bị tối đi vì phiền não từ bên ngoài;
nay vương quốc này là phiền não đối với ta: PTS vp En 223 ta sẽ xuất gia để vương quốc không làm tối mịt ta như Rāhu làm với vầng trăng': và như vậy, lấy vầng trăng bị Rāhu che làm đề tài quán chiếu, ta từ bỏ vương quốc lớn lao đó và xuất gia." "Thưa Sư phụ, Sư phụ từng là vua Gandhāra?" PTS vp Pali 366 "Phải, ta đã từng vậy." "Thưa Sư phụ, tôi là vua Videha ở vương quốc Videha và thành Mithilā: chúng ta đã là bạn hữu dù chưa từng gặp nhau phải không?" "Đề tài của ông là gì?" "Tôi nghe rằng Sư phụ đã xuất gia và nghĩ rằng, 'Chắc hẳn ngài đã thấy được lợi ích của đời sống đó,' tôi lấy Sư phụ làm đề tài và rời bỏ vương quốc để xuất gia." Từ đó, họ trở nên vô cùng thân thiết và thân ái, và chỉ sống bằng trái cây.
Sau khi ở đó lâu dài, họ xuống núi Himalaya để kiếm muối và dấm, và đến một làng biên địa. Người dân, vui thích với cách ứng xử của họ, dâng vật thực và sau khi hứa hẹn, đã xây cho họ nơi trú ẩn ban đêm và những gì cần thiết trong rừng, khiến họ cư trú ở đó, và dựng bên đường một phòng dùng bữa trong một nơi yên tĩnh có bóng mát và nước. Họ, sau khi đi khất thực ở làng biên địa, ngồi ăn vật thực trong am lá đó rồi về chỗ ở.
Người dân dâng vật thực cho họ một ngày thì cho muối trên lá, ngày khác thì cho thức ăn không muối. Một ngày nọ, người ta cho rất nhiều muối trong giỏ lá. Đạo sĩ Videha nhận muối, mang về và dâng cho Bồ-tát đủ phần vào bữa ăn, tự mình nhận phần vừa đủ: rồi cất phần còn lại trong giỏ lá, bỏ vào cuộn cỏ, nói: "Phần này sẽ dùng cho ngày không có muối." Rồi một ngày khi nhận được thức ăn không muối, người xứ Videha, dâng vật thực cho người xứ Gandhāra, lấy muối từ cuộn cỏ ra và nói: "Thưa Sư phụ, xin nhận muối." "Hôm nay người dân không cho muối, ông lấy muối từ đâu?" "Thưa Sư phụ, hôm nào trước đây người dân cho nhiều muối;
rồi tôi giữ lại phần thừa, nói rằng 'Sẽ dùng cho ngày không có muối.'" Bồ-tát liền quở trách ông: "Này người ngu, ông từ bỏ vương quốc Videha rộng ba trăm do-tuần, xuất gia và đạt được sự giải thoát khỏi các chấp thủ, mà nay ông lại nảy sinh tham muốn đối với muối và đường." Và như vậy, quở trách ông, ngài đọc bài kệ đầu:
PTS vp Pali 367 Mười sáu ngàn làng mạc cùng của cải, ông đã buông bỏ,
Kho tàng đầy ắp giàu sang: mà hôm nay ông lại cất trữ!
Bị quở trách như vậy, Videha không chịu nhận lời quở trách mà sinh tâm bất mãn, nói rằng: "Thưa Sư phụ, Sư phụ không thấy lỗi của chính mình mà chỉ thấy lỗi của tôi; Sư phụ đã từ bỏ vương quốc và xuất gia với lý do 'Tại sao ta lại khuyên bảo người khác? Ta sẽ chỉ khuyên bảo chính mình': thế thì sao nay Sư phụ lại khuyên bảo tôi?" Ông đọc bài kệ thứ hai:
Gandāhāra cùng toàn tỉnh, cùng của cải, Sư phụ đã buông bỏ,
Không còn ban lệnh hoàng gia: mà hôm nay Sư phụ lại ra lệnh cho tôi! PTS vp En 224
Nghe vậy, Bồ-tát đọc bài kệ thứ ba:
Đây là điều chân chánh ta đang nói, vì ta ghét sự bất chánh:
Khi ta nói điều chân chánh, tội lỗi không để lại dấu ấn gì trên ta.
Đạo sĩ Videha, nghe lời Bồ-tát, nói: "Thưa Sư phụ, không phải lúc nào cũng nên nói sau khi đã làm người khác bực bội và tức giận, dù lời nói đó có đúng đi nữa: PTS vp Pali 368 Sư phụ đang nói với tôi rất gay gắt, như thể cạo đầu tôi bằng thép cùn," và ông đọc bài kệ thứ tư:
Bất kỳ lời nào, nếu nói ra, sẽ gây bực bội cho người khác,
Người trí để lại những lời đó không nói, dù chúng có ý nghĩa lớn lao.
Rồi Bồ-tát đọc bài kệ thứ năm:
Hãy để người nghe rũ bỏ như trấu, dù họ có tức giận hay không,
Khi ta nói điều chân chánh, tội lỗi không để lại vết tích gì trên ta.
Nói xong, ngài tiếp: "Ta sẽ không làm việc với ông, này Ānanda, như thợ gốm chỉ làm với đất sét chưa nung: ta sẽ tiếp tục quở trách; điều gì là thật, cái đó sẽ trường tồn." Và như vậy, vững chắc trong hành xử phù hợp với lời khuyên nhủ của Đức Thế Tôn, như thợ gốm trong số các bình của mình, sau khi đập nhiều lần, không lấy đất sét chưa nung mà chỉ lấy bình đã nung xong, cứ thuyết pháp và quở trách mãi, ngài nhận người đó như bình tốt, và thuyết pháp để chỉ rõ điều này, ngài đọc cặp kệ:
Nếu trí tuệ và đức hạnh không được rèn luyện trong đời sống của một số người,
Nhiều người sẽ lang thang vô ích như trâu bị mù.
Nhưng vì một số người được rèn luyện trí tuệ trong đức hạnh đẹp đẽ,
Vì vậy mà những người khác bước theo con đường của đức hạnh.
PTS vp Pali 369 Nghe vậy, đạo sĩ Videha nói: "Thưa Sư phụ, từ nay hãy khuyên bảo tôi; tôi đã nói với Sư phụ bằng tính khí bực bội tự nhiên, xin tha thứ cho tôi," rồi cúi đầu đảnh lễ xin tha thứ. Vậy là họ sống cùng nhau trong hòa bình và trở lại Himalaya. Rồi Bồ-tát chỉ dẫn đạo sĩ Videha cách đạt đến thiền định thần thông. Ông làm vậy và đạt được các Thắng Trí và Định. Vậy là cả hai, không ngừng thiền định, trở thành người được hướng đến cõi Phạm thiên.
Sau bài học, Bậc Đạo Sư xác nhận bản sinh ký: "Thời bấy giờ, đạo sĩ Videha là Ānanda, vua Gandhāra là chính ta."
Jātaka, hay Chuyện Tiền Thân Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, Nhà xuất bản Đại học Cambridge ấn hành.
- Quyển 1, do Robert Chalmers dịch, 1895.
- Quyển 2, do W.H.D. Rouse dịch, 1895.
- Quyển 3, do H.T. Francis và R.A. Neil dịch, 1897.
- Quyển 4, do W.H.D. Rouse dịch, 1901.
- Quyển 5, do H.T. Francis dịch, 1905.
- Quyển 6, do E.B. Cowell và W.H.D. Rouse dịch, 1907.
Các bản dịch này thuộc miền công cộng. Quý vị được tự do sử dụng theo ý muốn.
Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006 – tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và các cộng sự. Cảm ơn Kho Văn Bản Thiêng đã cung cấp các văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.
Được chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-khưu Sujato.
Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.
🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.