Ja 402Sattubhasta Jātaka — Bổn Sanh Sattubhasta (Jā 402)
Tên Pāli / Sanskrit:Sattubhastajātaka
Câu chuyện này được Đức Bổn Sư kể tại Jetavana, liên quan đến Ba-la-mật Trí tuệ. Cơ duyên của câu chuyện sẽ được trình bày trong bản sinh Ummagga.
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
Sattubhasta Jātaka (Bổn Sanh về Túi Bột)
– Chuyện tiền kiếp của Đức Phật
– Quyển 7 — Sattanipāta (Nhóm Bảy Bài Kệ)
402. Sattubhasta Jātaka
"Ngươi đang mê loạn…" v.v. — Bậc Đạo Sư kể chuyện này khi trú tại Kỳ Viên (Jetavana), liên quan đến Trí Tuệ Ba-la-mật (Pañña-pāramī). Cơ duyên của câu chuyện sẽ được trình bày trong Bổn Sanh Ummagga.
Thuở xưa, vua Janaka trị vì tại thành Bārāṇasī (Ba-la-nại). Bấy giờ vị Bồ-tát sinh vào một gia đình Bà-la-môn, được đặt tên là chàng trẻ Senaka. Khi trưởng thành, ông học thông tất cả các môn nghệ tại Takkasilā (Đắc-xoa-thi-la), rồi trở về Bārāṇasī yết kiến nhà vua.
Vua phong cho ông địa vị quan đại thần và ban nhiều ân sủng lớn. PTS vp Pāli 342 Ông dạy vua những điều thuộc đời này và đời sau. Là một vị thuyết pháp dễ mến, ông giúp nhà vua thọ trì Ngũ Giới, thực hành bố thí, giữ ngày trai giới, tu tập mười nghiệp thiện, và như vậy an lập vua trên con đường phúc đức.
Khắp vương quốc dường như là thời kỳ chư Phật xuất thế. Vào các ngày trai giới nửa tháng, vua, các phó vương và quần thần đều tụ hội trang hoàng nơi họp mặt. Bồ-tát thuyết pháp trong gian phòng trang sức, ngồi giữa tấm da nai, với oai lực của một đức Phật, và lời ông như tiếng pháp âm của chư Phật.
Bấy giờ, một lão Bà-la-môn đi khất thực được một ngàn tiền đồng, gởi lại trong một nhà Bà-la-môn rồi tiếp tục ra đi hành khất. Trong khi ông vắng mặt, gia đình kia đã tiêu hết số tiền. Khi ông trở về đòi lại, người Bà-la-môn kia không thể hoàn trả, bèn đưa con gái mình cho ông làm vợ. Người kia nhận cô gái và lập nghiệp tại một làng Bà-la-môn không xa Bārāṇasī. Vì còn quá trẻ, vợ ông không được thỏa mãn về dục vọng và đã tư thông với một chàng Bà-la-môn trẻ khác.
Có mười sáu điều không bao giờ thỏa mãn — đó là những điều gì? Biển cả không thỏa mãn với tất cả sông ngòi; PTS vp En 211 lửa không thỏa mãn với củi; vua không thỏa mãn với vương quốc; kẻ ngu không thỏa mãn với tội lỗi; phụ nữ không thỏa mãn với ba điều: giao hợp, trang điểm và sinh con; Bà-la-môn không thỏa mãn với kinh điển; bậc thiền định không thỏa mãn với nhập định; bậc Hữu Học không thỏa mãn với danh vọng; bậc ly dục không thỏa mãn với khổ hạnh; người tinh tấn không thỏa mãn với tinh tấn; người thích đàm luận không thỏa mãn với đàm luận; bậc chính khách không thỏa mãn với chính sự; tín đồ không thỏa mãn với phụng sự Tăng-già; người rộng lượng không thỏa mãn với bố thí; bậc học giả không thỏa mãn với việc nghe pháp; và bốn bộ chúng không thỏa mãn khi được nhìn thấy Đức Phật.
Người vợ Bà-la-môn ấy PTS vp Pāli 343 vì không thỏa mãn về giao hợp, muốn loại bỏ chồng mình để tự do phạm tội. Một hôm với dụng ý xấu, bà giả vờ nằm bệnh. Khi chồng hỏi: "Này vợ, có chuyện gì vậy?" bà đáp: "Thưa Bà-la-môn, tôi không thể làm việc nhà nữa, hãy mua cho tôi một người hầu gái." — "Này vợ, ta không có tiền, lấy gì để mua?" — "Hãy đi xin bố thí để kiếm tiền về mua." — "Vậy thì hãy chuẩn bị đồ ăn cho ta lên đường." Bà nhồi vào một cái túi da gồm bột chín và bột sống rồi trao cho ông.
Người Bà-la-môn đi qua các làng xã, thị trấn và thành phố, quyên được bảy trăm tiền đồng và nghĩ: "Số tiền này đủ để mua người hầu nam nữ," bèn lên đường trở về. Tại một nơi thuận tiện có nước, ông mở túi ra, ăn một ít bột rồi đi xuống uống nước mà không buộc miệng túi lại. Lúc ấy một con rắn đen trong hốc cây, ngửi thấy mùi bột, chui vào trong túi và nằm cuộn tròn ăn bột. Người Bà-la-môn trở lại, không nhìn vào bên trong, buộc miệng túi rồi vác lên vai tiếp tục đi. Một vị Thần sống trong cây bỗng từ trong hốc cây nói với ông: "Hỡi Bà-la-môn, nếu ngươi dừng lại trên đường sẽ chết; nếu ngươi về nhà hôm nay, vợ ngươi sẽ chết," rồi biến mất.
Ông nhìn quanh nhưng không thấy vị Thần, liền kinh hãi và lo sợ cái chết, bước đến cổng thành Bārāṇasī trong tiếng khóc than. Hôm đó là ngày rằm tháng trai giới, ngày Bồ-tát thuyết pháp, đang ngồi trên pháp tọa trang nghiêm. Đại chúng tay mang hương hoa và các phẩm vật lũ lượt kéo đến nghe pháp.
Người Bà-la-môn hỏi: "Quý vị đi đâu vậy?" và được đáp: "Hỡi Bà-la-môn, hôm nay bậc trí giả Senaka thuyết pháp với giọng diệu ngọt và oai lực của một đức Phật — ông không biết sao?" Ông nghĩ: "Người ta nói ông ấy là vị thuyết pháp trí tuệ, còn ta thì đang lo sợ cái chết. Bậc trí tuệ có thể trừ bỏ nỗi khổ lớn lao — ta cũng nên đến đó nghe pháp." Thế là ông theo đại chúng đi vào. PTS vp Pāli 344 Khi đại chúng và nhà vua đã ngồi vây quanh Bồ-tát, ông đứng ở phía ngoài, không xa pháp tọa, vai vác túi bột, lòng đầy sợ hãi.
Bồ-tát thuyết pháp như thể mang dòng sông trên trời xuống hay tưới rải cam lồ. Đại chúng hoan hỷ vỗ tay và PTS vp En 212 lắng nghe. Bậc trí giả có mắt nhìn xa. Vào lúc ấy, Bồ-tát mở rộng mắt với năm vẻ đẹp nhân từ, nhìn khắp đại chúng bốn phương và nhận ra người Bà-la-môn kia. Ông nghĩ: "Cả đại chúng này đều vui mừng nghe pháp, vỗ tay tán thán, riêng người Bà-la-môn ấy đang buồn khổ và khóc. Chắc chắn có nỗi khổ nào đó trong lòng khiến ông ta rơi nước mắt. Như dùng chất chua chạm vào gỉ sét, hay làm giọt nước lăn trên lá sen, ta sẽ dạy ông ấy pháp, giải trừ nỗi khổ và mang lại sự thanh thản cho tâm ông."
Bèn gọi: "Hỡi Bà-la-môn, ta là Senaka trí giả, ta sẽ giải trừ nỗi khổ cho ngươi, hãy nói thẳng ra," rồi thuyết bài kệ đầu:
PTS vp Pāli 345 Người Bà-la-môn bày tỏ nỗi khổ, đọc bài kệ thứ hai:
Bồ-tát nghe lời Bà-la-môn, trải lưới trí tuệ như thả lưới ra biển, suy nghĩ: "Ở đời có nhiều nguyên nhân dẫn đến cái chết cho chúng sinh: có người chìm giữa biển, hay bị cá dữ bắt; có người rơi xuống sông Hằng, hay bị cá sấu chộp; có người ngã cây hay bị gai đâm; có người bị các loại vũ khí giết; có người chết vì uống thuốc độc, treo cổ, ngã vực, rét cóng, hay bị các loại bệnh tật. Vậy trong bấy nhiêu nguyên nhân cái chết, nguyên nhân nào sẽ khiến người Bà-la-môn này chết nếu ông dừng lại trên đường, hay vợ ông chết nếu ông về nhà?"
Khi suy xét, Bồ-tát nhìn thấy cái túi trên vai người Bà-la-môn và nghĩ: "Hẳn đã có con rắn chui vào túi đó, và nó chui vào khi ngửi thấy mùi bột lúc người Bà-la-môn ăn bột rồi xuống uống nước mà không buộc miệng túi lại. Khi trở lại, ông ta buộc và vác túi mà không nhìn vào trong, không hay biết rắn đã chui vào. PTS vp Pāli 346 Nếu ông dừng lại trên đường, đến chiều khi nghỉ chân ông sẽ nghĩ 'ta muốn ăn bột', mở túi rồi thò tay vào: rắn sẽ cắn tay ông và cướp mạng ông — đó là nguyên nhân cái chết của ông nếu dừng lại trên đường. Nhưng nếu về đến nhà, cái túi sẽ lọt vào tay vợ ông; bà sẽ nói 'ta muốn xem hàng trong này' rồi thò tay vào, rắn sẽ cắn bà và cướp mạng bà — đó là nguyên nhân cái chết của vợ nếu ông về nhà hôm nay."
Điều này ông biết rõ nhờ trí tuệ phương tiện. PTS vp En 213 Rồi ông hiểu rằng: "Rắn hẳn là loại rắn đen, dũng cảm và vô úy; khi cái túi chạm vào hông người Bà-la-môn, nó không hề nhúc nhích hay quẫy; giữa đám đông lớn như thế này, nó không để lộ bất kỳ dấu hiệu nào — vậy hẳn là rắn đen, dũng cảm và vô úy." Từ trí tuệ phương tiện, ông biết điều này như thể đang nhìn thấy bằng thiên nhãn. Như một người đã đứng đó và nhìn thấy con rắn chui vào túi, ông xác quyết bằng trí tuệ phương tiện, trả lời câu hỏi của người Bà-la-môn trước mặt vua, đọc bài kệ thứ ba:
PTS vp Pāli 347 Nói xong, ông hỏi: "Hỡi Bà-la-môn, trong túi của ngươi có bột không?" — "Có, thưa ngài." — "Hôm nay trong bữa điểm tâm ngươi có ăn bột không?" — "Có, thưa ngài." — "Ngươi ngồi ở đâu?" — "Trong một khu rừng, bên gốc cây." — "Khi ăn bột xong và xuống uống nước, ngươi có buộc miệng túi lại không?" — "Không buộc, thưa ngài." — "Khi uống nước xong trở lại, ngươi có nhìn vào trong trước khi buộc không?" — "Không, tôi buộc túi mà không nhìn vào, thưa ngài." — "Hỡi Bà-la-môn, khi ngươi xuống uống nước, ta nghĩ con rắn đã chui vào túi vì ngửi thấy mùi bột, ngươi không hay biết.
Vậy thực tình là như thế. Vậy hãy để túi xuống đất, đặt ra giữa đại chúng, mở miệng ra, đứng lùi lại, cầm gậy đánh vào túi: khi ngươi thấy một con rắn đen bò ra, mang bành trướng và phun phì, ngươi sẽ không còn nghi ngờ gì nữa." Ông đọc bài kệ thứ tư:
Người Bà-la-môn nghe lời Đại Nhân, dù hoảng sợ run rẩy, vẫn làm theo. Con rắn bò ra khỏi túi khi miệng túi bị gậy đánh, rồi đứng nhìn đại chúng.
PTS vp Pāli 348 Bậc Đạo Sư giải thích sự việc, đọc bài kệ thứ năm:
Khi con rắn bò ra đầu mang trương phồng, đại chúng thấy đó như điềm báo trước của Bồ-tát thành Phật Toàn Giác. Đại chúng vẫy vải và khảy móng tay hàng ngàn người, mưa bảy báu vật như mưa to từ mây dày, tiếng "lành thay" vang lên hàng trăm ngàn lần. PTS vp En 214 Tiếng vang như mặt đất chẻ đôi.
Việc trả lời câu hỏi ấy với oai lực Phật này không phải là oai lực do sinh ra, hay oai lực của người phú quý và dòng dõi cao sang: vậy đó là oai lực gì? Đó là oai lực của trí tuệ. Người trí tuệ làm tăng trưởng tuệ quán, mở cửa vào Bốn Thánh Đạo, đạt đến Niết-bàn vô tận vĩ đại và thành tựu viên mãn quả vị Thanh Văn, Bích Chi Phật và Đẳng Chánh Giác. Trí tuệ là tối thượng trong các phẩm chất dẫn đến Niết-bàn vĩ đại vô tận; các phẩm chất còn lại là những tùy tùng của trí tuệ. Vì thế mà nói rằng:
Sau khi Bồ-tát đã trả lời câu hỏi như vậy, một người bắt rắn đặt miệng bịt cho rắn, bắt lại và thả vào rừng. Người Bà-la-môn đến trước vua, lễ bái và ngợi khen, đọc nửa bài kệ:
> Vua Janaka thật hạnh ngộ lớn,
> Được gặp Senaka bậc trí giả.
PTS vp Pāli 349 Sau khi ngợi khen vua, ông lấy bảy trăm tiền từ túi ra và ca ngợi Bồ-tát, đọc một bài kệ rưỡi để dâng lễ phẩm trong niềm vui mừng:
Nghe vậy, Bồ-tát đọc bài kệ thứ tám:
Nói xong, Bồ-tát truyền cấp đủ một ngàn tiền cho người Bà-la-môn và hỏi: "Ai sai ngươi đi xin bố thí?" — "Vợ tôi, thưa ngài." PTS vp Pāli 350 "Vợ ngươi già hay trẻ?" — "Trẻ, thưa ngài." — "Vậy thì bà ta đang tư thông với người khác và đuổi ngươi đi để tự do phạm tội. Nếu ngươi mang số tiền này về nhà, bà ta sẽ đưa cho tình nhân số tiền do công lao ngươi kiếm được. Vậy ngươi không nên về thẳng nhà mà phải để tiền ngoài thành ở gốc cây hay ở đâu đó trước đã." Ông bèn đưa người đó ra đi.
Người này đến gần làng, để tiền ở gốc cây rồi về nhà lúc chiều tối. Vợ ông lúc ấy đang ngồi với tình nhân. Người Bà-la-môn đứng ở cửa gọi: "Này vợ!" Bà nhận ra giọng ông, tắt đèn và mở cửa. Khi ông bước vào, bà đưa người kia ra ngoài cửa. Bà quay lại không thấy gì trong túi, bèn hỏi: "Thưa Bà-la-môn, trong chuyến đi ông được bố thí bao nhiêu?" — "Một ngàn tiền." — "Để đâu rồi?" — "Để ở chỗ kia kìa. Thôi, đừng lo, ngày mai ta sẽ đi lấy." Bà đi kể cho tình nhân. Hắn đến lấy số tiền ấy như lấy kho báu của riêng mình.
Ngày hôm sau người Bà-la-môn đi, không thấy tiền, bèn đến gặp Bồ-tát. Ông hỏi: "Có chuyện gì vậy, Bà-la-môn?" — "Tôi không thấy tiền, thưa ngài." — "Ông có kể cho vợ ông không?" — "Có, thưa ngài." Biết vợ đã kể cho tình nhân, Bồ-tát hỏi: "Hỡi Bà-la-môn, có người Bà-la-môn nào là bạn của vợ ông không?" — "Có, thưa ngài." — "Có người nào là bạn của ông không?" — "Có, thưa ngài."
Đại Nhân truyền cấp đủ chi phí bảy ngày và dặn: "Hãy về mời và đãi tiệc: ngày đầu mời mười bốn người Bà-la-môn, bảy người của ông và bảy người của vợ ông. Từ ngày hôm sau trở đi, mỗi ngày bớt đi một người, đến ngày thứ bảy ông mời một người và vợ mời một người. Nếu ông nhận ra người Bà-la-môn mà vợ ông mời vào ngày thứ bảy đã đến mỗi lần trước đó, hãy báo cho ta biết." PTS vp Pāli 351
Người Bà-la-môn làm đúng vậy, rồi báo Bồ-tát: "Thưa ngài, tôi đã nhận ra người Bà-la-môn luôn có mặt trong mỗi bữa tiệc của chúng tôi." Bồ-tát cho người đi cùng với ông để dẫn người Bà-la-môn kia đến, và hỏi: "Ông có lấy một ngàn tiền của người Bà-la-môn này từ gốc cây đó không?" — "Tôi không lấy, thưa ngài." — "Ông không biết rằng ta là Senaka trí giả; ta sẽ khiến ông phải đem tiền ra trả." Hắn sợ hãi và thú nhận: "Tôi đã lấy." — "Ông làm gì với tiền đó?" — "Tôi để ở chỗ đó kia, thưa ngài."
Bồ-tát hỏi người Bà-la-môn thứ nhất: "Hỡi Bà-la-môn, ông muốn giữ vợ hay lấy vợ khác?" — "Cho tôi giữ bà ấy, thưa ngài." Bồ-tát sai người đi lấy tiền và đưa cả người vợ về. Ông trao tiền từ tay kẻ trộm về cho người Bà-la-môn, trừng phạt kẻ kia, đuổi ra khỏi thành, phạt người vợ và ban cho người Bà-la-môn đại ân, cho ông ta trú ngụ gần bên mình.
Sau khi giảng dạy xong, Đức Đạo Sư tuyên thuyết Tứ Thánh Đế và xác nhận Bổn Sanh: Sau khi tuyên thuyết Tứ Đế xong, nhiều người chứng đắc quả vị Dự Lưu — "Thuở đó người Bà-la-môn là Ānanda, vị Thần là Sāriputta, đại chúng là Tăng-già đoàn của Phật, còn trí giả Senaka chính là ta."
---
Jātaka, tức Chuyện Tiền Kiếp của Đức Phật, do E.B. Cowell chủ biên, Nhà xuất bản Đại học Cambridge.
- Quyển 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.
- Quyển 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.
- Quyển 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
- Quyển 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.
- Quyển 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.
- Quyển 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.
Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Quý vị được tự do sử dụng.
Được số hóa, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1/2006–tháng 2/2010, bởi John Bruno Hare và các cộng tác viên. Cảm ơn Sacred Texts Archive đã cung cấp các văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.
Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.
Dấu “…” là lối viết tắt có từ chính bản gốc Pāli, gọi là peyyāla. Kinh tạng nguyên thuỷ vốn được tụng thuộc lòng, nên những đoạn lặp lại y nguyên ở bài trước thường được rút gọn lại bằng một dấu lược thay vì chép lại toàn văn. Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu giữ đúng lối ấy. Vì vậy có bài trông ngắn, nhưng đó là hình thức chuẩn mực của kinh điển chứ không phải app thiếu nội dung hay bản dịch bị cắt. Phần bị lược có thể đọc đầy đủ ở các bài liền trước trong cùng phẩm.
Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.
🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.