Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 400Jātaka Dabbhapuppha

Tên Pāli / Sanskrit:Dabbhapupphajātaka

📖1,521 từ · ~6 phút đọc
2
Tóm tắt

Câu chuyện này được Đức Bổn Sư kể tại Jetavana, liên quan đến Upananda thuộc dòng tộc Sakya.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân Đức Phật

Quyển 7 Sattanipāta

400. Jātaka Dabbhapuppha

Dabbhapupphajātaka

---

"Này Anutiracāri..." — Bậc Đạo Sư kể câu chuyện này khi đang cư trú tại Jetavana, về Upananda thuộc tộc Sakya. Vị này đã xuất gia với đức tin, nhưng bỏ bê các đức hạnh Thiểu dục và các giới khác, trở nên rất tham lam. Vào đầu mùa hạ, ông ta thử hai ba tu viện, để lại ở nơi này một chiếc dù hoặc một đôi dép, ở nơi khác một cái gậy đi đường hoặc một cái bình nước, và bản thân thì ở một tu viện khác.

Ông ta bắt đầu mùa hạ ở một tu viện trong vùng quê, và giả vờ nói với các Tỳ-khưu "Các Tỳ-khưu phải sống Thiểu dục," giảng giải cho họ, cứ như thể ông ta đang làm mặt trăng mọc trên bầu trời, về con đường đến bậc cao quý của Thiểu dục, tán dương Thiểu dục với các vật dụng cần thiết. Nghe ông ta giảng, các Tỳ-khưu bỏ đi những y phục đẹp và đồ dùng tốt, thay bằng những nồi đất và y bằng vải vụn. Ông ta để những thứ kia vào phòng của mình, và khi mùa hạ và lễ Tự Tứ (pavāraṇā) kết thúc, ông ta đổ đầy một cái xe và đi đến Jetavana.

Dọc đường, phía sau một tu viện trong rừng, ông ta quấn chân bằng dây leo và nói: "Chắc chắn có thể kiếm được gì đó ở đây," rồi vào tu viện. Hai vị Trưởng lão đã trải qua mùa hạ ở đó: họ có được hai tấm y thô và một tấm y mịn, và vì không thể chia đôi, họ vui mừng khi thấy ông ta, nghĩ: "Vị Trưởng lão này sẽ chia cho chúng ta," và nói: "Thưa Ngài, chúng tôi không thể chia phần y mùa hạ này; chúng tôi đang có tranh chấp, xin Ngài hãy chia cho chúng tôi." Ông ta đồng ý và đưa hai tấm y thô cho họ rồi lấy tấm y mịn cho mình, nói: "Cái này là phần của tôi, người biết giới luật," và bỏ đi.

Hai vị Trưởng lão này, vốn yêu quý tấm y mịn, đi theo ông ta đến Jetavana, và kể sự việc cho các Tỳ-khưu thông thạo giới luật, hỏi: "Người thông thạo giới luật có đúng khi ăn cướp như vậy không?" Các Tỳ-khưu thấy đống y và bát do Trưởng lão Upananda mang về, liền nói: "Thưa Ngài, Ngài có phước đức lớn, Ngài đã kiếm được nhiều đồ ăn và y phục." Ông ta nói: "Thưa chư vị, phước đức của tôi ở đâu? Tôi kiếm được cái này bằng cách này kia," và kể cho họ nghe tất cả.

Trong Giảng đường Chân Lý, người ta nêu lên câu chuyện: "Thưa chư vị, Upananda thuộc tộc Sakya rất tham lam và háo của." PTS vp Pali 333 Bậc Đạo Sư, khi biết chủ đề của họ, nói: "Này các Tỳ-khưu, hành động của Upananda không thích hợp cho sự tiến bộ; khi một Tỳ-khưu giảng về tiến bộ cho người khác, vị ấy trước hết nên tự hành xử thích hợp rồi mới giảng cho người khác:"

> Trước tiên hãy tự xác lập trong điều chính đáng,
> Rồi mới giảng dạy; bậc trí không nên cầu lợi cho mình.

Bằng kệ ngôn này trong Kinh Pháp Cú, Ngài chỉ rõ Pháp và nói: "Này các Tỳ-khưu, Upananda không phải lần này mới tham lam; trước đây ông ta cũng đã tham lam và cướp đoạt tài sản người khác;" và Ngài kể câu chuyện xưa.

---

Thuở xưa, khi Brahmadatta trị vì ở Benares, Bồ-tát là thần cây bên bờ sông. Một con chó rừng tên Māyāvī đã lấy vợ và sống ở một nơi gần bờ sông đó. Một ngày kia, vợ nó nói với nó: "Chồng ơi, em đang thèm ăn: em muốn ăn một con cá rohi tươi." Nó nói: "Cứ yên tâm, anh sẽ đem về cho em," và đi dọc bờ sông, ông ta quấn chân bằng dây leo và đi dọc bờ. Lúc đó, hai con rái cá, Gambhīracāri và Anutiracāri, đang đứng trên bờ tìm cá. Gambhīracāri thấy một con cá rohi lớn, và lao xuống nước trong một cú nhảy, tóm lấy đuôi nó. Con cá mạnh và bơi đi kéo theo nó. Nó gọi con kia: "Con cá lớn này đủ cho cả hai chúng ta, hãy đến giúp ta," nói kệ ngôn đầu tiên:

> Này Anutiracāri, hãy mau đến giúp ta, ta cầu ông:
> Ta đã bắt được một con cá lớn: nhưng bằng sức mạnh nó đang kéo ta đi.

PTS vp Pali 334 Nghe vậy, con kia nói kệ ngôn thứ hai:

> Gambhīracāri, chúc may mắn cho ông! Hãy nắm chặt và vững vàng,
> Và như chim đại bàng nâng một con rắn, ta sẽ nhấc kẻ đó lên.

Rồi cả hai cùng nhau kéo con cá rohi lên, đặt nó xuống đất và giết chết: nhưng mỗi con nói với con kia "Anh chia đi," và chúng cãi nhau không thể chia được: vì thế chúng ngồi xuống mà không chia. Lúc đó con chó rừng đến nơi. Nhìn thấy nó, cả hai đều cúi đầu chào và nói: "Hỡi bậc có màu cỏ xanh, con cá này chúng tôi đã cùng nhau bắt được: tranh chấp nảy sinh vì chúng tôi không thể chia được: xin Ngài hãy chia đều và phân phần nó," đọc kệ ngôn thứ ba:

> Giữa chúng tôi đã nảy sinh tranh chấp, hỡi bậc mang sắc cỏ! Hãy nhìn!
> Xin hãy để cuộc tranh chấp được giải quyết công bằng bởi Ngài.

Con chó rừng nghe vậy, tuyên bố sức mạnh của bản thân:

> Ta đã phân xử nhiều vụ và làm được một cách hòa bình:
> Hãy để cuộc tranh chấp của quý vị được ta giải quyết công bằng.

Sau khi nói kệ ngôn đó và tiến hành phân chia, nó nói kệ ngôn này:

> Đuôi, hỡi Anutiracāri; Gambhīracāri, phần đầu:
> Phần giữa đương nhiên sẽ phải trả cho người phân xử.

PTS vp Pali 335 Sau khi chia cá như vậy, nó nói: "Hãy ăn đầu và đuôi mà không cãi nhau," và ngậm phần giữa trong miệng rồi chạy đi ngay trước mắt chúng. Chúng ngồi xuống chán nản, như thể đã mất cả ngàn đồng tiền, và đọc kệ ngôn thứ sáu:

> Nếu không vì tranh chấp của chúng ta, nó đã đủ cho chúng ta mà không thiếu:
> Nhưng nay con chó rừng lấy đi con cá, còn lại cho chúng ta chỉ đầu và đuôi.

Con chó rừng hài lòng và nghĩ "Bây giờ ta sẽ cho vợ ta ăn cá rohi," đi tìm vợ. Vợ nó nhìn thấy nó đến và cúi đầu chào nói kệ ngôn:

> Cũng như vị vua vui mừng khi sáp nhập thêm một vương quốc vào quyền cai trị của mình,
> Vậy ta vui mừng khi thấy chồng ta hôm nay miệng đầy ắp. PTS vp En 207

Rồi cô hỏi về phương tiện thành tựu, đọc kệ ngôn:

> Là sinh vật của đất liền, làm thế nào ông bắt được cá từ nước?
> Ông đã làm được điều đó như thế nào, hỡi chồng ta? Xin hãy trả lời ý muốn của ta.

Con chó rừng, giải thích phương tiện cho vợ, đọc kệ ngôn tiếp theo:

> Bởi tranh chấp mà sự yếu đuối của chúng đến, bởi tranh chấp mà phương tiện của chúng suy kiệt:
> Bởi tranh chấp mà các con rái cá mất đi con mồi của chúng: Māyāvī ơi, hãy ăn mồi đi.

PTS vp Pali 336 Còn có một kệ ngôn khác được thốt ra bằng Trí Tuệ Hoàn Hảo của Phật:

> Cũng vậy khi tranh chấp nảy sinh giữa loài người,
> Họ tìm đến người phân xử: khi đó ông ta là thủ lĩnh:
> Của cải của họ suy kiệt, và kho bạc của vua được lợi.

Sau bài học, Bậc Đạo Sư tuyên bố các Chân Lý và nhận diện Kiếp Sinh: "Vào thời đó, con chó rừng là Upananda, các con rái cá là hai ông già, còn thần cây đã chứng kiến nguyên do là bản thân Ta."

---

Jātaka, hay Chuyện Tiền Thân Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, xuất bản bởi The Cambridge University Press.

  • Quyển 1, Robert Chalmers dịch, 1895.
  • Quyển 2, W.H.D. Rouse dịch, 1895.
  • Quyển 3, H.T. Francis và R.A. Neil dịch, 1897.
  • Quyển 4, W.H.D. Rouse dịch, 1901.
  • Quyển 5, H.T. Francis dịch, 1905.
  • Quyển 6, E.B. Cowell và W.H.D. Rouse dịch, 1907.

Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006–tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và những người khác.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-khưu Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến