Ja 398Sutano Jātaka
Tên Pāli / Sanskrit:Sutanujātaka
Câu chuyện này được Đức Bổn Sư kể tại Jetavana, liên quan đến một vị tỳ-kheo phụng dưỡng mẹ. Cơ duyên của câu chuyện sẽ được trình bày trong bản sinh Sāma.
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
– Chuyện Tiền Thân Đức Phật
– Quyển 7 — Sattanipāta (Tập Bảy)
398. Sutano Jātaka — Chuyện Chàng Sutana
"Đức Vua sai phái…" v.v. — Bậc Đạo Sư kể câu chuyện này trong khi cư trú tại Jetavana, nhân sự kiện một vị tỳ-khưu phụng dưỡng mẹ già. Nhân duyên khởi phát câu chuyện sẽ được trình bày trong Chuyện Tiền Thân Sama.
PTS vp Pali 325 Thuở xưa, khi vua Brahmadatta đang trị vì tại Benares, Bồ-tát sinh vào gia đình một người cư sĩ nghèo khó; họ đặt tên ngài là Sutana. Khi trưởng thành, ngài đi làm thuê kiếm sống để phụng dưỡng cha mẹ; khi cha qua đời, ngài tiếp tục nuôi dưỡng mẹ. Vị vua đương thời vốn ưa thích săn bắn.
Một hôm, nhà vua cùng đoàn tùy tùng đông đảo tiến vào khu rừng rộng một hoặc hai do-tuần, và ban chiếu lệnh cho mọi người: "Nếu có con nai nào thoát khỏi vị trí canh gác của ai, người đó phải nộp phạt bằng giá trị con nai ấy." Các quan đại thần bèn dựng một chòi ẩn kín bên đường lớn và nhường chỗ cho nhà vua. Bầy nai bị tiếng la hét của người vây quanh hang ổ khuấy động, và một con hươu chạy đến vị trí của nhà vua. Nhà vua nghĩ: "Ta sẽ bắn trúng nó," và phóng mũi tên.
Con vật, vốn khôn khéo, thấy mũi tên đang nhắm vào sườn liền xoay mình lại và ngã xuống như thể bị trúng tên. Nhà vua nghĩ: "Ta đã bắn trúng rồi," và chạy đến tóm lấy. Con hươu vùng dậy bỏ chạy như gió.
Các quan lại và mọi người đều chế nhạo nhà vua. Nhà vua đuổi theo con hươu, và khi nó kiệt sức, nhà vua chém đôi nó bằng kiếm. Xỏ hai mảnh vào một đoạn gậy như đòn gánh, nhà vua đến gần một cây đa bên đường và nói: "Ta sẽ nghỉ ngơi một chút," rồi nằm xuống ngủ thiếp đi.
Một dạ-xoa (yakkha) tên Makhadeva đã tái sinh trong cây đa ấy, và được Tứ Đại Thiên Vương Vessavana ban cho quyền được ăn thịt tất cả chúng sinh đến nơi đó. Khi nhà vua tỉnh dậy, dạ-xoa nói: "Hãy dừng lại, ngươi là thức ăn của ta," và nắm lấy tay nhà vua. Nhà vua hỏi: "Ngươi là ai?" "Ta là dạ-xoa đã tái sinh ở đây; ta được quyền ăn thịt tất cả người nào đến chỗ này." Nhà vua thu hết can đảm và hỏi: "Ngươi chỉ muốn ăn hôm nay thôi hay liên tục mãi mãi?" "Ta sẽ liên tục ăn thịt những gì ta kiếm được." "Vậy thì hôm nay hãy ăn con hươu này và tha ta đi;
từ ngày mai ta sẽ sai người mang một mâm cơm đến cho ngươi mỗi ngày." "Hãy cẩn thận: vào ngày nào không có ai được phái đến PTS vp Pali 326, ta sẽ ăn ngươi đó." "Ta là vua Benares: không việc gì ta không làm được." Dạ-xoa nhận lời hứa và tha cho nhà vua.
Khi nhà vua về tới kinh thành, ngài kể chuyện cho một vị quan hầu cận và hỏi phải làm gì. PTS vp En 202 "Có ấn định thời hạn không, tâu bệ hạ?" "Không có." "Đó là điều sai lầm khi bệ hạ đã giao kèo như vậy; nhưng thôi không sao, trong ngục còn nhiều người." "Vậy khanh hãy lo liệu việc này và giúp ta cứu mạng ta." Vị quan đồng ý và hàng ngày dẫn một người từ nhà tù đến gặp dạ-xoa với một mâm cơm mà không cho người đó biết lý do.
Dạ-xoa ăn cả gạo lẫn người. Sau một thời gian, các nhà tù trở nên trống rỗng. Nhà vua không còn ai để mang cơm thì run sợ vì sợ chết.
Vị quan an ủi nhà vua rằng: "Tâu bệ hạ, lòng tham tiền của còn mạnh hơn lòng muốn sống: hãy đặt một gói nghìn đồng vàng lên lưng voi và cho người đánh trống rao khắp nơi, 'Ai sẽ mang cơm đến gặp dạ-xoa và nhận được số tiền này?'" và ông đã làm như vậy. Bồ-tát nghĩ: "Ta chỉ kiếm được vài đồng xu tiền công mà hầu như không đủ nuôi mẹ; ta sẽ lấy số tiền này trao cho mẹ, rồi đi gặp dạ-xoa: nếu ta có thể thắng hắn thì tốt, nếu không thể thì ít nhất mẹ ta cũng sẽ sống sung túc." Vì vậy ngài nói với mẹ, nhưng bà nói: "Mẹ đã có đủ rồi, con ơi, mẹ không cần tiền của," và ngăn cản con hai lần; nhưng đến lần thứ ba, không hỏi mẹ nữa, ngài nói: "Thưa các vị, hãy đưa nghìn đồng vàng cho tôi, tôi sẽ mang cơm đi." Vì vậy ngài đưa nghìn đồng vàng cho mẹ và nói: "Mẹ đừng lo buồn;
con sẽ thắng dạ-xoa và đem lại hạnh phúc cho dân chúng; con sẽ trở về làm cho khuôn mặt đầy nước mắt của mẹ phải cười." Rồi ngài lạy mẹ, đi gặp nhà vua cùng các tùy tùng của vua, và lạy vua rồi đứng đó.
Nhà vua nói: "Này người tốt bụng, người có sẵn sàng mang cơm đi không?" "Thưa vâng, tâu bệ hạ." "Người cần mang theo những gì?" PTS vp Pali 327 "Đôi dép vàng của bệ hạ, tâu bệ hạ." "Để làm gì?" "Tâu bệ hạ, dạ-xoa đó được phép ăn thịt tất cả người nào đứng trên mặt đất dưới gốc cây của hắn; con sẽ đứng trên dép, không phải trên đất của hắn." "Còn gì khác không?" "Cây dù của bệ hạ, tâu bệ hạ." "Vì sao?" "Tâu bệ hạ, dạ-xoa được phép ăn thịt tất cả người đứng trong bóng cây của hắn;
con sẽ đứng trong bóng dù, không phải bóng cây của hắn." "Còn gì nữa không?" "Thanh kiếm của bệ hạ, tâu bệ hạ." "Để làm gì?" "Tâu bệ hạ, ngay cả quỷ thần cũng sợ những người cầm vũ khí trong tay." "Còn gì khác không?" "Bát vàng của bệ hạ, đựng đầy cơm của riêng bệ hạ, tâu bệ hạ." "Vì sao vậy, này người tốt?" "Người khôn ngoan như con không thể mang thức ăn thô trong bát đất nung." Nhà vua chấp thuận và sai các quan lại trao cho ngài tất cả những gì ngài xin.
Bồ-tát nói: "Đại vương đừng lo, con sẽ trở về hôm nay sau khi đã thắng dạ-xoa và đem lại hạnh phúc cho bệ hạ," rồi cầm lấy những thứ cần thiết và đến nơi đó, ngài cho người dừng lại không xa cây đa, xỏ dép vàng vào chân, đeo kiếm, che dù trắng trên đầu, và cầm cơm trong bát vàng đến gặp dạ-xoa. Dạ-xoa đang canh chừng đường thấy ngài và nghĩ: "Người này đến không giống những người đến vào những ngày khác, lý do là gì?" Bồ-tát tiến lại gần cây, dùng mũi kiếm đẩy mâm cơm vào bóng tối và đứng gần đó đọc kệ đầu tiên:
Đức vua sai đem cơm ngon thịt đầy,
Makhadeva nếu ở nhà, xin ra nhận lấy! PTS vp En 203
PTS vp Pali 328 Nghe vậy, dạ-xoa nghĩ: "Ta sẽ đánh lừa hắn và ăn thịt hắn khi hắn đi vào bóng tối," và nói kệ thứ hai:
Này chàng trai, hãy vào đây cùng thức ăn thơm ngon,
Cả ngươi lẫn thức ăn của ngươi, ta đều muốn thưởng thức.
Rồi Bồ-tát nói hai bài kệ:
PTS vp Pali 329 Dạ-xoa nghĩ: "Chàng trai nói đúng," và trong thiện tâm đọc hai bài kệ:
Này Sutana trẻ tuổi, lợi ích của ta rõ ràng như ngươi chỉ bày:
Hãy về thăm mẹ bình an, ta cho ngươi đi.
Này chàng trai, hãy cầm kiếm, dù, và bát mà về,
Hãy vui vẻ về thăm mẹ và đem lại hạnh phúc cho bà.
Nghe lời dạ-xoa, Bồ-tát vui mừng, nghĩ: "Sứ mệnh của ta đã hoàn thành, dạ-xoa đã bị khuất phục, tiền tài đã có được và lời vua được giữ trọn," rồi tạ ơn dạ-xoa và đọc bài kệ cuối:
Cùng bà con quyến thuộc, hỡi dạ-xoa, nguyện được hạnh phúc an vui:
Mệnh vua đã hoàn thành, và tiền của đã về tay ta.
Vì vậy ngài khuyên nhủ dạ-xoa rằng: "Này bạn, người đã từng làm những ác nghiệp, người tàn nhẫn và hung dữ, người đã ăn thịt và uống máu của kẻ khác, vì vậy mà người bị sinh làm dạ-xoa: từ nay về sau đừng sát sinh hay làm những việc tương tự như vậy:" rồi ngài nói về phước lành của đức hạnh và nỗi khổ của tội lỗi, và ngài đã thiết lập dạ-xoa trong năm giới: rồi ngài nói: "Sao phải sống trong rừng? Hãy đến, ta sẽ đưa người về ở cổng thành và giúp người được cơm ngon hàng ngày." Vì vậy ngài đi cùng dạ-xoa, bảo hắn cầm kiếm và các thứ khác, rồi về Benares.
Người ta báo cho nhà vua biết Sutana đã đến cùng dạ-xoa. Nhà vua cùng các quan lại PTS vp Pali 330 ra đón Bồ-tát, lập dạ-xoa ở cổng thành và cho hắn được ăn cơm ngon hàng ngày; rồi nhà vua vào thành, cho người đánh trống rao khắp nơi, triệu tập dân chúng và ca ngợi Bồ-tát, phong cho ngài chức chỉ huy quân đội: bản thân nhà vua được thiết lập trong giáo pháp của Bồ-tát, thực hành bố thí và các hạnh lành khác, và trở thành người hướng đến cõi trời.
Sau bài học, Bậc Đạo Sư tuyên thuyết Tứ Thánh Đế, và xác định Chuyện Tiền Thân — Sau khi tuyên thuyết Tứ Đế, vị tỳ-khưu phụng dưỡng mẹ đã chứng được Sơ Quả — "Lúc bấy giờ, Dạ-xoa chính là Angulimala, nhà vua là Ananda, chàng trai ấy chính là ta."
Chuyện Tiền Thân, hay Những Câu Chuyện Về Các Tiền Kiếp Của Đức Phật, biên soạn bởi E.B. Cowell, xuất bản bởi Nhà xuất bản Đại học Cambridge.
- Tập 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.
- Tập 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.
- Tập 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
- Tập 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.
- Tập 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.
- Tập 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.
Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Quý vị có thể tự do sử dụng theo ý muốn.
Quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006–tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và các cộng sự. Cảm ơn Kho Văn Bản Thiêng Liêng đã cung cấp các văn bản này ở dạng kỹ thuật số.
Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-khưu Sujato.
Dấu “…” là lối viết tắt có từ chính bản gốc Pāli, gọi là peyyāla. Kinh tạng nguyên thuỷ vốn được tụng thuộc lòng, nên những đoạn lặp lại y nguyên ở bài trước thường được rút gọn lại bằng một dấu lược thay vì chép lại toàn văn. Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu giữ đúng lối ấy. Vì vậy có bài trông ngắn, nhưng đó là hình thức chuẩn mực của kinh điển chứ không phải app thiếu nội dung hay bản dịch bị cắt. Phần bị lược có thể đọc đầy đủ ở các bài liền trước trong cùng phẩm.
Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.
🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.