Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 379Neru Jātaka

Tên Pāli / Sanskrit:Nerujātaka

📖784 từ · ~3 phút đọc
2
Tóm tắt

Câu chuyện này, Đức Thế Tôn kể tại Jetavana, liên quan đến một vị Tỳ-kheo. Tương truyền rằng vị ấy thọ nhận các đề mục thiền định từ Đức Thế Tôn rồi đến trú tại một làng vùng biên cương. Dân làng, hoan hỷ với phong thái của vị ấy, cúng dường thức ăn, dựng cho vị ấy một am thất trong rừng, và sau khi xin vị ấy hứa ở lại, họ tôn kính vị ấy hết mực. Thế nhưng họ lại bỏ vị ấy để theo các thầy dạy về tính thường hằng của vật chất, rồi lại bỏ những vị đó để theo phái phủ nhận sự bất tử, rồi lại bỏ những vị này để theo phái tu khổ hạnh lõa thể; vì các thầy của tất cả các giáo phái ấy lần lượt đến giảng dạy trong dân làng.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Những Câu Chuyện Về Các Tiền Kiếp Của Đức Phật

Quyển 6 — Chanipāta

379. Nerujātaka

"Quạ và quạ đen," v.v.—Bậc Đạo Sư kể câu chuyện này tại Jetavana về một vị Tỳ-khưu nhất định. Câu chuyện kể rằng vị ấy nhận được các đề mục thiền định từ Bậc Đạo Sư rồi đi đến một ngôi làng vùng biên giới. Ở đó dân làng, hài lòng với phong thái của vị ấy, cung cấp thức ăn, xây cho vị ấy một cái lều trong rừng, và sau khi lấy lời hứa, khiến vị ấy ở lại đó, và dành cho vị ấy sự tôn kính lớn lao.

Nhưng họ đã từ bỏ vị ấy để theo các vị thầy truyền dạy về sự thường hằng của vật chất, rồi sau đó lại từ bỏ những vị đó để theo giáo phái phủ nhận bất tử, và rồi lại từ bỏ những vị đó để theo phái khổ hạnh lõa thể: vì các vị thầy của tất cả các giáo phái này đã lần lượt đến với họ. Vì vậy vị Tỳ-khưu bất hạnh PTS vp En 160 ở giữa những người không biết thiện ác là gì, và sau kỳ An cư mùa mưa và lễ Tự tứ (Pavāraṇā), vị ấy trở lại gặp Bậc Đạo Sư, và khi được Ngài hỏi, kể cho Ngài nghe nơi vị ấy đã ở suốt mùa mưa và rằng vị ấy đã bất hạnh giữa những người không biết thiện ác là gì.

Bậc Đạo Sư nói: "Những bậc Hiền trí thời xưa, dù sinh làm thú vật, cũng không ở lại một ngày nào giữa những người không biết thiện ác là gì, sao ngươi lại làm vậy?" và Ngài kể câu chuyện.

Thuở xưa, khi Brahmadatta là vua ở Benares, Bồ-tát sinh làm một con ngỗng vàng. Cùng với người em trai PTS vp Pali 247 Ngài sống trên ngọn núi Cittakūṭa và ăn lúa hoang ở Himalaya. Một hôm trong chuyến bay trở về Cittakūṭa, hai anh em nhìn thấy ngọn núi vàng Neru và đậu trên đỉnh núi. Xung quanh núi có chim thú đủ loại đến kiếm ăn: từ khi đến núi trở đi, chúng trở thành màu vàng do ánh sáng tỏa ra từ núi. Người em trai của Bồ-tát trông thấy điều này, nhưng không biết nguyên nhân, nói: "Nguyên nhân của điều này là gì?" và nói chuyện với anh trai, đọc hai bài kệ:

Quạ và quạ đen, và chúng ta những loài chim tốt nhất,\
Khi ở trên núi này, tất cả đều trông như nhau.\
Dã can tầm thường sánh ngang hổ và chúa tể của chúng,\
Những con sư tử: ngọn núi này có tên là gì?

Bồ-tát nghe xong đọc bài kệ thứ ba:

Ngọn núi cao quý nhất, Neru là tên,\
Tất cả muông thú ở đây đều trở nên đẹp đẽ.

Người em trai nghe xong đọc ba bài kệ còn lại:

Nơi nào người thiện không được tôn trọng hoặc tôn trọng ít,\
Hay ít hơn những người khác, đừng ở lại, hãy ra đi.

Kẻ tầm thường và người trí, dũng cảm và hèn nhát, đều được tôn trọng như nhau:\
Ngọn núi không phân biệt, người thiện sẽ không ở trên ngươi!

PTS vp Pali 248 Tốt nhất, trung bình và xấu nhất, Neru không phân biệt,\
Neru không phân biệt, tiếc thay chúng ta phải rời ngươi ngay.

Nói xong, cả hai đều bay lên và đi về Cittakūṭa.

Sau bài học, Bậc Đạo Sư tuyên thuyết các Chân Lý và xác nhận Bổn Sanh: khi kết thúc các Chân Lý, vị Tỳ-khưu đó được an lập trong quả vị Sơ Đạo: "Vào thời đó con ngỗng non là Ānanda, con ngỗng già hơn chính là Ta."

The Jātaka, or Stories of the Buddha's Former Births, do E.B. Cowell biên tập, xuất bản bởi The Cambridge University Press.

Quyển 1, bản dịch của Robert Chalmers, 1895.

Quyển 2, bản dịch của W.H.D. Rouse, 1895.

Quyển 3, bản dịch của H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.

Quyển 4, bản dịch của W.H.D. Rouse, 1901.

Quyển 5, bản dịch của H.T. Francis, 1905.

Quyển 6, bản dịch của E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Những bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do sử dụng theo ý muốn.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006–tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và những người khác. Cảm ơn Sacred Texts Archive đã cung cấp các văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-khưu Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến