Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 378Darimukha Jātaka

Tên Pāli / Sanskrit:Darīmukhajātaka

📖1,962 từ · ~8 phút đọc
2
Tóm tắt

Câu chuyện này được bậc Đạo Sư kể khi đang trú tại Jetavana, liên quan đến cuộc Đại Xuất Gia. Nhân duyên dẫn đến câu chuyện đã được trình bày trước đây.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân Đức Phật

Quyển 6 — Chanipāta (Tập Sáu)

378. Darimukha Jātaka — Chuyện Darimukha

"Dục lạc là đầm lầy…" v.v. — Câu chuyện này được Bậc Đạo Sư kể trong khi cư trú tại Jetavana, liên quan đến sự Xuất Gia Vĩ Đại. Tình tiết dẫn đến câu chuyện đã được thuật lại trước đó.

Thuở xưa, vua Magadha đang trị vì tại Vương Xá (Rajagaha). Bồ-tát được sinh ra từ chánh hậu của nhà vua, và họ đặt tên ngài là thái tử Brahmadatta. Vào ngày ngài ra đời, thầy tế lễ của hoàng gia cũng có một người con trai: khuôn mặt cậu bé rất đẹp, vì vậy họ gọi cậu là Darimukha.

Cả hai lớn lên trong triều đình, là đôi bạn thân thiết, và đến năm mười sáu tuổi, họ đến Takkasila để học hết các bộ môn nghệ thuật. Sau đó, muốn tiếp thu kinh nghiệm thực tiễn và hiểu biết phong tục địa phương, họ đi lang thang qua các thị trấn, làng xã và khắp nơi trong nước. Như vậy họ đến Benares, và trú tại một ngôi đền, ngày hôm sau vào thành để khất thực.

Tại một ngôi nhà trong thành, gia chủ đã nấu cháo gạo và chuẩn bị chỗ ngồi để đãi các bà-la-môn và phát thức ăn cho họ. Những người này nhìn thấy hai người trẻ đi khất thực liền nghĩ: "Các bà-la-môn đã đến," và mời vào, trải một tấm vải trắng lên chỗ ngồi của Bồ-tát và một tấm thảm đỏ lên chỗ ngồi của Darimukha. Darimukha quan sát điềm triệu này và hiểu rằng bạn mình sẽ làm vua ở Benares còn mình sẽ làm thống soái quân đội.

Họ ăn và nhận phần của mình, rồi sau khi chúc phúc, rời đi và đến vườn của nhà vua. Bồ-tát nằm trên tảng đá hoàng gia. Darimukha ngồi xoa bóp chân cho bạn.

Vua Benares vừa mới băng hà được bảy ngày. Thầy tế lễ hoàng gia đã cử hành lễ tang và trong bảy ngày đã phái xe lễ nghi đi tuần khắp nơi vì không có người kế vị ngai vàng. PTS vp En 157 Nghi thức xe lễ nghi này sẽ được giải thích trong Chuyện Tiền Thân Mahajanaka.

Chiếc xe rời thành đến tận cổng vườn, PTS vp Pali 239 đi cùng một đạo quân tứ binh và âm nhạc của hàng trăm nhạc cụ. Darimukha, nghe tiếng nhạc, nghĩ: "Chiếc xe này đang đến đón bạn ta; hôm nay bạn ta sẽ làm vua và phong cho ta chức thống soái, nhưng sao ta lại phải sống đời thế tục? Ta sẽ đi và xuất gia tu hành;" vì vậy không nói một lời với Bồ-tát, cậu bước sang một bên và đứng ẩn mình.

Vị thầy tế lễ cho dừng xe ở cổng vườn, bước vào và nhìn thấy Bồ-tát đang nằm trên chỗ ngồi hoàng gia: quan sát những tướng tốt trên đôi bàn chân của ngài, ông nghĩ: "Ngài có phúc báu và xứng đáng làm vua ngay cả bốn đại châu với hai nghìn hòn đảo xung quanh, nhưng tinh thần của ngài như thế nào?" Vì vậy ông cho tất cả nhạc cụ trổi lên hết âm lượng. Bồ-tát tỉnh dậy, gỡ tấm vải trên mặt ra và nhìn thấy đám đông; rồi đắp vải lên mặt lại và nằm thêm một lúc, và khi chiếc xe dừng lại thì ngài ngồi dậy khoanh chân trên chỗ ngồi.

Vị thầy tế lễ quỳ gối xuống thưa: "Bạch Đức Ngài, vương quyền đang thuộc về Ngài." "Sao vậy, không còn người kế vị nào sao?" "Thưa không, Đức Ngài ạ." "Vậy thì tốt," và ngài chấp nhận, rồi họ đã quán đảnh ngài ngay tại vườn. Trong vinh quang lớn lao đó, ngài quên mất Darimukha. Ngài lên xe và giữa đám đông long trọng đi vòng quanh thành; rồi dừng lại tại cổng cung điện, ngài sắp xếp vị trí các thần dân và đi lên lầu thượng.

Đúng lúc đó Darimukha nhìn thấy khu vườn vắng vẻ liền vào ngồi trên chỗ ngồi hoàng gia trong vườn. Một chiếc lá khô rụng xuống trước mặt cậu. Qua đó, cậu nhìn thấy các nguyên lý của sự tàn hoại và cái chết, nắm bắt được tam tướng của vạn vật, và trong niềm hoan hỷ vang dội khắp đất trời, cậu chứng nhập Độc Giác Bồ-đề (paccekabodhi).

Ngay lúc đó, các đặc tính của người thế tục biến mất khỏi cậu, một bát và áo cà-sa huyền diệu từ trên không trung rơi xuống bám vào thân thể cậu, ngay lập tức cậu có đủ tám vật dụng cần thiết và phong thái đầy đủ của một vị tăng trăm tuổi, PTS vp Pali 240 và bằng thần thông cậu bay vào không trung và đến hang Nandamula trên núi Himalaya.

Bồ-tát trị vì vương quốc với đức hạnh, nhưng sự huy hoàng lớn lao đã làm ngài say mê và trong bốn mươi năm ngài quên mất Darimukha. Đến năm thứ bốn mươi, ngài nhớ đến người bạn và nói: "Ta có người bạn tên Darimukha; bây giờ người ấy ở đâu?" và ngài thiết tha muốn gặp lại bạn. Từ đó trở đi, ngay cả ở trong cung nội và nơi triều đình, ngài vẫn nói: "Darimukha bạn ta ở đâu?

Ta sẽ ban thưởng hậu hĩnh cho người nào cho ta biết nơi cư trú của bạn ta." Thêm mười năm nữa trôi qua trong khi ngài thỉnh thoảng nhớ đến Darimukha. Darimukha, tuy đã là Độc Giác Phật (paccekabuddha), sau năm mươi năm suy xét và biết rằng bạn mình vẫn nhớ đến mình: và nghĩ: "Bạn ta giờ đã già và có đông con cháu; ta sẽ đến thuyết pháp cho bạn nghe và cho bạn xuất gia," ngài bay qua không trung bằng thần thông, PTS vp En 158 và đáp xuống vườn ngồi như một pho tượng vàng trên tảng đá.

Người làm vườn nhìn thấy ngài liền đến hỏi: "Bạch Tôn giả, Tôn giả từ đâu đến?" "Từ hang Nandamulaka." "Ngài là ai?" "Này bạn, ta là Darimukha, vị Độc Giác Phật." "Bạch Tôn giả, nhà vua đang mong muốn được gặp Tôn giả, tôi sẽ báo cho vua biết Tôn giả đã đến." "Hãy đi báo ngay." Người đó đi báo với nhà vua rằng Darimukha đã đến và đang ngồi trên tảng đá. Nhà vua nói: "Vậy là bạn ta đã đến, ta sẽ được gặp bạn ta;" vì vậy ngài lên xe và cùng đoàn tùy tùng đông đảo đến vườn, đảnh lễ vị Độc Giác Phật bằng lời chào thân mật và ngồi sang một bên.

Vị Độc Giác Phật nói: "Này Brahmadatta, bạn có trị vì vương quốc với đức hạnh không, không theo những con đường ác, không áp bức dân chúng vì tiền bạc, và có làm việc phúc đức qua bố thí không?" PTS vp Pali 241 rồi sau lời chào thân mật, "Này Brahmadatta, bạn đã già rồi, đã đến lúc bạn nên từ bỏ dục lạc và xuất gia," vì vậy ngài thuyết pháp và đọc bài kệ đầu tiên:

Dục lạc là đầm lầy và bùn nhơ:Ta gọi chúng là 'nỗi kinh hoàng ba gốc rễ.'Ta đã tuyên thuyết chúng là hơi nước và bụi bẩn, thưa Đức Vua:Hãy trở thành Tỳ-khưu và từ bỏ tất cả.

PTS vp Pali 242 Nghe điều này, nhà vua giải thích rằng mình bị ràng buộc bởi các ham muốn và đọc bài kệ thứ hai:

Ta bị mê hoặc, bị trói buộc và bị nhuốm sâu,
Này Bà-la-môn, bởi các dục lạc: chúng có thể đáng sợ đấy,
Nhưng ta yêu cuộc sống và không thể từ bỏ chúng:
Ta vẫn tiếp tục làm những việc phúc đức.

PTS vp Pali 243 Rồi Darimukha, tuy Bồ-tát đã nói "Ta không thể xuất gia," vẫn không từ bỏ và tiếp tục khuyên nhủ:

Người bác bỏ lời khuyên của bạn bè,
Người thương mình và muốn ngăn cản bất hạnh cho mình,
Khi nghĩ rằng 'thế giới này tốt hơn,' thì không có hồi kết,
Kẻ ngu ngốc ấy sẽ tái sinh vô số lần trong bào thai.
Nơi hình phạt đáng sợ ấy là của người đó,
Đầy mọi ô uế, bị người lành coi là ác:
Kẻ tham lam không bao giờ có thể buông bỏ các ham muốn,
Xác thịt giam cầm tất cả những ai bị nhục thể trói buộc.

PTS vp Pali 244 Vì vậy Darimukha, vị Độc Giác Phật, chỉ rõ nỗi khổ phát sinh từ sự thụ thai và sự hình thành, để tiếp theo chỉ ra nỗi khổ của sự ra đời, ngài đọc một bài kệ rưỡi:

Bị máu bao phủ và bị vấy bẩn thô thiển,
Tất cả chúng sinh hữu tình thoát ra từ lòng mẹ khi sinh:
Bất cứ điều gì họ chạm vào sau đó đều được định sẵn
Mang lại cho họ đau khổ và sầu não trên đời.
Ta nói điều ta đã tận mắt thấy, không phải điều ta nghe
Từ người khác: ta còn nhớ những thời xa xưa. PTS vp En 159

PTS vp Pali 245 Bây giờ Bậc Đạo Sư trong Trí Tuệ Viên Mãn của Ngài nói: "Vì vậy vị Độc Giác Phật đã giúp nhà vua bằng những lời lành," và cuối cùng đọc nửa bài kệ còn lại:

Darimukha đã thuyết cho Sumedha nghe
Trí huệ trong nhiều bài kệ ngọt ngào.

Vị Độc Giác Phật, sau khi chỉ rõ nỗi khổ của dục lạc, làm cho lời mình được hiểu, nói: "Tâu Đức Vua, dù xuất gia hay không, dù sao ta cũng đã nói về sự khổ não của dục lạc và phúc lành của việc xuất gia, hãy tinh cần," rồi như một con ngỗng vàng hoàng gia ngài vươn lên không trung và đạp trên mây bay đến hang Nandamulaka. Bậc Đại Sĩ chắp mười đầu ngón tay lại và cúi đầu đảnh lễ PTS vp Pali 246, đứng nhìn theo cho đến khi Darimukha khuất bóng; rồi ngài cho gọi con trưởng và trao vương quyền cho con; và rời bỏ dục lạc, trong khi đám đông lớn đang khóc lóc than van, ngài đi đến núi Himalaya và dựng một túp lều bằng lá rồi xuất gia tu hành: sau đó trong thời gian không dài, ngài đắc được Ngũ Quyền và Tứ Thiền, và khi mạng chung, ngài sinh lên cõi Phạm Thiên.

Sau bài học, Bậc Đạo Sư tuyên thuyết Tứ Đế: rồi nhiều vị chứng được Sơ Quả và các quả vị khác — và Ngài xác định Chuyện Tiền Thân: "Lúc bấy giờ, nhà vua chính là ta."

Chuyện Tiền Thân, hay Những Câu Chuyện Về Các Tiền Kiếp Của Đức Phật, biên soạn bởi E.B. Cowell, xuất bản bởi Nhà xuất bản Đại học Cambridge.

  • Tập 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.
  • Tập 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.
  • Tập 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
  • Tập 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.
  • Tập 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.
  • Tập 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Quý vị có thể tự do sử dụng theo ý muốn.

Quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006–tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và các cộng sự. Cảm ơn Kho Văn Bản Thiêng Liêng đã cung cấp các văn bản này ở dạng kỹ thuật số.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-khưu Sujato.

📜Vì sao trong bài có dấu “…”?

Dấu “…” là lối viết tắt có từ chính bản gốc Pāli, gọi là peyyāla. Kinh tạng nguyên thuỷ vốn được tụng thuộc lòng, nên những đoạn lặp lại y nguyên ở bài trước thường được rút gọn lại bằng một dấu lược thay vì chép lại toàn văn. Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu giữ đúng lối ấy. Vì vậy có bài trông ngắn, nhưng đó là hình thức chuẩn mực của kinh điển chứ không phải app thiếu nội dung hay bản dịch bị cắt. Phần bị lược có thể đọc đầy đủ ở các bài liền trước trong cùng phẩm.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến