Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 377Setaketu Jātaka — Jātaka 377

Tên Pāli / Sanskrit:Setaketujātaka

📖1,399 từ · ~6 phút đọc
2
Tóm tắt

Câu chuyện này, Đức Thế Tôn kể tại Jetavana, liên quan đến một vị Tỳ-kheo gian dối. Nhân duyên của câu chuyện sẽ được trình bày trong bổn sanh Uddala.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Kể Về Các Tiền Thân Của Đức Phật

Quyển 6 — Chanipāta

377. Setaketujātaka — Chuyện Setaketu

"Bạn ơi, chớ nổi giận," v.v. — Đức Bổn Sư kể câu chuyện này tại Jetavana, về một vị Tỳ-kheo gian dối. Duyên cớ câu chuyện sẽ xuất hiện trong Tiền thân Uddala. PTS vp En 154

Ngày xưa khi Brahmadatta làm vua ở Benares, Bồ-tát là một bậc thầy nổi tiếng và dạy các văn bản thiêng liêng cho năm trăm học trò. Vị cao niên trong số họ, tên là Setaketu, sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn phương Bắc, rất kiêu ngạo về dòng tộc của mình. Một ngày nọ, chàng ra khỏi thành cùng các học trò khác, và khi trở vào, chàng nhìn thấy một người cùng đinh (candāla).

"Anh là ai?" chàng hỏi. "Tôi là người cùng đinh." Chàng sợ gió sau khi chạm vào thân thể người cùng đinh có thể chạm vào thân thể mình, nên chàng la lên: "Đồ đáng nguyền, hỡi người cùng đinh bất hạnh, hãy xuống hướng gió," và vội vàng đi về phía đầu gió, nhưng người cùng đinh nhanh hơn và đứng về phía đầu gió của chàng. Rồi chàng mắng nhiếc người kia thêm nữa: "Đồ đáng nguyền, kẻ bất hạnh." Người cùng đinh hỏi: "Anh là ai?" "Tôi là sinh viên Bà-la-môn." "Được, nếu anh là vậy, anh có thể trả lời ta một câu hỏi không." "Có." "Nếu anh không thể, ta sẽ đặt anh giữa hai chân ta." Vị Bà-la-môn, cảm thấy tự tin, nói: "Hãy hỏi đi." Người cùng đinh, để cho những người xung quanh hiểu trường hợp này, đặt câu hỏi: "Thưa chàng Bà-la-môn trẻ, các 'phương hướng' là gì?" "Các phương hướng là bốn,

Đông và các hướng kia." Người cùng đinh nói: "Ta không hỏi về loại 'phương hướng' đó: và anh, dốt nát ngay cả điều này, lại khinh thường gió đã chạm vào thân thể ta," vậy ông nắm vai chàng và ép chàng xuống đặt giữa hai chân.

Các học trò khác kể lại câu chuyện với thầy giáo của họ. Thầy hỏi: "Chàng Setaketu trẻ, con có bị đặt giữa hai chân của người cùng đinh không?" "Có, thưa thầy: tên nô lệ đó đặt con giữa hai chân, nói rằng 'Hắn thậm chí không biết các phương hướng'; nhưng bây giờ con sẽ biết phải làm gì với hắn," và chàng mắng chửi người cùng đinh với giận dữ. Người thầy khuyên nhủ chàng: "Setaketu trẻ, chớ giận ông ta, ông ta là người khôn ngoan; ông ta hỏi về một loại phương hướng khác, không phải loại đó: những gì con chưa thấy, hoặc nghe, hoặc hiểu còn nhiều hơn nhiều so với những gì con đã biết": và ông đọc hai kệ để khuyên nhủ:

Bạn ơi, chớ nổi giận, giận dữ không tốt:
Trí tuệ còn nhiều hơn những gì con đã thấy hay nghe:
PTS vp Pali 234 'Phương hướng' có thể hiểu là cha mẹ,
và 'phương hướng' cũng ám chỉ bậc thầy.

Người chủ nhà cho thức ăn, y phục và nước,
cửa nhà luôn rộng mở, ông ta là một 'phương hướng':
Và 'phương hướng' theo nghĩa cao nhất, ta nghĩ,
là trạng thái cuối cùng nơi mà khổ đau sẽ thành phước lành.

PTS vp Pali 235 Vậy Bồ-tát giải thích các phương hướng cho chàng Bà-la-môn trẻ: nhưng chàng nghĩ: "Ta đã bị đặt giữa hai chân của người cùng đinh," rồi rời khỏi nơi đó và đến Takkasila, học tất cả các nghệ thuật từ một vị thầy nổi tiếng. Với sự cho phép của thầy, chàng rời Takkasila và đi lang thang học tất cả các nghệ thuật thực hành. Đến một ngôi làng biên giới, chàng thấy năm trăm ẩn sĩ PTS vp En 155 đang cư trú gần đó và được họ tấn phong.

Tất cả nghệ thuật, văn bản và pháp tu của họ, chàng đều học, và họ đi cùng chàng đến Benares. Ngày hôm sau chàng đến sân hoàng cung để khất thực. Đức vua, hài lòng với phong thái của các ẩn sĩ, cho họ thức ăn trong cung điện và chỗ trú ngụ trong vườn.

Một ngày, khi gửi thức ăn cho họ, đức vua nói: "Tối nay ta sẽ đến vườn kính lễ các vị." Setaketu đến vườn và tập họp các ẩn sĩ lại, nói: "Thưa các ngài, hôm nay đức vua sẽ đến; giờ đây bằng cách làm hài lòng các vị vua một lần, người ta có thể sống hạnh phúc suốt những năm còn lại của cuộc đời, vì vậy bây giờ một số trong các ngài hãy làm khổ hạnh xoay tròn, một số nằm trên giường gai, một số chịu đựng năm ngọn lửa, một số thực hành khổ hạnh ngồi xổm, một số làm hành động lặn, một số đọc tụng văn bản," và sau những chỉ thị này, chàng tự đặt mình ở cửa túp lều trên một chiếc ghế có tựa đầu, đặt một quyển sách có bọc màu sắc rực rỡ trên giá vẽ, và giải thích các văn bản khi được bốn hoặc năm học trò thông minh hỏi.

Vào lúc đó đức vua đến PTS vp Pali 236 và thấy họ đang làm những khổ hạnh giả dối này, ông rất vui mừng: ông đến chỗ Setaketu, chào hỏi và ngồi một bên: rồi nói chuyện với tế sư của mình, đức vua đọc kệ thứ ba:

Với răng chưa đánh, y bằng da dê và tócđều bù xù, thầm lặng đọc lời linh thiêng:Chắc chắn không có phương tiện nhân gian nào để làm lành họ không dùng đến,họ biết Sự Thật, và họ đã đạt được Giải Thoát.

Vị tế sư nghe điều này và đọc kệ thứ tư:

Một bậc hiền giả học rộng có thể làm điều ác, thưa vua:
Một bậc hiền giả học rộng có thể không theo điều phải:
Một nghìn kinh Vệ-đà sẽ không mang lại an toàn,
nếu thiếu việc lành, hay cứu khỏi cảnh xấu.

Khi đức vua nghe điều này, ông rút lại thiện cảm của mình đối với các ẩn sĩ. Setaketu nghĩ: "Đức vua đã có thiện cảm với các ẩn sĩ, nhưng vị tế sư này đã phá hủy nó như thể ông ta dùng rìu chặt: ta phải nói chuyện với ông ta": vậy khi nói chuyện với ông ta, chàng đọc kệ thứ năm:

PTS vp Pali 237 "Một bậc hiền giả học rộng có thể làm điều ác, thưa vua:
Một bậc hiền giả học rộng có thể không theo điều phải"
Ngài nói: thì kinh Vệ-đà là thứ vô dụng:
Việc lành với tự chế là điều cần thiết.

Vị tế sư nghe điều này, đọc kệ thứ sáu:

Không phải, kinh Vệ-đà không hoàn toàn vô ích:Dù việc lành với tự chế là giáo lý chân thật:Học kinh Vệ-đà nâng tên tuổi người ta lên cao,nhưng chính bằng đức hạnh mà người ta đạt đến Phúc Lạc.

Vậy vị tế sư bác bỏ học thuyết của Setaketu. Ông đã làm tất cả họ trở thành cư sĩ, trao cho họ khiên và vũ khí, và bổ nhiệm họ làm tùy tùng của đức vua như Sĩ quan Cấp cao: và từ đó người ta nói rằng xuất phát ra dòng dõi Sĩ quan Cấp cao.

Sau bài học, Đức Bổn Sư xác định Tiền thân: "Bấy giờ Setaketu là vị tế sư gian dối, người cùng đinh là Sariputta, và tế sư của đức vua chính là ta."

---

The Jātaka, or Stories of the Buddha's Former Births, hiệu đính bởi E.B. Cowell, xuất bản bởi The Cambridge University Press.

  • Vol. 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.
  • Vol. 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.
  • Vol. 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
  • Vol. 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.
  • Vol. 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.
  • Vol. 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Những bản dịch này thuộc phạm vi công cộng.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006–tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và những người khác.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến