Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 366Gumbiya Jātaka

Tên Pāli / Sanskrit:Gumbiyajātaka

📖834 từ · ~3 phút đọc
2
Tóm tắt

Câu chuyện này được Đức Bổn Sư kể tại Jetavana, liên quan đến một vị tỳ-kheo hối hận đã xuất gia. Đức Bổn Sư hỏi vị ấy có thực sự hối hận không. Vị ấy thưa: "Bạch Thế Tôn, thưa có." Đức Bổn Sư hỏi: "Ngươi đã thấy điều gì khiến sinh ra cảm giác đó?" Khi vị tỳ-kheo đáp rằng đó là do sắc đẹp của một người phụ nữ, Đức Bổn Sư dạy: "Năm phẩm chất của dục lạc này giống như mật rưới lên trên thuốc độc chết người, rồi bỏ lại trên đường bởi một người tên Gumbika." Theo lời thỉnh cầu của vị tỳ-kheo, Ngài kể lại một câu chuyện thời quá khứ.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân Đức Phật

Quyển 5 Pañcanipāta

366. Gumbiya Jātaka — Chuyện Dạ Xoa Gumbiya — Gumbiyajātaka

PTS vp Pali 200 "Độc như mật ong," v.v.—Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể khi đang cư trú tại Jetavana, về một Tỳ-kheo hối tiếc việc xuất gia. Đức Thế Tôn hỏi vị ấy có đúng là hối tiếc không. "Đúng vậy, thưa Thánh tăng," vị ấy đáp. "Ngươi đã trông thấy gì mà cảm thấy như vậy?" Đức Thế Tôn hỏi. Khi vị Tỳ-kheo đáp rằng đó là vì vẻ đẹp của một người phụ nữ, Đức Thế Tôn nói: "Năm phẩm tính của dục vọng giống như mật ong được rải lên trên bởi chất độc chết người, và được để lại trên đường bởi một kẻ tên là Gumbika." Và theo yêu cầu của vị Tỳ-kheo, Ngài kể câu chuyện quá khứ.

Ngày xưa, vào thời trị vì của Brahmadatta, vua xứ Bārāṇasī, Bồ-tát sinh ra trong một gia đình thương buôn. Và khi đã trưởng thành, Ngài xuất phát từ Bārāṇasī với hàng hóa trên năm trăm xe để đi buôn bán. Đến con đường lớn, ở cửa vào một khu rừng, Ngài tập hợp tất cả thành viên trong đoàn lại và nói: "Này! Trên con đường này có những lá cây, hoa quả và các thứ tương tự là chất độc. Trong khi ăn, hãy chú ý đừng ăn thức ăn lạ nào mà không hỏi ta trước đó: vì các loài ma quỷ đặt trên đường những rổ cơm trắng và các loại trái rừng ngọt ngào, rồi rải chất độc lên trên. Nhất định đừng ăn mà không có sự đồng ý của ta." Sau khi đưa ra lời cảnh báo này, Ngài tiếp tục cuộc hành trình.

Lúc ấy, một Dạ-xoa (Yakkha) tên là Gumbiya, rải lá cây lên một chỗ ở giữa khu rừng, và nhỏ vài miếng mật ong xuống, rồi phủ lên bằng chất độc chết người, tự mình lang thang khắp nơi trên con đường, giả vờ gõ vào cây, như thể đang tìm kiếm mật ong. Trong vô minh, người ta nghĩ: "Mật ong này hẳn được để lại ở đây như một việc thiện," và khi ăn vào, họ gặp phải cái chết. Và các loài quỷ đến ăn thịt họ.

Những người trong đoàn của Bồ-tát, một số người vốn tham lam, khi trông thấy những thứ ngon lành này, không kìm hãm được, đã ăn vào. Nhưng những kẻ khôn ngoan nói: "Chúng ta sẽ hỏi Bồ-tát trước khi ăn," và đứng yên giữ trong tay. Và khi Ngài thấy những gì họ cầm trong tay, Ngài bảo họ ném đi.

Và những ai đã ăn hết thì chết. Nhưng những ai chỉ ăn nửa phần, Ngài cho dùng thuốc gây nôn, và sau khi họ nôn hết ra, PTS vp Pali 201 Ngài cho họ bốn thứ ngọt ngào, và nhờ thần lực của mình, họ bình phục. Bồ-tát PTS vp En 133 đến đích an toàn tại nơi muốn đến, và sau khi bán hàng hóa xong, Ngài trở về nhà.

Độc như mật ong về hình thức, vị và mùi,Được Gumbiya đặt xuống với dụng tâm hung ác:Tất cả những ai ăn thứ độc hại như ăn mật ong,Đã tự mình bỏ mạng trong rừng vì lòng tham.Nhưng những ai biết sáng suốt tránh xa bẫy mồi,Được thoát khỏi tra tấn và sống trong bình an.Cũng vậy, dục vọng như bẫy độc đặt ra cho người đời;Ham muốn của lòng đã nhiều lần dẫn đến cái chết.Nhưng kẻ nào, dù yếu đuối, từ bỏ những tội lỗi đang bám víu,Thoát khỏi xiềng xích của đau khổ và sầu muộn.

Đức Thế Tôn, sau khi thuyết giảng những bài kệ được cảm hứng từ Trí Tuệ Viên Mãn, đã chỉ rõ Tứ Diệu Đế và xác định Bản Sinh— PTS vp Pali 202 Vào cuối bài giảng Tứ Diệu Đế, vị Tỳ-kheo hối tiếc đạt được quả Dự Lưu—"Vào thời ấy, chính ta là vị thương nhân đó."

Jātaka, tức là Những Câu Chuyện Tiền Thân Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, xuất bản bởi The Cambridge University Press.

Tập 1, do Robert Chalmers dịch, 1895.

Tập 2, do W.H.D. Rouse dịch, 1895.

Tập 3, do H.T. Francis và R.A. Neil dịch, 1897.

Tập 4, do W.H.D. Rouse dịch, 1901.

Tập 5, do H.T. Francis dịch, 1905.

Tập 6, do E.B. Cowell và W.H.D. Rouse dịch, 1907.

Những bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào.

Được quét, đọc soát và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006–tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và nhiều người khác. Cảm ơn Sacred Texts Archive đã cung cấp các văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.

Được chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến