Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 355Ghata Jātaka

Tên Pāli / Sanskrit:Ghaṭajātaka

📖878 từ · ~4 phút đọc
2
Tóm tắt

Trong khi những người khác than khóc—Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể khi ngài đang trú tại Jetavana, liên quan đến một vị đại thần của vua nước Kosala. Câu chuyện mở đầu giống hệt với một câu chuyện đã được thuật trước đây.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân Đức Phật

Quyển 5 Pañcanipāta

355. Ghata Jātaka

"Trong khi kẻ khác khóc than"... Câu chuyện này được Bậc Đạo Sư kể lại khi đang trú tại Jetavana, liên quan đến một vị quan đại thần của vua nước Kosala. Câu chuyện mở đầu giống hệt một chuyện đã được kể trước.

Song trong trường hợp này, sau khi ban nhiều ân huệ cho vị quan đại thần phục vụ tận tụy, nhà vua lại nghe lời kẻ gian xảo và sai bắt giam vị ấy. Trong khi bị giam cầm, vị quan đã chứng đắc Sơ Đạo. Nhà vua, nhận ra công đức lớn lao của ông, liền phóng thích.

Ông cầm một vòng hoa thơm đến diện kiến Bậc Đạo Sư, đảnh lễ rồi ngồi xuống. Bậc Đạo Sư hỏi xem có điều gì bất hạnh xảy đến không. "Bạch Ngài, thưa đúng như vậy," ông đáp, "nhưng từ điều bất hạnh lại sinh ra điều tốt lành.

Con đã chứng đắc Sơ Đạo." "Quả thật vậy," Bậc Đạo Sư nói, "không phải chỉ một mình ông, mà các bậc hiền trí từ xưa cũng đã tìm được điều tốt lành từ hoàn cảnh bất hạnh." Rồi theo lời thỉnh cầu của ông, Ngài kể câu chuyện quá khứ.

Ngày xưa, khi Brahmadatta trị vì ở Benares, Bồ-tát được sinh ra là con trai của chánh hậu vua. Họ đặt tên Ngài là thái tử Ghata. Về sau Ngài tu học các môn nghệ thuật tại Takkasila rồi trở về trị vì vương quốc một cách công minh.

Lúc đó, một vị quan đại thần hành xử sai trái trong hậu cung hoàng gia. Nhà vua, sau khi tận mắt chứng kiến tội lỗi, liền trục xuất vị ấy khỏi vương quốc. PTS vp En 112 Bấy giờ một vị vua tên Vanka đang trị vì ở Savatthi. Vị quan ấy đến theo phục vụ Vanka, và y như câu chuyện trước, dần dần được nhà vua tin dùng rồi thuyết phục nhà vua chiếm đoạt vương quốc Benares. Sau khi chiếm được vương quốc, vị quan cho bắt trói Bồ-tát và giam vào ngục tối. Bồ-tát nhập thiền định PTS vp Pali 169 và ngồi kiết già lơ lửng trên không trung. Một ngọn lửa bốc cháy trong thân thể Vanka. Ông đến, nhìn thấy dung nhan Bồ-tát rạng ngời vẻ đẹp của đóa sen đang nở, tựa như một tấm gương vàng, rồi hỏi qua câu kệ đầu tiên:

Trong khi kẻ khác khóc than, má đẫm lệ đầm đìa,
Sao Ghata vẫn mỉm cười, chưa hề thở than kia?

Bấy giờ Bồ-tát, để giải thích tại sao Ngài không đau buồn, đọc các câu kệ tiếp theo:

Bi thương điều đã qua chỉ là vô ích mà thôi,
Chẳng mang lại phúc lành gì cho cuộc đời sau này:
Sao ta phải than van Vanka, về những đau khổ này?
Ưu sầu không phải người bạn đồng hành xứng đáng thay.

Kẻ chìm đắm trong sầu khổ sẽ héo mòn dần dần,
Cơm ăn trở nên nhạt nhẽo, mất hết mọi ngon lành,
Như bị tên đâm thấu ruột, là mồi cho ưu sầu,
Kẻ thù sẽ cười nhạo báng, trước mắt họ thảm thay.

Dù chốn nương thân là đất liền hay biển khơi xa,
Dù trong xóm làng hay rừng sâu hoang vắng tịch mịch,
Chẳng có nỗi sầu nào đến được gần bên ta,
Tâm đã giác ngộ thì chẳng còn gì phải sợ lo.

Song kẻ nào chưa viên thành trong tự thân mình
Mà lại đang bừng cháy với lòng tham dục trần gian,
Thì cả thế giới với mọi của cải tầm thường hèn mọn,
Cũng không bao giờ thỏa mãn được lòng tham ấy người.

PTS vp Pali 170 Vanka sau khi nghe bốn câu kệ này, liền xin Bồ-tát tha thứ, trả lại vương quốc rồi rút lui. Nhưng Bồ-tát trao lại vương quốc cho các vị quan đại thần, rồi lui về Himalaya xuất gia tu khổ hạnh, và không gián đoạn trong thiền định nhập định, được định hướng tái sinh vào cõi Phạm Thiên.

Bậc Đạo Sư sau khi kết thúc bài học, nhận diện Bổn Sinh: "Lúc bấy giờ Ānanda là vua Vanka, còn Ta chính là vua Ghata."

Chuyện Tiền Thân, hay Các Câu Chuyện Về Những Kiếp Trước Của Đức Phật, do E.B. Cowell chủ biên, Nhà xuất bản Đại học Cambridge ấn hành.

  • Quyển 1, do Robert Chalmers dịch, 1895.
  • Quyển 2, do W.H.D. Rouse dịch, 1895.
  • Quyển 3, do H.T. Francis và R.A. Neil dịch, 1897.
  • Quyển 4, do W.H.D. Rouse dịch, 1901.
  • Quyển 5, do H.T. Francis dịch, 1905.
  • Quyển 6, do E.B. Cowell và W.H.D. Rouse dịch, 1907.

Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006 – tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và các cộng sự. Cảm ơn Sacred Texts Archive đã làm cho các văn bản này có thể truy cập dưới dạng kỹ thuật số.

Được chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến