Ja 353Dhonasakha Jātaka
Tên Pāli / Sanskrit:Venasākhajātaka
Đây là câu chuyện do Đức Thế Tôn kể khi đang trú tại rừng Bhesakala gần Sumsumaragiri (Núi Cá Sấu) thuộc vùng đất của người Bhagga, liên quan đến tiểu vương tử Bodhi.
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
– Chuyện Tiền Thân Đức Phật
– Quyển 5 Pañcanipāta
353. Dhonasakha Jātaka
"'Dù hiện tại ngươi đang," v.v.—Câu chuyện này được bậc Đạo Sư, khi đang sống tại khu rừng Bhesakaḷā gần Suṃsumāragiri (Núi Cá Sấu) ở vùng Bhagga, kể về hoàng tử trẻ Bodhi. Hoàng tử này là con trai của Udena, lúc bấy giờ đang ở Suṃsumāragiri. Ông ta triệu gọi một thợ thủ công cực kỳ khéo léo, và bảo người này xây cho mình một cung điện gọi là Kokanada, và làm cho nó khác biệt với bất kỳ cung điện nào của vua chúa khác.
PTS vp Pali 158 Sau đó ông nghĩ: "Người thợ thủ công này có thể xây cung điện tương tự cho vua khác." Và từ lòng ghen tị, ông cho móc mắt người thợ. Sự việc này lan ra trong buổi tập hội của các Tỳ-kheo. Rồi họ bắt đầu thảo luận trong Giảng đường Chánh pháp, nói: "Thưa các vị, hoàng tử trẻ Bodhi đã ra lệnh móc mắt một người thợ thủ công nọ.
Chắc chắn ông ta là người khắc nghiệt, tàn ác và hung bạo." Bậc Đạo Sư đến và hỏi các Tỳ-kheo đang ngồi thảo luận đề tài gì, rồi nghe xong Ngài nói: "Không phải chỉ bây giờ, mà cả trước đây bản tính của ông ta cũng như vậy, và ngày xưa ông ta cũng đã từng cho móc mắt một nghìn chiến sĩ và sau khi giết họ, dâng thịt của họ làm lễ vật tôn giáo." Nói xong Ngài kể câu chuyện thời quá khứ.
Thuở xưa khi Brahmadatta trị vì ở Bārāṇasī, Bồ-tát trở thành một bậc thầy nổi danh thiên hạ ở Takkasilā, và thanh niên thuộc giai cấp chiến sĩ và Bà-la-môn từ khắp Ấn Độ đến học nghệ với Ngài. Con trai vua Bārāṇasī, hoàng tử Brahmadatta, cũng được Ngài dạy ba Bộ Vệ-đà. Bản tính của hoàng tử vốn khắc nghiệt, tàn ác và hung bạo. Bồ-tát, nhờ năng lực thần thông biết rõ bản tính của chàng, nói: "Này bạn ta, ngươi khắc nghiệt, tàn ác và hung bạo, và thật sự quyền lực mà một người hung bạo đạt được thì ngắn ngủi: khi quyền lực biến mất khỏi tay hắn, hắn như con thuyền bị đắm trên biển. Hắn không đến được bến bờ an toàn nào. Vì vậy đừng có bản tính như vậy." Và để răn dạy, Ngài đọc hai bài kệ—
Dù hiện tại ngươi được hưởng bình an và thịnh vượng,
Vận may hạnh phúc như vậy có thể chứng tỏ là ngắn ngủi:
Nếu tài sản tiêu tan, đừng đau khổ quá mức,
Như thủy thủ bị bão đánh chìm tàu nơi xa khơi.
PTS vp Pali 159 Rồi chàng từ biệt thầy và trở về Bārāṇasī, và sau khi trình diễn sự thành thạo trong các nghệ thuật trước mặt vua cha, chàng được phong làm Phó vương và khi vua cha băng hà, chàng kế thừa vương quyền. Vị tư tế gia đình của chàng, tên là Piṅgiya, là người khắc nghiệt và tàn ác. Vì lòng tham danh vọng, ông ta nghĩ: "Nếu ta khiến tất cả các lãnh chúa PTS vp En 106 Ấn Độ bị bắt bởi vị vua này, và nếu như vậy ông ta trở thành độc tôn quân chủ và ta trở thành duy nhất tư tế thì sao?" Và ông ta khiến nhà vua lắng nghe lời mình.
Và vua xuất quân với đại binh đầu tiên bao vây thành trì của một vị vua nào đó và bắt ông ta làm tù binh. Và bằng phương thức tương tự như vậy, ông ta giành được chủ quyền trên toàn Ấn Độ, và với một nghìn vị vua theo hầu, ông ta tiến đến chiếm lấy vương quốc Takkasilā. Bồ-tát tu bổ tường thành và làm cho nó bất khả xâm phạm trước kẻ thù. Và vua Bārāṇasī cho dựng lọng che và treo màn quanh mình, bên dưới một cây đa lớn trên bờ sông Hằng. Và bảo trải giường cho mình, ông ta đóng quân ở đó. Chiến đấu trên đồng bằng Ấn Độ, ông ta đã bắt giữ một nghìn vị vua, nhưng không thể tấn công Takkasilā, ông ta hỏi tư tế của mình: "Thưa thầy, dù chúng ta đã đến đây với đội quân toàn tù binh vương giả, chúng ta vẫn không lấy được Takkasilā. Giờ chúng ta phải làm gì?"
"Đại vương," ông ta trả lời, "hãy móc mắt một nghìn vị vua PTS vp Pali 160 và mổ bụng họ, lấy thịt của họ cùng với năm thứ ngọt ngào và dâng lễ vật cho thần linh bảo hộ cây đa này. Và bao quanh cây với một vành đai có gờ, hãy đổ đầy máu sâu năm tấc. Như vậy thắng lợi sẽ sớm đến tay ta."
Nhà vua dễ dàng đồng ý và giấu những đô vật lực lưỡng sau màn che, ông ta triệu tập từng vị vua một, và khi các đô vật đã bóp siết họ trong vòng tay đến mức bất tỉnh, ông ta cho móc mắt họ, và sau khi họ chết, lấy thịt và để xác bị sông Hằng cuốn đi. Rồi ông ta thực hiện lễ vật như mô tả ở trên, và cho đánh trống rồi xuất trận. Lúc đó có một Dạ-xoa từ tháp canh của mình bước ra và móc mất mắt phải của nhà vua.
Cơn đau dữ dội ập đến, và bị điên đảo vì đau đớn, ông ta đến nằm sải dài trên chiếc giường trải sẵn bên gốc cây đa. Vào lúc đó một con kền kền cầm một cái xương nhọn, đậu trên ngọn cây, khi ăn thịt nó làm rơi cái xương, và đầu nhọn rơi xuống như đinh sắt vào mắt trái của nhà vua, phá hủy con mắt đó. Vào lúc này ông ta nhớ lại lời của Bồ-tát và nói: "Thầy giáo của ta, khi nói rằng 'Những người phàm phu này trải qua kết quả tương ứng với hành động của họ, giống như quả tương ứng với hạt giống,' chắc hẳn đã nhìn thấy trước toàn bộ điều này trong tâm mắt của thầy." Và trong tiếng than khóc của mình, ông ta nói với Piṅgiya bằng hai bài kệ—
Dưới bóng cành lá xum xuê rung rinh của cây này
Lễ vật được dâng bằng dầu đàn hương.
Chính ở đây ta đã giết một nghìn vị vua, và kìa!
Những nỗi đau khổ họ gánh chịu lúc đó, giờ ta phải chịu đựng.
PTS vp Pali 161 Vừa than thở như vậy, ông ta nhớ đến hoàng hậu chánh của mình và đọc bài kệ này—
Ôi Ubbari, hoàng hậu sắc nước da ngăm đen của ta,
Mảnh mai như chồi cây moringa xinh đẹp!
Người tắm tẩy thân thể trong dầu đàn hương thơm ngát,
Làm sao ta có thể sống, khi không còn được thấy nàng?
Thật vậy, cái chết còn ít đau khổ hơn điều này!
Trong khi ông ta vẫn đang lẩm bẩm những lời này, ông ta chết và tái sinh trong địa ngục. Vị tư tế đầy tham vọng quyền thế không thể cứu ông ta, cũng không thể tự cứu bản thân mình bằng quyền năng của ông ta, và ngay khi ông ta chết, quân đội của ông ta tan rã và bỏ chạy.
Sau khi kết thúc bài học, bậc Đạo Sư xác định Tiền thân như vậy: "Vào thời đó hoàng tử trẻ Bodhi là vị vua hung bạo, Devadatta là Piṅgiya, còn chính ta là bậc thầy nổi danh thiên hạ."
---
The Jātaka, or Stories of the Buddha's Former Births, chủ biên E.B. Cowell, xuất bản bởi The Cambridge University Press.
- Tập 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.
- Tập 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.
- Tập 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
- Tập 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.
- Tập 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.
- Tập 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.
Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do sử dụng theo ý muốn.
Được số hóa, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006 – tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và nhiều người khác. Cảm ơn Sacred Texts Archive đã cung cấp các văn bản này ở dạng kỹ thuật số.
Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Bhikkhu Sujato.
Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.
🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.