Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 343Kuntani Jātaka

Tên Pāli / Sanskrit:Kuntinījātaka

📖865 từ · ~3 phút đọc
2
Tóm tắt

Đây là câu chuyện do Đức Thế Tôn kể tại Jetavana, liên quan đến một con cò sống trong cung điện của vua xứ Kosala.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân Đức Phật

Quyển 4 Catukkanipāta (Tứ Tập)

343. Kuntani Jātaka

"Lâu nay ta coi nơi này…" v.v.—Câu chuyện này được Bậc Đạo Sư kể lại tại Kỳ Viên, nhân dịp có một con diệc sống trong cung vua nước Kosala. Con diệc ấy, tương truyền, được dùng để chuyển thư tín cho nhà vua, và có hai con nhỏ. Nhà vua sai con diệc mang thư đến một vị vua khác.

Khi con diệc đi vắng, các hoàng tử trong cung đã bóp chết hai con non của nó. Con diệc mẹ trở về, không thấy con, hỏi ai đã giết con chim non của nó. Người ta nói "Chính người Nọ." Lúc bấy giờ trong cung có nhốt một con hổ hung dữ hung tàn, bị xích bằng một dây xích chắc.

Các hoàng tử ấy đến xem con hổ và con diệc đi cùng họ, nghĩ rằng: "Cũng như hai con ta bị chúng giết, ta sẽ đối xử với những đứa trẻ này như vậy," và nó tóm lấy chúng ném xuống chân con hổ. Con hổ gầm lên nghiền nát chúng. Con diệc nói, "Giờ ta đã thoả nguyện vọng của lòng mình," rồi bay lên không trung thẳng về phía dãy Himalaya.

Khi nghe chuyện đã xảy ra, mọi người bắt đầu thảo luận trong Giảng đường Chân Lý rằng: PTS vp Pali 135 "Thưa các đạo hữu, nghe nói một con diệc trong cung vua đã ném xuống trước mặt con hổ những đứa trẻ đã giết con non của nó, và sau khi gây ra cái chết của chúng, nó đã bỏ đi." Bậc Đạo Sư đến hỏi các Tỳ-kheo đang thảo luận gì và nói: "Không chỉ bây giờ thôi đâu, này các Tỳ-kheo, mà trước đây con diệc cũng đã gây ra cái chết của những kẻ giết con non của nó." Và theo đó Ngài kể một truyền thuyết quá khứ.

Thuở xưa, Bồ-tát cai trị vương quốc ở Benares với công minh và bình đẳng. Một con diệc trong nhà Ngài mang thư tín cho Ngài. Và tiếp diễn như trước. Nhưng điểm đặc biệt ở đây là trong trường hợp này, sau khi để con hổ giết những đứa trẻ, con diệc nghĩ: "Ta không thể ở đây thêm nữa. Ta sẽ ra đi, nhưng dù ra đi ta cũng không bỏ đi mà không báo với nhà vua, mà sau khi nói với Ngài ta mới rời." Và vậy là nó đến gần và chào vua, rồi đứng cách một khoảng nhỏ và nói: "Tâu vương thượng, chính do sự cẩu thả của Ngài mà những đứa trẻ kia giết con non của ta, và do ảnh hưởng của sân hận ta đã trả thù bằng cách gây ra cái chết của chúng. Giờ ta không thể sống ở đây nữa." Rồi đọc kệ thứ nhất, nó nói:

Lâu nay ta coi nơi này là nhà của ta,

Đã được đón nhận tôn trọng lớn lao,

Chính do hành động của Ngài mà ra,

Ta bị bắt buộc phải ra đi hôm nay.

Nhà vua khi nghe điều này đã đọc kệ thứ hai:

Nếu kẻ muốn trả thù,

Lấy ác báo ác như bằng nhau,

Thì cơn giận nên nguôi đi;

Vậy hỡi con diệc hiền, xin hãy ở lại. PTS vp En 90

PTS vp Pali 136 Nghe điều này, con diệc đọc kệ thứ ba:

Kẻ bị oan và kẻ gây oan khuất

Không bao giờ có thể như thuở cũ nữa:

Không điều gì, thưa vương, có thể giữ ta đây,

Kìa! từ nay ta ra đi rồi đó.

Nhà vua khi nghe điều này, đọc kệ thứ tư:

Nếu họ là người khôn ngoan, chẳng phải dại khờ,

Kẻ bị oan với kẻ gây oan có thể

Sống trong bình an và hòa thuận:

Vậy hỡi con diệc hiền, xin hãy ở lại.

Con diệc nói: "Tình thế như vậy, con không thể ở lại, thưa vương thượng," rồi chào vua, nó bay lên không trung thẳng về phía dãy Himalaya.

Bậc Đạo Sư kết thúc bài học, rồi nhận diện Bổn Sinh như sau: "Con diệc trong câu chuyện trước chính là con diệc trong câu chuyện này, nhưng vua Benares chính là Ta."

The Jātaka, hay Chuyện Tiền Thân Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, xuất bản bởi The Cambridge University Press.

Tập 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.

Tập 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.

Tập 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.

Tập 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.

Tập 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.

Tập 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Những bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006–tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và những người khác. Cảm ơn Kho Lưu Trữ Văn Bản Thiêng Liêng đã cung cấp các văn bản này ở dạng kỹ thuật số.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.

📜Vì sao trong bài có dấu “…”?

Dấu “…” là lối viết tắt có từ chính bản gốc Pāli, gọi là peyyāla. Kinh tạng nguyên thuỷ vốn được tụng thuộc lòng, nên những đoạn lặp lại y nguyên ở bài trước thường được rút gọn lại bằng một dấu lược thay vì chép lại toàn văn. Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu giữ đúng lối ấy. Vì vậy có bài trông ngắn, nhưng đó là hình thức chuẩn mực của kinh điển chứ không phải app thiếu nội dung hay bản dịch bị cắt. Phần bị lược có thể đọc đầy đủ ở các bài liền trước trong cùng phẩm.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến