Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 326Kakkaru Jātaka — Jātaka 326

Tên Pāli / Sanskrit:Kakkārujātaka

📖1,277 từ · ~5 phút đọc
2
Tóm tắt

"Kẻ từ hành vi trộm cắp" — Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể trong khi Ngài ở Jetavana, liên quan đến Devadatta. Sau khi gây ra sự phân liệt trong Tăng-già, khi Devadatta cùng các đệ tử thân cận rời đi lúc buổi họp tan, một dòng máu nóng từ miệng ông ta trào ra. Các Tỷ-kheo bèn bàn luận về sự việc này trong Giảng đường Chân Lý, nói rằng Devadatta vì nói dối đã tạo ra sự phân liệt, rồi sau đó lâm bệnh và chịu đựng đau đớn khổ sở. Đức Thế Tôn đến hỏi các Tỷ-kheo đang ngồi họp bàn về vấn đề gì, và khi nghe xong, Ngài dạy: "Này chư Tỷ-kheo, không chỉ bây giờ mà xưa kia kẻ này cũng đã là kẻ nói dối, và không chỉ bây giờ mà xưa kia hắn cũng đã chịu khổ đau như hình phạt của sự nói dối." Nói xong, Ngài kể lại câu chuyện cổ xưa này.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Kể Về Các Tiền Thân Của Đức Phật

Quyển 4 — Catukkanipāta

326. Kakkārujātaka — Chuyện Hoa Kakkaru

"Người tránh khỏi hành vi trộm cắp," v.v. — Câu chuyện này Đức Bổn Sư kể trong lúc ở Jetavana, về Devadatta: sau khi gây chia rẽ trong Tăng đoàn, khi đang rời đi cùng các đệ tử chính, lúc hội chúng tan, một dòng máu nóng đã phun ra từ miệng ông. Rồi các Tỳ-kheo bàn luận chuyện đó trong Pháp Đường và nói rằng Devadatta vì nói dối đã gây chia rẽ, và sau đó ngã bệnh chịu khổ đau lớn. Đức Bổn Sư đến và hỏi đề tài các Tỳ-kheo đang bàn luận khi ngồi hội họp, và nghe xong Ngài nói: "Không chỉ bây giờ, thưa các Tỳ-kheo, mà ngày xưa kẻ này cũng là người nói dối, và không chỉ bây giờ, mà ngày xưa cũng vậy, hắn đã chịu đau đớn như là hình phạt của việc nói dối." Và nói vậy, Ngài kể câu chuyện cổ xưa này.

PTS vp Pali 87 Ngày xưa khi Brahmadatta trị vì ở Benares, Bồ-tát trở thành một vị thần trong cõi trời Ba Mươi Ba. Lúc bấy giờ có một lễ hội lớn tại Benares. Một đám Nāga và chim Garuḍa và các vị thiên địa đến xem lễ hội. Và bốn vị thần từ cõi trời Ba Mươi Ba, đội vòng hoa làm từ hoa kakkaru cõi trời, đến xem lễ hội. Và thành phố trong phạm vi mười hai do-tuần tràn ngập hương thơm của những bông hoa này. Người ta đi lại, ngạc nhiên tự hỏi ai đang đội những bông hoa đó. Các vị thần nói: "Họ đang nhìn chúng ta," và bay lên khỏi cung điện hoàng gia, bằng sức thần thông siêu nhiên, họ đứng lơ lửng trong không trung. Đám đông tụ lại, và đức vua cùng các chư hầu đến hỏi các vị từ cõi trời nào đến.

"Chúng ta đến từ cõi trời Ba Mươi Ba."

"Các vị đến đây vì mục đích gì?"

"Để xem lễ hội." PTS vp En 59

"Những hoa này là gì?"

"Đây là hoa kakkaru cõi trời."

"Thưa các ngài," họ nói, "ở cõi trời các ngài có thể có những loài hoa khác để đội. Hãy tặng những hoa này cho chúng tôi."

Các vị thần đáp: "Những hoa thần tiên này xứng đáng cho những người có đại năng lực: đối với những kẻ hèn kém, ngu si, không có tín tâm và tội lỗi trong thế giới loài người này, chúng không thích hợp. Nhưng bất kỳ ai trong loài người được phú bẩm những đức hạnh như thế này thì chúng mới phù hợp." Và với những lời đó, vị chủ của các vị thần đọc kệ đầu tiên—

Người tránh khỏi hành vi trộm cắp,kiềm giữ lưỡi mình khỏi lời nói dối,và đạt đến tầm cao chóng mặt của danh vọngvẫn giữ đầu bình tĩnh—người này có thể nhận hoa.

PTS vp Pali 88 Nghe điều này, vị tế sư hoàng gia nghĩ: "Ta không có một đức hạnh nào trong số này, nhưng bằng cách nói dối ta sẽ lấy những bông hoa này để đội, và như vậy người ta sẽ tin ta có những đức hạnh đó." Rồi ông nói: "Tôi được phú bẩm những đức hạnh này," và nhận những bông hoa đội lên, rồi cầu xin vị thần thứ hai, người này đáp bằng kệ thứ hai—

Người theo đuổi tài sản lương thiệnvà tránh xa của cải do gian lận,sẽ tránh xa sự thái quá thô tục trong lạc thú,người này đã xứng đáng nhận hoa trời này.

Vị tế sư nói: "Tôi được phú bẩm những đức hạnh này," và nhận những bông hoa đội lên, rồi cầu xin vị thần thứ ba, người này đọc kệ thứ ba—

Người không bao giờ chệch khỏi mục đích kiên địnhvà gìn giữ đức tin bất biến của mình,khinh thường chỉ ăn thức ăn quý,người này có thể hợp lẽ nhận hoa trời này.

PTS vp Pali 89 Vị tế sư nói: "Tôi được phú bẩm những đức hạnh này," và nhận những bông hoa đội lên, rồi cầu xin vị thần thứ tư, người này đọc kệ thứ tư—

Người không bao giờ tấn công người thiện khi họ hiện diện,
và cũng không nói xấu sau lưng họ,
và những gì nói thì thực hành trong hành động,
người này có thể nhận hoa này như là vật xứng đáng.

Vị tế sư nói: "Tôi được phú bẩm những đức hạnh này," và nhận những bông hoa đội lên. Vậy là các vị thần trao bốn vòng hoa cho vị tế sư và trở về cõi trời. Ngay khi họ đi, vị tế sư bị một cơn đau dữ dội ở đầu, như thể đầu bị một mũi nhọn sắc đâm, hay bị một dụng cụ bằng sắt nghiền nát.

Điên cuồng vì đau đớn, ông lăn lộn và hét lên to. Khi người ta hỏi: "Điều này có nghĩa gì?" ông nói: "Tôi đã giành những đức hạnh này khi không có chúng, và nói dối xin những hoa này từ các vị thần: hãy lấy chúng ra khỏi đầu tôi." Họ muốn lấy ra nhưng không thể, vì chúng bị buộc chặt như bằng một dải sắt. Rồi họ đỡ ông dậy và đưa ông về nhà.

Và khi ông nằm đó kêu khóc lớn, bảy ngày trôi qua. Đức vua nói với các cố vấn: "Tên Bà-la-môn độc ác này sẽ chết. Chúng ta phải làm gì?" "Thưa bệ hạ," họ trả lời, "hãy tổ chức lại lễ hội.

Các thiên tử sẽ quay lại."

PTS vp Pali 90 Và đức vua tổ chức lễ hội, các thiên tử quay lại, tràn đầy cả thành phố với hương thơm của những bông hoa, và đứng tại cùng chỗ ở sân cung điện hoàng gia. Người ta tụ tập và đem vị Bà-la-môn độc ác đó đặt ông ta nằm sấp trước mặt các vị thần. Ông ta cầu xin các vị thần: "Thưa chư thiên, xin hãy tha mạng tôi." Họ nói: "Những bông hoa này không xứng đáng cho một người ác và xấu xa. Ngươi đã nghĩ trong lòng sẽ lừa dối chúng ta. Ngươi đã nhận được phần thưởng cho những lời nói dối của mình."

Sau khi quở trách ông ta trước đám đông như vậy, họ lấy vòng hoa ra khỏi đầu ông ta và khuyên bảo người ta, rồi trở về nơi cư trú của họ.

Đức Bổn Sư kết thúc bài học và xác định Tiền thân: "Bấy giờ Devadatta là vị Bà-la-môn, trong số các vị thần, Kassapa là một, Moggallana là người khác, Sariputta là người thứ ba, và chính ta là người đứng đầu tất cả."

---

The Jātaka, or Stories of the Buddha's Former Births, hiệu đính bởi E.B. Cowell, xuất bản bởi The Cambridge University Press.

  • Vol. 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.
  • Vol. 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.
  • Vol. 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
  • Vol. 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.
  • Vol. 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.
  • Vol. 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Những bản dịch này thuộc phạm vi công cộng.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006–tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và những người khác.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến