Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 323Brahmadatta Jātaka — Jātaka 323

Tên Pāli / Sanskrit:Brahmadattajātaka

📖1,254 từ · ~5 phút đọc
2
Tóm tắt

"Đó là phẩm chất như vậy" — Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể trong khi Ngài trú tại thánh địa Aggālava gần Āḷavī, liên quan đến những quy tắc cần tuân thủ trong việc xây dựng các liêu thất.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Kể Về Các Tiền Thân Của Đức Phật

Quyển 4 — Catukkanipāta

323. Brahmadattajātaka — Chuyện Vua Brahmadatta

"Phẩm chất của cầu xin là như vậy," v.v. — Câu chuyện này Đức Bổn Sư kể trong lúc cư trú tại điện thờ Aggalava gần Alavi, về các quy định cần tuân thủ trong việc xây dựng liêu thất.

Câu chuyện dẫn nhập đã được trình bày trong Tiền thân Manikantha, nhưng lần này Đức Bổn Sư hỏi: "Có thật không, các Tỳ-kheo, rằng các ông sống ở đây bằng cách nài xin và ăn xin?" Và khi họ trả lời "Có," Ngài quở trách họ và nói: "Người trí ngày xưa, khi được đức vua cho tự chọn, dù đang khao khát muốn xin một đôi dép đế đơn, nhưng vì sợ xúc phạm đến bản tính nhạy cảm và cẩn thận của mình, họ đã không dám nói một lời trước đám đông, mà chỉ nói riêng." Và nói vậy, Ngài kể một câu chuyện cổ xưa.

PTS vp Pali 79 Ngày xưa tại vương quốc Kampillaka, khi có một vị vua Pancala trị vì ở một thành phố Bắc Pancala, Bồ-tát được sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn, tại một thị trấn nhỏ. Và khi trưởng thành, ngài học nghề ở Takkasila. Sau đó thọ giới làm ẩn sĩ và cư trú ở vùng Himalaya, ngài sống lâu dài bằng những gì mót được—ăn hoa quả và củ rễ rừng. PTS vp En 53 Và khi đi vào vùng đất của người để kiếm muối và giấm, ngài đến một thành phố Bắc Pancala và trú tại vườn của đức vua. Ngày hôm sau ngài vào thành khất thực và đến cổng cung điện. Đức vua rất hài lòng với phong thái và hành vi của ngài đến mức cho ngài ngồi trên bệ cao và đãi thức ăn xứng đáng với vua. Và đức vua ràng buộc ngài bằng lời thề long trọng và xếp cho ngài nơi ở trong vườn.

Ngài thường xuyên đến nhà đức vua, và vào cuối mùa mưa, muốn trở về núi Himalaya, ngài nghĩ: "Nếu ta đi chuyến hành trình này, ta cần một đôi dép đế đơn và một chiếc lọng làm bằng lá. Ta sẽ xin đức vua." Một hôm ngài đến vườn và thấy đức vua đang ngồi đó, ngài chào hỏi và quyết định sẽ xin đôi dép và chiếc lọng. Nhưng ý nghĩ thứ hai của ngài là: "Người xin người khác, nói 'Hãy cho tôi cái này', dễ khóc.

Và người kia khi từ chối, nói 'Tôi không có', cũng lại khóc." Và để người ta không nhìn thấy hoặc mình hoặc đức vua khóc, ngài nghĩ: "Chúng ta sẽ cùng khóc trong riêng tư ở nơi kín đáo." Vậy ngài nói: "Đại vương, thần muốn nói chuyện riêng với bệ hạ." Những người hầu vương nghe vậy liền lui ra. Bồ-tát nghĩ: "Nếu đức vua từ chối lời cầu xin của ta, tình bạn của chúng ta sẽ tan vỡ. Vậy ta sẽ không xin ơn huệ gì." Hôm đó, không dám đề cập đến chủ đề, ngài nói: "Thôi đã, Đại vương, tôi sẽ để ý chuyện này sau." Một hôm khác khi đức vua đến vườn, nói điều này điều nọ như trước, ngài vẫn không thể trình bày lời cầu xin.

Cứ vậy mà mười hai năm trôi qua.

Rồi đức vua nghĩ, PTS vp Pali 80 "Vị tu sĩ này nói: 'Tôi muốn nói chuyện riêng,' và khi các cận thần đã lui, ông ta lại không có can đảm nói. Và trong khi ông ta đang khao khát nói, mười hai năm đã trôi qua. Sau khi sống đời phạm hạnh lâu như vậy, ta nghi ông ta đang hối tiếc về thế giới bên ngoài.

Ông ta khao khát thụ hưởng lạc thú và mong muốn chủ quyền. Nhưng vì không thể thốt ra từ 'vương quốc', ông ta cứ im lặng. Hôm nay ta sẽ dâng cho ông ta bất cứ điều gì ông ta muốn, từ vương quốc trở xuống." Vậy đức vua đến vườn và ngồi xuống chào hỏi.

Bồ-tát xin nói chuyện riêng, và khi các cận thần đã lui, ngài vẫn không thốt được lời. Đức vua nói: "Suốt mười hai năm ông xin nói chuyện riêng với ta, và khi có cơ hội, ông lại không thể nói gì. Ta dâng cho ông mọi thứ, bắt đầu từ vương quốc của ta.

Đừng sợ, hãy xin bất cứ điều gì ông muốn."

"Đại vương," ngài nói, "bệ hạ có thể cho tôi điều tôi muốn không?" PTS vp En 54 "Vâng, thưa Ngài, tôi sẽ cho."

"Đại vương, khi đi hành trình, tôi cần một đôi dép đế đơn và một chiếc lọng bằng lá."

"Thưa Ngài, suốt mười hai năm ông không thể xin được một thứ nhỏ nhoi như vậy sao?"

"Đúng vậy, Đại vương."

"Tại sao, thưa Ngài, ông lại làm vậy?"

"Đại vương, người nói 'Hãy cho tôi cái này' thì rơi nước mắt, và người từ chối nói 'Tôi không có' thì cũng rơi nước mắt. Nếu khi tôi cầu xin, bệ hạ mà từ chối, tôi sợ người ta sẽ thấy chúng ta cùng hòa lệ. Đó là lý do tôi xin được nói chuyện riêng." Rồi từ đầu ngài đọc ba kệ:

Phẩm chất của cầu xin là như vậy, thưa vua,nó sẽ mang lại một món quà hào phóng hay một sự từ chối.Ai cầu xin, thưa chúa Pancala, thì hay khóc,ai từ chối cũng lại hay khóc.Để người ta không thấy chúng ta rơi lệ vô ích,ta thì thầm lời cầu xin vào tai kín của ngài.

PTS vp Pali 81 Đức vua, bị quyến rũ bởi sự tôn kính này của Bồ-tát, chấp nhận lời cầu xin và đọc kệ thứ tư:

Bà-la-môn, ta dâng cho ông một nghìn con bò,bò đỏ, và cả con đầu đàn;Nghe những lời cao quý này của ông bây giờ,ta cũng bị thúc đẩy làm điều cao quý.

Nhưng Bồ-tát nói: "Tâu bệ hạ, thần không mong cầu lạc thú vật chất. Hãy chỉ cho thần điều thần xin." Và ngài nhận một đôi dép đế đơn và chiếc lọng bằng lá, khuyên đức vua hãy tinh tấn trong tôn giáo, giữ gìn giới luật và tuân thủ ngày trai giới. Và dù đức vua cầu xin ngài ở lại, ngài vẫn lên đường về Himalaya, nơi ngài phát triển tất cả các Căn và các Định, và trở thành người hướng đến cõi Phạm Thiên.

Đức Bổn Sư kết thúc bài học và xác định Tiền thân: "Bấy giờ Ananda là đức vua, và chính ta là vị ẩn sĩ."

---

The Jātaka, or Stories of the Buddha's Former Births, hiệu đính bởi E.B. Cowell, xuất bản bởi The Cambridge University Press.

  • Vol. 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.
  • Vol. 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.
  • Vol. 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
  • Vol. 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.
  • Vol. 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.
  • Vol. 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Những bản dịch này thuộc phạm vi công cộng.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006–tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và những người khác.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến