Ja 317Matarodana Jātaka – Chuyện Khóc Người Sống Thay Vì Người Chết
Tên Pāli / Sanskrit:Matarodanajātaka
Đây là câu chuyện do Đức Thế Tôn kể khi đang trú tại Jetavana, liên quan đến một vị trưởng giả cư ngụ tại Savatthi.
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
– Chuyện Tiền Thân của Đức Phật
– Quyển 4 – Catukkanipāta
317. Matarodana Jātaka
"Hãy khóc người sống," v.v. — Đức Thế Tôn kể câu chuyện này trong khi trú tại Jetavana, liên quan đến một điền chủ tại Sāvatthī.
Tương truyền rằng sau khi người anh của ông qua đời, ông đau khổ đến mức không ăn, không tắm, không bôi dầu, mà trong nỗi sầu thương sâu sắc, mỗi sáng sớm ông đến nghĩa địa để khóc. Đức Thế Tôn, vào buổi sáng sớm khi phóng tâm nhìn khắp thế gian và thấy người đàn ông đó có khả năng đạt đến Quả Nhập Lưu (Sơ Đạo Quả), nghĩ rằng: "Không ai ngoài ta có thể, bằng cách kể lại chuyện xưa, xoa dịu nỗi đau của người này và dẫn dắt ông đến Quả Nhập Lưu.
Ta phải là nơi nương tựa của ông." Vậy ngày hôm sau, khi chiều về từ vòng khất thực, Ngài dẫn theo một vị tỳ-kheo trẻ và đến nhà ông. Nghe tin Đức Thế Tôn đến, điền chủ sai soạn chỗ ngồi và mời Ngài vào. Ông đảnh lễ và ngồi xuống một bên.
Trả lời câu hỏi của Đức Thế Tôn về lý do đau buồn, ông nói rằng đã sầu khổ từ khi người anh qua đời. Đức Thế Tôn nói: "Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, và cái gì sẽ vỡ thì sẽ vỡ. Không nên lo lắng về điều này.
Các bậc trí giả thời xưa, vì biết điều này, không hề đau buồn khi anh họ qua đời." Và theo yêu cầu của chủ nhà, Đức Thế Tôn kể câu chuyện huyền thoại này từ quá khứ.
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta đang trị vì tại Bārāṇasī, Bồ-tát được đầu thai trong gia đình một thương nhân giàu có, trị giá tám mươi koṭi. Khi ngài trưởng thành, cha mẹ ngài qua đời. Sau khi họ mất, một người anh của Bồ-tát trông coi điền sản.
PTS vp Pali 57 Và Bồ-tát sống nương nhờ vào anh. Rồi người anh cũng mất vì bệnh nặng. Bà con thân quyến và bạn bè tụ tập, giơ tay khóc than bi ai, và không ai có thể kìm được cảm xúc.
Nhưng Bồ-tát không khóc than, không rên rỉ. Mọi người nói: "Nhìn kìa, dù anh chết mà hắn không chau mày nổi: hắn là kẻ lạnh lùng tàn nhẫn lắm. Ta nghĩ hắn mong anh chết để hắn được hưởng gấp đôi phần của." Như vậy họ đã chê trách Bồ-tát.
Thân quyến ngài cũng khiển trách: "Anh trai ngươi chết mà ngươi không nhỏ một giọt nước mắt." Nghe những lời đó, ngài nói: "Trong sự mù quáng của các người, vì không biết Tám Pháp Thế Gian, các người khóc và kêu gào, 'Ôi, anh ta chết rồi,' nhưng ta cũng vậy, và các người cũng vậy, rồi cũng sẽ phải chết. Vậy sao các người không khóc khi nghĩ đến cái chết của chính mình? Tất cả mọi sự vật đều phải trải qua biến đổi, và vì vậy không có pháp hữu vi nào có thể giữ nguyên trạng thái tự nhiên của nó.
Dù các người, những kẻ mù quáng, trong trạng thái vô minh, PTS vp En 39 vì không biết Tám Pháp Thế Gian, khóc than bi lụy, nhưng tại sao ta phải khóc?" Và nói vậy rồi ngài đọc những bài kệ này:
Hãy khóc người sống thay vì người chết!
Tất cả chúng sinh mang hình hài sinh diệt,
Thú bốn chân và chim và rắn có mào,
Phải, cả người và thần đều cùng đi một con đường.
Không có sức chống lại số phận, hoan hỷ mà chết,
Giữa những bước thăng trầm khổ lạc vô thường,
Sao con người lại than thở rơi lệ vô ích,
Và đắm chìm trong sầu muộn vì người anh mà thở than?
Kẻ lão luyện gian xảo, kẻ già với tội lỗi tràn trề,
Kẻ ngu chưa được học, thậm chí tráng sĩ hùng dũng,
Nếu am tường việc đời mà dốt nát điều phải lẽ,
Thì bản thân Trí Tuệ cũng có thể coi là ngu xuẩn.
PTS vp Pali 58 Bồ-tát như vậy đã dạy Chân Lý cho những người này và giải thoát tất cả họ khỏi đau buồn.
Đức Thế Tôn, sau khi kết thúc bài giảng tôn giáo của mình, tuyên thuyết Tứ Diệu Đế và xác nhận Tiền Thân — Vào lúc kết thúc Tứ Diệu Đế, điền chủ đạt được Quả Nhập Lưu: — "Lúc đó, bậc trí nhân đã bằng pháp thoại của mình giải thoát mọi người khỏi đau buồn, chính là ta."
---
Jātaka, hay Chuyện Tiền Thân của Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, xuất bản bởi The Cambridge University Press.
- Quyển 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.
- Quyển 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.
- Quyển 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
- Quyển 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.
- Quyển 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.
- Quyển 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.
Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào.
Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006 – tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và các cộng tác viên khác. Cảm ơn Sacred Texts Archive đã cung cấp các văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.
Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Bhikkhu Sujato.
Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.
🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.