Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 302Chuyện Người Cưỡi Ngựa Vĩ Đại (Mahāassārohajātaka)

Tên Pāli / Sanskrit:Mahāassārohajātaka

📖1,696 từ · ~7 phút đọc
2
Tóm tắt

Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể khi đang trú tại Jetavana, liên quan đến Trưởng lão Ānanda. Hoàn cảnh gợi lên câu chuyện đã được trình bày trước đây. Đức Thế Tôn dạy: "Thuở xưa cũng vậy, các bậc trí giả đã hành xử theo nguyên tắc ân đền oán trả." Rồi Ngài kể cho họ nghe một câu chuyện thời cổ.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân Đức Phật

Quyển 4 — Catukkanipāta

302. Mahāassārohajātaka — Chuyện Người Cưỡi Ngựa Vĩ Đại

"Những ân huệ ngài ban," v.v.—Câu chuyện này bậc Đạo Sư kể khi đang trú tại Jetavana, về Trưởng lão Ānanda. Hoàn cảnh gợi lên câu chuyện đã được kể trước đó. "Trong những ngày đã qua," bậc Đạo Sư nói, "các bậc trí giả cũng đã hành xử theo nguyên tắc rằng một ân huệ xứng đáng được đền đáp." Nói vậy, Ngài kể câu chuyện thời xưa.

---

Thuở xưa, Bồ-tát làm vua Benares, cai trị với công bằng và chính nghĩa, bố thí và giữ giới.

Vì có ý dẹp loạn ở biên thùy, Ngài xuất quân với lực lượng hùng hậu, nhưng bị đánh bại, Ngài lên ngựa bỏ chạy cho đến khi đến một làng vùng biên. Ở đó có ba mươi thần dân trung thành, họ đang tụ họp rất sớm ở giữa làng để giải quyết công việc làng. Đúng lúc đó, vua cưỡi ngựa bọc giáp và trang bị nguy nga PTS vp Pali 9 phóng vào qua cổng làng.

Dân làng kinh hãi, kêu: "Đây là cái gì vậy?" và ai nấy chạy tán loạn về nhà mình. Nhưng có một người đàn ông, không về nhà mình, đến chào đón vua. Người đó nói với người khách lạ rằng vua, theo nghe nói, đã đến biên thùy, và hỏi người đó là ai và có ủng hộ vua hay không.

"Thần ủng hộ vua, thưa ngài," người đó đáp. "Vậy thì hãy đi theo ta," người chủ nhà nói, và dẫn vua về nhà mình, mời vua ngồi trên ghế của chính mình. Rồi người đó nói với vợ: "Này vợ yêu, hãy rửa chân cho vị khách của ta;" và khi bà đã rửa xong, ông dâng cho vua thứ thức ăn ngon nhất ông có, và cho dọn giường mời vua nghỉ một chút.

Thế là vua nằm xuống. Rồi chủ nhà tháo giáp khỏi ngựa, thả ngựa ra ngoài, cho uống nước và ăn cỏ, rồi xoa ngựa bằng dầu. Vậy là người đó phục vụ vua ba bốn ngày, và vua nói: "Bạn ơi, ta giờ muốn lên đường," và người đó lại chu đáo phục vụ cả vua lẫn ngựa.

Vua sau khi dùng bữa, lúc ra đi nói: "Ta được gọi là Người Cưỡi Ngựa Vĩ Đại. Nhà ta ở trung tâm thành. Nếu anh có dịp đến đó vì việc gì, hãy đứng trước cổng bên phải và hỏi người gác cổng xem Người Cưỡi Ngựa Vĩ Đại ở đâu, rồi nhờ người đó dẫn anh đến nhà ta." Nói xong, Ngài lên đường.

Bấy giờ đạo quân không thấy vua, đóng trại bên ngoài thành, nhưng khi thấy Ngài, họ kéo ra nghênh đón và hộ tống Ngài về. Khi vào thành, vua dừng lại ở cổng vào và gọi người gác cổng đến, ra lệnh cho đám đông lui ra, và nói: "Này bạn, có một người sống ở một làng biên thùy sẽ đến đây muốn gặp ta, và sẽ hỏi nhà Người Cưỡi Ngựa Vĩ Đại ở đâu. Hãy cầm tay người đó và dẫn vào gặp ta, và ngươi sẽ nhận một ngàn đồng tiền vàng."

Nhưng khi người đàn ông không đến, vua tăng thuế của làng nơi người đó ở. Dù thuế tăng, người đó vẫn không đến. Vua tiếp tục tăng thuế lần thứ hai và lần thứ ba, và người đó vẫn không đến. Bấy giờ dân trong làng tụ họp lại và nói với người đó: "Thưa ngài, từ khi Người Cưỡi Ngựa đến nhà ngài, PTS vp Pali 10 chúng tôi đã bị thuế má đè nặng đến nỗi không ngẩng đầu lên được. Xin hãy đến gặp Người Cưỡi Ngựa Vĩ Đại và thuyết phục ông giảm bớt gánh nặng của chúng tôi."

"Được, tôi sẽ đi," người đó trả lời, "nhưng tôi không thể đến tay không. Bạn của tôi có hai người con trai: hãy chuẩn bị đồ trang sức và quần áo cho các con trai ông ấy, cho vợ ông ấy, và cho chính ông ấy."

"Được rồi," họ nói, và chuẩn bị mọi thứ cho quà tặng.

Thế là ông mang theo món quà này lẫn một cái bánh chiên từ nhà mình. Khi đến cổng bên phải, ông hỏi người gác cổng nhà Người Cưỡi Ngựa Vĩ Đại ở đâu. Người gác đáp: "Theo tôi, tôi sẽ chỉ cho anh," rồi cầm tay ông, và đến cổng cung, cho người vào thông báo: "Người gác cổng đã đến và dẫn theo người đàn ông sống ở làng biên thùy." Vua nghe xong, đứng dậy khỏi chỗ ngồi và nói: "Hãy để bạn ta và tất cả những người đi cùng vào." Rồi Ngài bước ra đón, ôm chầm người đó, và hỏi thăm vợ và con của bạn mình, rồi cầm tay người đó, bước lên bệ và mời ngồi trên ngai vàng dưới lọng trắng.

Rồi Ngài gọi hoàng hậu chính cung đến và nói: "Hãy rửa chân cho bạn ta." Và bà rửa chân ông. Vua rưới nước từ một bát vàng trong khi hoàng hậu rửa chân và xoa dầu thơm. Rồi vua hỏi: "Bạn có mang gì cho ta ăn không?" Và người đó nói: "Có, thưa bệ hạ," rồi lấy ra những cái bánh trong một cái túi.

Vua nhận vào một cái đĩa vàng, và tỏ lòng ưu ái đặc biệt với người đó, vua nói: "Hãy ăn thứ bạn ta mang đến," rồi cho hoàng hậu và các triều thần một ít, và chính vua cũng ăn. Rồi người khách lấy ra món quà còn lại. Và vua để biểu thị mình đã chấp nhận, cởi bỏ y phục lụa của mình và mặc bộ quần áo người đó mang đến cho mình.

PTS vp Pali 11 Hoàng hậu cũng cởi bỏ áo lụa và đồ trang sức rồi mặc bộ quần áo và đeo đồ trang sức mà người đó mang đến. Rồi vua tiếp đãi người đó bằng thức ăn xứng đáng với vua và bảo một trong các cố vấn: "Hãy đi lo cho bộ râu của người đó được cắt tỉa theo kiểu của ta, và để người đó tắm bằng nước thơm. Rồi mặc cho người đó y phục lụa trị giá trăm ngàn đồng tiền, và trang điểm người đó theo phong cách hoàng gia, rồi dẫn người đó PTS vp En 8 vào đây." Lệnh được thực thi.

Và vua bằng tiếng trống qua khắp thành triệu tập các quần thần, rồi giăng một sợi chỉ đỏ tươi qua lọng trắng, ban cho người đó nửa vương quốc. Từ ngày đó họ ăn, uống, và sống cùng nhau, trở thành bạn bè vững chắc không thể tách rời.

Bấy giờ vua sai người đón vợ và gia đình của người đàn ông về, cho xây một ngôi nhà trong thành cho họ, và họ cai trị vương quốc trong sự hòa hợp hoàn hảo. Thế là các triều thần bất bình và nói với con trai vua: "Ồ vương tôn, vua đã ban nửa vương quốc cho một thường dân. Vua ăn uống và sống cùng với người đó, và ra lệnh cho chúng tôi phải kính cẩn chào con cái người đó. Chúng tôi không biết người đó đã làm gì cho vua. Ý vua muốn gì? Chúng tôi thấy xấu hổ. Vương tôn hãy thưa chuyện với vua." Vị đó sẵn sàng đồng ý, và đem hết lời nói với vua, rằng: "Ồ Đại vương, xin đừng làm như vậy."

"Con ta ơi," vua đáp, "con có biết ta đã trú ở đâu sau khi bị thua trận không?"

"Tâu bệ hạ, con không biết," vị đó nói.

"Ta đã trú," vua nói, "trong nhà của người đàn ông này, và khi ta đã hồi phục sức khỏe, ta trở về và tiếp tục cai trị. Vậy thì làm sao ta không ban danh dự cho ân nhân của ta?"

Rồi Bồ-tát tiếp tục nói: "Này con ta, ai tặng quà cho kẻ không xứng đáng, và không tặng gì cho người xứng đáng, thì khi rơi vào hoạn nạn sẽ không tìm được ai giúp đỡ." Và để nêu bài học, Ngài đọc những bài kệ này:

PTS vp Pali 12
Những ân huệ ban cho kẻ điên rồ hay kẻ gian ác,
Khi cần nhất sẽ không mang đến bạn bè cứu giúp:
Nhưng ân huệ hay lòng tốt dành cho người thiện lành
Khi cần nhất sẽ mang đến sự trợ giúp kịp thời.

Bổng lộc cho kẻ không xứng là phí uổng,
Việc nhỏ nhất của ngài dành cho người tốt là điều có lợi:
Một hành động cao quý dù đứng một mình,
Làm cho người thực hiện xứng đáng với ngai vàng:
Như quả phong phú từ hạt giống nhỏ,
Danh tiếng đời đời xuất phát từ hành động đức hạnh.

PTS vp Pali 13 Nghe vậy, cả các triều thần lẫn hoàng tử đều không có gì để nói.

Bậc Đạo Sư kết thúc câu chuyện và xác định Tiền thân như sau: "Thời đó Ānanda là người ở làng biên thùy, còn ta chính là vua Benares."

---

Jātaka, hay Chuyện Tiền Thân Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, xuất bản bởi Cambridge University Press.

  • Quyển 1, Robert Chalmers dịch, 1895.
  • Quyển 2, W.H.D. Rouse dịch, 1895.
  • Quyển 3, H.T. Francis và R.A. Neil dịch, 1897.
  • Quyển 4, W.H.D. Rouse dịch, 1901.
  • Quyển 5, H.T. Francis dịch, 1905.
  • Quyển 6, E.B. Cowell và W.H.D. Rouse dịch, 1907.

Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Quý vị được tự do sử dụng theo ý muốn.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006 – tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và những người khác. Trân trọng cảm ơn Sacred Texts Archive đã cung cấp những văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.

Được chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-khưu Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến