Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 299Komaya-Putta Jātaka

Tên Pāli / Sanskrit:Komāraputtajātaka

📖850 từ · ~3 phút đọc
2
Tóm tắt

Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể tại Pubbarāma, liên quan đến một số Tỳ-kheo có phong cách thô lỗ và cộc cằn trong cử chỉ.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân Đức Phật

Quyển 3 Tikanipāta

299. Komaya-Putta Jātaka — Chuyện Komāyaputta — Komāraputtajātaka

PTS vp Pali 447 "Xưa kia ngươi quen làm trò," v.v.—Câu chuyện này Đức Thế Tôn kể tại Pubbarama (Đông Viên), về một số Tỳ-kheo thô lỗ, cục cằn trong cử chỉ. Những Tỳ-kheo này, cư trú ở tầng bên dưới nơi Đức Thế Tôn đang ở, bàn luận về những gì họ đã thấy và nghe, và thường xuyên tranh cãi, thóa mạ nhau. Đức Thế Tôn gọi Mahāmoggallāna (Đại Mục-kiền-liên) đến và sai ngài đi làm cho họ sợ hãi.

Trưởng lão bay lên hư không và chỉ chạm nhẹ ngón chân cái vào nền móng ngôi nhà. Nó rung chuyển đến tận rìa xa của đại dương! Các Tỳ-kheo sợ hãi kinh hoàng và ra đứng bên ngoài.

Thái độ thô lỗ của họ trở thành điều mọi người trong Tăng đoàn đều biết. Một ngày nọ họ bắt đầu nói về điều đó trong Giảng Đường Chân Lý. "Này đạo hữu, có những Tỳ-kheo đã đến nơi ẩn tu giải thoát này mà lại thô lỗ, cục cằn; họ không thấy được sự vô thường, khổ đau và vô ngã của thế gian, cũng không làm tròn bổn phận." Đức Thế Tôn bước vào và hỏi họ đang bàn luận gì khi ngồi ở đó.

Họ thuật lại. "Đây không phải lần đầu tiên, này các Tỳ-kheo," Ngài nói, "họ đã thô lỗ và cục cằn như vậy. Trước đây họ cũng từng như vậy rồi." Và Ngài kể câu chuyện xa xưa.

Ngày xưa, khi Brahmadatta trị vì làm vua xứ Bārāṇasī, Bồ-tát sinh làm con trai một người Bà-la-môn trong một ngôi làng. Họ đặt tên Ngài là Komāyaputta. Dần dần Ngài xuất gia tu hành trong vùng Himalaya. Ở đó có một số ẩn sĩ phóng đãng, họ đã lập một ẩn thất trong vùng này và sinh sống ở đó. Nhưng họ không tu tập các phương tiện để dẫn đến Thiền định xuất ly. Họ ra rừng hái trái cây về ăn; rồi họ dành thời gian cười đùa với nhau. Họ có một con khỉ, cũng thô lỗ như họ, luôn giúp họ giải trí bằng những trò nhăn nhó và tinh nghịch.

Họ sống ở đó lâu dài, cho đến khi phải đi vào chỗ người đời để kiếm muối và gia vị. Sau khi họ đi, Bồ-tát đến ở trong chỗ ở của họ. Con khỉ nghịch ngợm trước mặt Ngài như đã từng làm với những người kia. Bồ-tát búng ngón tay ra hiệu và giảng dạy nó rằng: "Kẻ nào sống với những ẩn sĩ được rèn luyện tốt, PTS vp Pali 448 PTS vp En 306 phải hành xử đúng đắn, phải cẩn trọng trong hành động, và chuyên tâm thiền định." Từ đó về sau, con khỉ luôn đạo đức và hành xử tốt.

Sau đó, Bồ-tát rời đi. Những ẩn sĩ kia trở về với muối và gia vị của họ. Nhưng con khỉ không còn nghịch ngợm trước mặt họ nữa. "Sao vậy, bạn của ta?" họ hỏi. "Sao ngươi không làm trò vui như xưa?" Một người trong số họ đọc bài kệ thứ nhất:

"Xưa kia ngươi quen làm tròTại ẩn thất này nơi chúng ta ẩn sĩ cư trú.Hỡi khỉ ơi! Hãy làm như một con khỉ đi;Khi ngươi ngoan ngoãn ta không thích ngươi."

Nghe xong điều này, con khỉ đọc bài kệ thứ hai:

"Trí tuệ hoàn hảo từ lời nóiCủa bậc trí Komāya ta đã lắng nghe.Chớ xem ta như ta đã từng trước đâyNay lòng ta ưa thiền định."

Nghe vậy, vị ẩn sĩ đọc bài kệ thứ ba:

"Nếu gieo hạt trên đá,Dù mưa rơi xuống, cũng sẽ không mọc được.Ngươi có thể nghe trí tuệ hoàn hảo mãi;Nhưng thiền định thì ngươi sẽ chẳng bao giờ thực hành."

PTS vp Pali 449 Khi Đức Thế Tôn kết thúc bài thuyết pháp này, Ngài tuyên thuyết Tứ Diệu Đế và xác định Bản Sinh: "Vào thời ấy, những Tỳ-kheo đó là những ẩn sĩ phóng đãng, còn Komāyaputta chính là ta."

Jātaka, tức là Những Câu Chuyện Tiền Thân Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, xuất bản bởi The Cambridge University Press.

Tập 1, do Robert Chalmers dịch, 1895.

Tập 2, do W.H.D. Rouse dịch, 1895.

Tập 3, do H.T. Francis và R.A. Neil dịch, 1897.

Tập 4, do W.H.D. Rouse dịch, 1901.

Tập 5, do H.T. Francis dịch, 1905.

Tập 6, do E.B. Cowell và W.H.D. Rouse dịch, 1907.

Những bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào.

Được quét, đọc soát và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006–tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và nhiều người khác. Cảm ơn Sacred Texts Archive đã cung cấp các văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.

Được chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến