Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 279Satapatta Jātaka

Tên Pāli / Sanskrit:Satapattajātaka

📖1,390 từ · ~6 phút đọc
2
Tóm tắt

Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể lại tại Jetavana, liên quan đến Paṇḍuka và Lohita.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Kể Về Các Tiền Thân Của Đức Phật

Quyển 3 — Tikanipāta

279. Satapatta Jātaka

"Như chàng trai trên đường bước," v.v. Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể lại tại Kỳ Viên (Jetavana), liên quan đến hai tỳ-kheo Panduka và Lohita. Trong số Sáu Ngoại Đạo, hai vị là Mettiya và Bhummaja cư trú gần Vương Xá (Rajagaha); hai vị Assaji và Punabbasu ở gần Kitagiri; còn tại Kỳ Viên, cạnh Xá-vệ (Savatthi), là hai vị kia — Panduka và Lohita.

Họ đặt vấn đề về những điều đã được giáo pháp quy định; hễ ai là thân hữu hay bạn bè thân cận, họ đều khuyến dụ, rằng: "Huynh đệ ơi, về dòng dõi, tông tộc hay phẩm hạnh, huynh đệ chẳng thua kém những vị ấy; nếu huynh đệ từ bỏ quan điểm của mình, họ sẽ chiếm ưu thế hơn huynh đệ nhiều lắm." Bằng những lời như vậy, họ ngăn cản người ta từ bỏ tà kiến, khiến cho tranh chấp, cãi vã và bất hòa nổi lên. Chư Tăng trình bày việc này với Đức Thế Tôn.

Vì nhân duyên ấy, Đức Thế Tôn triệu tập chư Tăng để giải thích; và sau khi cho vời Panduka cùng Lohita đến, Ngài khiển trách: "Này các Tỳ-kheo, có thật chăng rằng chính các ông đặt vấn đề về một số việc rồi lại ngăn cản người khác từ bỏ tà kiến?" "Thưa vâng," họ đáp. "Vậy thì," Ngài nói, "hành xử của các ông chẳng khác gì hành xử của Người Đàn Ông và Con Sếu;" rồi Ngài kể lại một chuyện xưa.

Thuở xưa, khi Brahmadatta đang trị vì tại Benares (Ba-la-nại), Bồ-tát (Bodhisatta) sinh vào một gia đình nọ ở một ngôi làng thuộc xứ Kasi. Khi trưởng thành, thay vì kiếm sống bằng nghề canh nông hay thương mại, PTS vp Pali 388 Ngài tập hợp năm trăm tên cướp, trở thành thủ lĩnh của họ, và sinh sống bằng cách cướp đường và phá nhà khoắng của.

Vào lúc đó, có một điền chủ đã cho ai đó vay một nghìn đồng tiền vàng, nhưng chết đi trước khi nhận lại được. Ít lâu sau, vợ ông ta nằm trên giường bệnh sắp từ trần, và nói với con trai rằng:

"Con ơi, cha con đã cho người ta vay một nghìn đồng tiền vàng, mà chưa đòi lại được thì đã mất. Nếu mẹ cũng mất, người ta sẽ không trả cho con đâu. Hãy đi ngay khi mẹ còn sống, bảo người ấy mang tiền đến trả."

Vậy là người con trai ra đi và đòi lại được tiền.

Người mẹ mất; nhưng bà thương con đến nỗi, tức khắc bà đầu thai thành một con dã can (jackal) ngay trên con đường con trai đang đi về. Vào thời điểm ấy, thủ lĩnh cướp cùng băng đảng đang mai phục bên đường để cướp bóc người đi đường. Khi con trai đến đầu khu rừng, con Dã Can cứ trở đi trở lại, cố giữ chàng lại; nó kêu rằng: "Con ơi, đừng vào rừng! Ở đó có bọn cướp, chúng sẽ giết con và lấy tiền của con! PTS vp En 265

Nhưng người đàn ông không hiểu ý nó muốn nói gì. "Gở thật!" anh ta kêu, "đây là con dã can chực chặn đường ta!" Anh ta xua đuổi nó bằng gậy gộc và đất đá rồi cứ thế bước vào rừng.

Lúc đó, một con sếu (crane) bay về phía bọn cướp, kêu to rằng: "Đây có người cầm một nghìn đồng tiền vàng trong tay! Hãy giết y đi mà lấy!" Người trẻ tuổi không biết con chim đang làm gì, nên anh ta nghĩ thầm: "May mắn thay! Đây là con chim hên! Thật là điềm lành cho ta!" Anh ta cung kính vái chào, kêu lên: "Hãy cất tiếng đi, hãy cất tiếng đi, thưa đại nhân!"

Bồ-tát, người thông hiểu ý nghĩa của mọi âm thanh, quan sát thấy hành động của cả hai và suy nghĩ: "Con dã can kia ắt là mẹ của người đàn ông này; nên nó cố giữ chàng lại và báo rằng chàng sẽ bị giết và bị cướp; còn con sếu kia ắt là kẻ thù nào đó, vì thế nó mới nói 'Hãy giết y, lấy tiền đi'; còn người đàn ông thì không biết chuyện gì đang xảy ra, PTS vp Pali 389 xua đuổi mẹ mình — người đang lo lắng cho phúc lợi của chàng — trong khi lại tôn sùng con sếu muốn hại chàng, vì lầm tưởng đó là điều tốt lành. Người này quả là kẻ ngu si."

(Cần biết rằng các Bồ-tát, dù là những bậc vĩ đại, đôi khi vẫn chiếm đoạt tài sản của người khác trong những lần thọ sinh vào kiếp người xấu ác; người ta nói rằng điều này xảy ra do một khiếm khuyết trong tử vi.)

Vậy là chàng trai tiếp tục đi và không lâu sau gặp bọn cướp. Bồ-tát bắt chàng lại và hỏi: "Ngươi ở đâu?"

"Thưa, tại Benares."

"Ngươi đến từ đâu?"

"Có một nghìn đồng tiền vàng mà người ta nợ tôi ở một ngôi làng; tôi đến đó để đòi."

"Ngươi đã lấy được chưa?"

"Thưa, lấy được rồi."

"Ai sai ngươi đi?"

"Thưa, cha tôi đã mất, mẹ tôi đang ốm; chính bà sai tôi đi, vì bà nghĩ rằng nếu bà mất rồi, tôi sẽ không đòi được nữa."

"Ngươi có biết điều gì đã xảy ra với mẹ ngươi không?"

"Thưa, không biết."

"Sau khi ngươi ra đi, bà đã mất; và bà thương ngươi đến nỗi tức khắc hóa thành một con dã can, cứ cố giữ ngươi lại vì sợ ngươi bị giết. Chính bà là kẻ mà ngươi xua đuổi. Còn con sếu kia là kẻ thù, nó bay đến mách chúng ta giết ngươi và lấy tiền. Ngươi thật ngu si: tưởng mẹ mình là kẻ thù khi bà đang lo lắng cho ngươi, lại tưởng con sếu là ân nhân khi nó đang muốn hại ngươi. Nó không làm gì tốt cho ngươi, còn mẹ ngươi thì hết lòng vì ngươi. Hãy cầm lấy tiền của mình mà đi!" Và Ngài thả chàng ra. PTS vp En 266

Sau khi Đức Thế Tôn kết thúc bài giảng này, Ngài đọc lên những bài kệ sau:

Như chàng trai trên đường bướcNgỡ dã can nơi rừng sâuLà kẻ thù chặn lối trước,Khi nó một lòng lo âu:

Con sếu gian, chàng xem bạn,
Dù nó đang mưu hại thân;

Cũng vậy kẻ ở đây đóHiểu lầm bạn hữu chân tình;Lời khuyên tốt, tai chẳng ngỏ,Dù ai nói vì thương mình.
PTS vp Pali 390 Hễ ai ca ngợi — y tin ngay,Dù lời tiên đoán tai họa;Như chàng trai thuở xưa ngây,Yêu sếu bay trên đầu qua.

Sau khi Đức Thế Tôn giải thích đề tài này một cách rộng rãi, Ngài xác nhận Bổn Sanh: "Bấy giờ, tên thủ lĩnh cướp chính là ta."

Người bạn mà cứ mãi cướp đoạt người;Kẻ cứ phản đối, phản đối không ngừng;Người bạn nịnh hót chỉ cầu đẹp lòng;Bạn đồng hành trong chốn trác táng say sưa;Bốn hạng này, bậc trí xem như thù,Và tránh xa khi gần bên hiểm nguy.

---

The Jātaka, or Stories of the Buddha's Former Births, do E.B. Cowell chủ biên, xuất bản bởi The Cambridge University Press.

  • Quyển 1, do Robert Chalmers dịch, 1895.
  • Quyển 2, do W.H.D. Rouse dịch, 1895.
  • Quyển 3, do H.T. Francis và R.A. Neil dịch, 1897.
  • Quyển 4, do W.H.D. Rouse dịch, 1901.
  • Quyển 5, do H.T. Francis dịch, 1905.
  • Quyển 6, do E.B. Cowell và W.H.D. Rouse dịch, 1907.

Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Quý vị được tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng Giêng 2006 – tháng Hai 2010, bởi John Bruno Hare và các cộng sự. Xin cảm ơn Sacred Texts Archive đã cung cấp các văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.

Được chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến