Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 263Tiểu Cám Dỗ — Jātaka 263

Tên Pāli / Sanskrit:Cūḷapalobhanajātaka

📖1,307 từ · ~5 phút đọc
2
Tóm tắt

Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể tại Jetavana, cũng liên quan đến một vị Tỳ-kheo thối thất. Đức Thế Tôn cho gọi vị ấy vào Giảng đường Chân lý và hỏi có đúng là vị ấy đã thối thất chăng. Vị ấy xác nhận là đúng. Đức Thế Tôn dạy: "Phụ nữ, ngay từ thuở xưa, đã khiến cả những tâm hồn có tín tâm phải phạm tội." Rồi Ngài kể một câu chuyện.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Kể Về Các Tiền Thân Của Đức Phật

Quyển 3 — Tikanipāta

263. Cūḷapalobhanajātaka — Tiểu Cám Dỗ

PTS vp Pali 328 "Không phải qua biển cả," v.v. — Câu chuyện này Đức Bổn Sư kể tại Jetavana, cũng về một vị Tỳ-kheo thoái hoá. Đức Bổn Sư đã cho gọi vị ấy vào Pháp Đường và hỏi có thật không rằng vị ấy đã thoái hoá. Vị ấy xác nhận đúng như vậy. "Phụ nữ," Đức Bổn Sư nói, "ngày xưa đã khiến ngay cả những tâm hồn tin kính phạm tội." Rồi Ngài kể một câu chuyện.

Ngày xưa, Vua Brahmadatta ở Benares không có con cái. Ông nói với hoàng hậu: "Hãy cùng ta cầu nguyện sinh được con." Họ cầu nguyện. Sau một thời gian dài, Bồ-tát từ cõi Phạm Thiên giáng xuống và được hoàng hậu thụ thai. Ngay sau khi chào đời, hoàng tử được tắm rửa và trao cho một người hầu nữ bú sữa. Khi được đặt bú sữa, hoàng tử khóc. Trao cho người khác, nhưng chỉ cần có phụ nữ ôm, hoàng tử không chịu nín. Vì vậy người ta giao cho một người hầu nam; ngay khi người nam ôm, hoàng tử lập tức im lặng. Từ đó những người nam thường bế bồng hoàng tử. Khi cho bú sữa, họ phải vắt sữa ra cho hoàng tử uống, hoặc cho bú qua màn che. Ngay cả khi lớn hơn, không thể để hoàng tử nhìn thấy phụ nữ. Đức vua truyền xây riêng cho hoàng tử nơi ngồi và mọi thứ khác, và một phòng thiền định riêng biệt.

Khi chàng trai tròn mười sáu tuổi, đức vua nghĩ: "Ta không có con trai nào khác, mà con trai này lại không hưởng thụ lạc thú. Nó thậm chí không muốn ngai vàng. Có ích gì một đứa con như vậy?"

Bấy giờ có một vũ nữ tài giỏi ca múa và âm nhạc, trẻ trung, có khả năng chinh phục bất kỳ người đàn ông nào gặp. Nàng đến gặp vua và hỏi nhà vua đang nghĩ gì; đức vua nói cho nàng biết. PTS vp Pali 329

"Xin bệ hạ chớ lo," nàng nói; "thần thiếp sẽ quyến rũ người ấy, thần thiếp sẽ khiến chàng yêu thần thiếp."

"Vậy nếu nàng có thể quyến rũ con trai ta, người chưa bao giờ có quan hệ gì với phụ nữ, thì hắn sẽ được làm vua, và nàng sẽ là hoàng hậu chính thất!"

"Xin bệ hạ cứ để thần thiếp lo," nàng nói; "và đừng lo lắng." Nàng đến gặp những người lính canh và nói: "Vào lúc bình minh ta sẽ đến nơi ngủ của hoàng tử, và bên ngoài phòng thiền định riêng của chàng ta sẽ ca hát. Nếu chàng nổi giận, hãy báo cho ta biết, và ta sẽ lui; nhưng nếu chàng lắng nghe, hãy nói tốt về ta." Họ đồng ý. PTS vp En 228

Vào buổi sáng nàng đứng ở chỗ đó và hát bằng giọng ngọt như mật, âm nhạc ngọt ngào như ca khúc, và ca khúc ngọt ngào như âm nhạc. Hoàng tử nằm lắng nghe. Ngày hôm sau, chàng truyền lệnh nàng đứng gần hơn để hát. Ngày kế, chàng truyền lệnh nàng đứng trong phòng riêng; và ngày sau nữa, trước mặt chàng; rồi dần dần tham dục nổi sinh trong chàng; chàng đi theo con đường của thế gian, và nếm trải niềm vui ái tình. "Ta sẽ không để ai khác có được người phụ nữ này," chàng quyết tâm; và cầm kiếm, chàng chạy đâm tứ tán qua phố phường, đuổi theo người ta. Đức vua bắt giam chàng lại và đày chàng ra khỏi thành cùng với người con gái.

Cùng nhau họ đi vào rừng, xuôi dòng sông Hằng. Ở đó, một bên là sông, một bên là biển, họ dựng một túp lều và sống tại đó. Nàng ngồi trong nhà nấu củ và rễ cây; Bồ-tát mang hoa quả rừng về.

Một ngày, khi chàng vào rừng tìm hoa quả, một ẩn sĩ từ một đảo giữa biển đang đi vòng kiếm ăn, nhìn thấy khói khi bay qua, liền hạ cánh xuống bên cạnh túp lều.

"Hãy ngồi đợi cho đến khi thức ăn chín," người phụ nữ nói; rồi sắc đẹp nữ nhân của nàng đã mê hoặc tâm hồn ẩn sĩ, kéo ông xuống khỏi trạng thái thiền định, tạo ra vết rạn trong sự trong sạch của ông. Và ông, như con quạ bị gãy cánh, PTS vp Pali 330 không thể rời xa nàng, ngồi ở đó suốt ngày cho đến khi nhìn thấy Bồ-tát đang đến, rồi vội vàng chạy về hướng biển. "Đây chắc hẳn là kẻ thù," Bồ-tát nghĩ, rút kiếm đuổi theo.

Nhưng vị ẩn sĩ, giả vờ muốn bay lên không, lại rơi xuống biển. Bồ-tát nghĩ: "Người đó chắc hẳn là ẩn sĩ đã đến đây qua không trung; giờ đây khi thiền định bị phá vỡ, ông ta đã rơi xuống biển. Ta phải đi giúp ông." Và đứng trên bờ, chàng cất lên những lời kệ:

"Không phải qua biển cả, mà bằng thần thông của ngươi,ngươi đã đến đây vào giờ trước đó;giờ bởi sự giao du xấu xa của phụ nữngươi đã bị khiến lao mình xuống biển.

"Đầy mưu mô quyến rũ, tất cả đều dối trá,
họ đưa dẫn ngay cả tâm hồn thuần khiết nhất đến chỗ sa ngã.
Xuống—xuống thấp họ đẩy: người đàn ông nên tránh xa
phụ nữ, khi đã biết họ thuộc loại nào.

"Những người họ phục vụ, vì vàng hay vì tham dục,
họ thiêu đốt như củi lửa." PTS vp En 229

Khi vị ẩn sĩ nghe những lời Bồ-tát nói, ông đứng dậy giữa biển khơi, tiếp tục lại thiền định đã bị gián đoạn, bay lên không trung và trở về nơi cư trú của mình. Bồ-tát nghĩ: "Vị ẩn sĩ kia, với gánh nặng như vậy, bay qua không như một mảnh bông. PTS vp Pali 331 Tại sao ta không như ông tu tập thiền định và bay qua không?" Vậy chàng trở về túp lều, đưa người phụ nữ trở lại giữa người đời; rồi bảo nàng hãy đi, và tự mình vào rừng, dựng một túp lều ở nơi dễ chịu, và trở thành ẩn sĩ; chàng chuẩn bị cho thiền định thần thông, tu tập các Căn và các Định, và trở thành người hướng đến cõi Phạm Thiên.

Khi bài giảng kết thúc, Đức Bổn Sư tuyên bố các Sự Thật: (và lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỳ-kheo thoái hoá an trú trong Quả Vị Đầu): "Bấy giờ," Ngài nói, "chính ta là người trẻ chưa từng có quan hệ gì với phụ nữ."

Ảo giác, sầu muộn, và bệnh tật,
Ảo ảnh, khổ não (và đây là những xiềng xích kiên cố),
Cái bẫy của tử thần, ăn sâu trong tâm—
Ai tin tưởng vào những điều này là hèn kém nhất trong loài.

---

The Jātaka, or Stories of the Buddha's Former Births, hiệu đính bởi E.B. Cowell, xuất bản bởi The Cambridge University Press.

  • Vol. 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.
  • Vol. 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.
  • Vol. 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
  • Vol. 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.
  • Vol. 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.
  • Vol. 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Những bản dịch này thuộc phạm vi công cộng.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006–tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và những người khác.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến