Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 259Tirita-Vaccha Jātaka

Tên Pāli / Sanskrit:Tirīṭavacchajātaka

📖1,361 từ · ~5 phút đọc
2
Tóm tắt

Câu chuyện này được Bậc Đạo Sư kể lại khi Ngài đang trú tại Jetavana, nhân sự kiện dâng cúng một ngàn y phục: Tôn giả Ānanda nhận năm trăm y từ các phụ nữ trong hoàng cung của vua xứ Kosala, và năm trăm y từ chính nhà vua. Hoàn cảnh sự việc đã được trình bày ở phần trên, trong Sigala Birth thuộc Quyển thứ Hai.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân Đức Phật

Quyển 3 Tikanipāta

259. Tirita-Vaccha Jātaka — Tirīṭavacchajātaka

"Khi một mình," v.v. Câu chuyện này Đức Thế Tôn kể trong khi sống tại Jetavana, về việc bố thí một nghìn bộ y phục, là câu chuyện Tôn giả Ānanda nhận năm trăm bộ y phục từ các phụ nữ trong hoàng cung của vua Kosala, và năm trăm bộ từ chính nhà vua. Hoàn cảnh đã được mô tả ở trên, trong Tiền Thân Sigāla thuộc Quyển Hai.

Thuở xưa, khi Brahmadatta là vua Benares, Bồ-tát sinh làm con trai của một vị Bà-la-môn ở vùng Kāsi. Vào ngày đặt tên, họ gọi vị ấy là Thầy Tiritavaccha. Thời gian trôi qua, vị ấy lớn lên và theo học ở Takkasila. Vị ấy lập gia đình và ổn định cuộc sống, nhưng cái chết của song thân làm vị ấy đau khổ đến mức PTS vp Pali 315 xuất gia tu hành khổ hạnh và sống trong một cái am trong rừng, ăn những rễ cây và trái cây rừng. PTS vp En 219

Trong khi vị ấy sống ở đó, nổ ra cuộc nổi loạn ở biên cương Benares. Nhà vua tiến đến đó nhưng bị thất bại trong giao tranh; sợ nguy hiểm đến tính mạng, Ngài cưỡi voi bỏ trốn bí mật qua rừng. Vào buổi sáng, Tiritavaccha đã ra ngoài để hái trái cây hoang, và trong lúc đó nhà vua tình cờ gặp am thất của vị ấy.

"Am của một ẩn sĩ!" Ngài thốt lên; Ngài xuống voi, kiệt sức vì gió và nắng, và khát nước; Ngài nhìn quanh tìm bình nước nhưng không tìm thấy. Cuối hành lang có mái che, Ngài thấy một cái giếng, nhưng không thấy dây và thùng để kéo nước. Cơn khát quá sức chịu đựng; Ngài cởi dây nịt đeo dưới bụng voi, buộc chặt vào miệng giếng, và thả mình xuống.

Nhưng dây còn quá ngắn; vì vậy Ngài cột thêm y phục phía dưới của mình vào đầu dây, và thả mình xuống lần nữa. Vẫn chưa tới được nước. Ngài vừa có thể chạm nước bằng bàn chân: Ngài rất khát!

"Nếu ta có thể dập tắt cơn khát," Ngài nghĩ, "dù chết cũng cam lòng!" Vậy là Ngài thả mình xuống và uống no say; nhưng Ngài không thể leo lên lại, vì vậy Ngài đứng yên trong giếng. Và con voi, vốn được huấn luyện tốt như vậy, đứng chờ đợi vua.

Vào buổi chiều, Bồ-tát trở về, mang đầy trái cây hoang, và nhìn thấy con voi. "Ta đoán," Ngài nghĩ, "vua đã đến; nhưng chẳng thấy gì ngoài con voi có khí giới. Chuyện gì vậy?" Và Ngài tiến lại gần voi, con vật đứng chờ. Ngài đến mép giếng và thấy nhà vua ở dưới đáy. "Xin đừng sợ, Bệ hạ!" Ngài gọi vào; rồi Ngài đặt thang xuống và giúp nhà vua lên; Ngài chà xát thân thể nhà vua, và bôi dầu; sau đó cho nhà vua ăn trái cây PTS vp Pali 316 và tháo giáp cho voi. Hai ba ngày nhà vua nghỉ ngơi ở đó; rồi lên đường, sau khi khiến Bồ-tát hứa sẽ đến thăm Ngài.

Đại quân hoàng gia đóng gần thành; và khi thấy vua trở về, họ đổ xô ra vây quanh.

Sau một tháng rưỡi, Bồ-tát trở về Benares và trú tại vườn công viên. Ngày hôm sau Ngài đến cung điện để xin thức ăn. Nhà vua đã mở một cửa sổ lớn và đứng nhìn ra sân; thấy Bồ-tát và nhận ra Ngài, vua xuống và chào đón; dẫn Ngài lên bệ cao, và mời ngồi lên ngai vàng dưới chiếc lọng trắng; chính thức ăn của vua được dâng cho Ngài để dùng bữa, và vua tự dùng bữa với thức ăn đó. Rồi vua dẫn Ngài ra vườn và cho xây một hành lang có mái che và chỗ ở, trang bị đầy đủ mọi thứ cần thiết cho người tu khổ hạnh; sau đó giao cho người làm vườn chăm sóc, từ biệt và rời đi. Sau đó, Bồ-tát dùng bữa tại chỗ ở trong cung điện nhà vua: sự kính trọng và tôn quý dành cho Ngài thật là vô cùng.

Nhưng các triều thần không chịu nổi điều đó. "Nếu một người lính," họ nói, "mà được tôn trọng như vậy, thì hắn sẽ ăn ngồi rồi thế nào!" Họ kéo đến gặp vị thái tử: "Thưa điện hạ, nhà vua của chúng ta đang biệt đãi một ẩn sĩ quá mức! Ngài đã thấy gì ở người đó? Xin điện hạ hãy bạch với nhà vua." Vị thái tử đồng ý, và tất cả cùng vào bệ kiến nhà vua. Vị thái tử vái chào nhà vua, và đọc câu kệ đầu tiên:

"Tôi không thấy trí tuệ gì ở người đó;
Người đó không phải thân nhân, cũng chẳng phải bạn hữu của bệ hạ;
Tại sao ẩn sĩ này với ba mảnh gỗ,
Tiritavaccha, lại được thức ăn sang trọng như vậy?"

PTS vp Pali 317 Nhà vua lắng nghe. Rồi vua nói, hướng về con trai mình,

"Con có nhớ thuở nào ta xuất chinh đến biên cương, và ta bị thất bại trong chiến trận, mấy ngày không trở về không?"

"Con nhớ," con trai đáp.

"Người này đã cứu mạng ta," nhà vua nói; và Ngài kể lại mọi chuyện đã xảy ra. "Này con, nay khi người đã cứu ta này đang ở bên ta, ta không thể đền đáp ơn của người ấy, dù có cho người ấy cả vương quốc của ta." Và vua đọc hai câu kệ sau—

"Khi một mình, trong khu rừng khô khát ghê gớm,
Người ấy, và chỉ mình người ấy, đã cố giúp đỡ ta;
Trong cơn hoạn nạn người ấy đã đưa tay giúp ta;
Gần chết, người ấy đã kéo ta lên và cho ta đứng thẳng.

"Do công sức của người ấy một mình mà ta trở vềTừ miệng của thần Chết trở lại cõi người này.Đền ơn tấm thịnh tình như vậy là điều xứng đáng;Hãy dâng phẩm vật hào phóng, đừng tiếc tay."

PTS vp Pali 318 Nhà vua nói như vậy, như thể đang làm cho mặt trăng mọc lên giữa bầu trời; và khi đức hạnh của Bồ-tát được tuyên dương, thì đức hạnh của nhà vua cũng được biết đến khắp nơi; và nguồn cúng dường tăng lên, và sự kính trọng dành cho Ngài cũng vậy. Sau đó không phải thái tử, không phải triều thần, cũng không ai khác dám nói điều gì chống lại Ngài với nhà vua. Nhà vua sống trong lời giáo huấn của Bồ-tát; và vua làm phước bố thí và hành thiện, cuối cùng ra đi để gia nhập các đoàn chư thiên. Còn Bồ-tát, sau khi tu tập các Pháp Toàn Thiện và các Định, đã được định phần ở cõi Phạm Thiên.

Bấy giờ Đức Thế Tôn thêm vào: "Người trí tuệ thời xưa cũng đã giúp đỡ người khác;" và sau khi kết thúc bài giảng như vậy, Ngài xác định Tiền Thân như sau: "Ānanda là nhà vua, và chính Ta là vị ẩn sĩ."

Jātaka, hay Chuyện Tiền Thân Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, do Nhà Xuất bản Đại học Cambridge ấn hành.

  • Quyển 1, Robert Chalmers dịch, 1895.
  • Quyển 2, W.H.D. Rouse dịch, 1895.
  • Quyển 3, H.T. Francis và R.A. Neil dịch, 1897.
  • Quyển 4, W.H.D. Rouse dịch, 1901.
  • Quyển 5, H.T. Francis dịch, 1905.
  • Quyển 6, E.B. Cowell và W.H.D. Rouse dịch, 1907.

Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Quý vị tự do sử dụng theo ý muốn.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, từ tháng 1 năm 2006 đến tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và các cộng tác viên khác. Trân trọng cảm ơn Sacred Texts Archive đã cung cấp những bản văn này dưới dạng kỹ thuật số.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Bhikkhu Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến