Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 253Jātaka Maṇikaṇṭha

Tên Pāli / Sanskrit:Maṇikaṇṭhajātaka

📖1,384 từ · ~6 phút đọc
2
Tóm tắt

"Thức ăn uống cao lương mỹ vị"—Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể lại khi Ngài đang trú tại điện thờ Aggālava, gần Āḷavī, liên quan đến các quy tắc xây dựng tăng phòng.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân Đức Phật

Quyển 3 Tikanipāta

253. Jātaka Maṇikaṇṭha

Maṇikaṇṭhajātaka

---

"Thức ăn thức uống phong phú..." — Câu chuyện này được Bậc Đạo Sư kể lại khi Ngài đang cư trú tại điện thờ Aggaḷava gần Āḷavī, về giới luật xây dựng tịnh xá.

Có một số Tỳ-khưu sống ở Āḷavī đang xin khắp nơi các vật liệu để xây nhà ở cho riêng mình. Họ không ngừng van nài và đòi hỏi: "Cho chúng tôi người giúp việc, cho chúng tôi người làm công việc tạp dịch," v.v. Mọi người đều khó chịu vì những lời cầu xin và thỉnh cầu này. Khó chịu đến mức khi nhìn thấy các Tỳ-khưu này, họ giật mình và chạy trốn.

Vị Trưởng lão Đại Kassapa khi ấy vào Āḷavī, đi khất thực trong làng. Người dân, khi nhìn thấy vị Trưởng lão, lại chạy trốn như trước. Sau giờ thọ thực, trở về từ vòng khất thực, Ngài triệu tập các Tỳ-khưu và hỏi: "Trước kia Āḷavī là nơi khất thực tốt; tại sao bây giờ lại khan hiếm vậy?" Họ kể cho Ngài nghe nguyên nhân.

Lúc bấy giờ Đức Phật đang cư trú tại điện thờ Aggaḷava. Vị Trưởng lão đến gặp Đức Phật và kể lại tất cả. Bậc Đạo Sư triệu tập các Tỳ-khưu về việc này. PTS vp Pali 283 "Ta nghe," Ngài nói, "rằng các ông đang xây dựng nhà ở và làm phiền mọi người để xin giúp đỡ. Điều này có đúng không?" Họ thừa nhận là đúng. Bậc Đạo Sư quở trách họ và nói thêm: "Ngay cả trong thế giới loài rắn, đầy ắp bảy bảo vật, kiểu cầu xin này cũng làm loài rắn khó chịu. Huống chi đối với loài người, từ đó để kiếm được một đồng xu cũng khó như lột da một hòn đá!" và Ngài kể câu chuyện thời xưa.

---

Thuở xưa, khi Brahmadatta trị vì ở Benares, Bồ-tát sinh ra là con của một người Bà-la-môn giàu có. Khi lớn đủ tuổi chạy chơi, mẹ của Ngài lại sinh thêm một vị hữu trí. Cả hai anh em khi trưởng thành đều quá đau lòng trước cái chết của cha mẹ đến nỗi họ trở thành ẩn sĩ và ở trong những túp lều lá họ tự dựng lên bên bờ sông Hằng. Người anh có am ở khúc thượng nguồn sông Hằng, người em ở khúc hạ lưu.

Một ngày kia, một Long Vương (tên là Maṇikaṇṭha, tức Ngọc Cổ) rời khỏi nơi cư trú của mình, hóa thân thành người, đi dọc bờ sông cho đến khi đến am thất của người em. Ông ta chào người em và ngồi xuống một bên. PTS vp En 198 Họ trò chuyện vui vẻ với nhau; và họ trở nên thân thiết đến mức không thể sống xa nhau được. Ngọc Cổ thường xuyên đến thăm người ẩn sĩ em, ngồi trò chuyện; và khi ra về, vì quá mến ông ta, Long Vương trở lại hình rắn, cuộn tròn quanh ẩn sĩ, ôm ấp ông ta, đặt chiếc đầu lớn lên đầu ông ta; nằm như vậy một lúc cho đến khi thỏa mãn tình cảm; rồi buông thân ẩn sĩ ra, chào tạm biệt và trở về nơi ở của mình. Vì sợ Long Vương, ẩn sĩ ngày càng gầy yếu; ông ta trở nên tiều tụy, mất màu da, vàng vọt hơn, và gân máu nổi rõ trên da.

Có một hôm, ông ta đến thăm anh. "Anh ơi," anh hỏi, "sao em gầy vậy? Sao em mất màu sắc? Sao em vàng vọt thế này, và sao gân máu nổi lên như vậy trên da em?"

Người em kể lại tất cả cho anh nghe.

"Thôi nào, hãy nói cho anh biết," anh hỏi, "em có muốn ông ta đến thăm hay không?" PTS vp Pali 284 "Không, em không muốn."

"Thế Long Vương đeo đồ trang sức gì khi đến thăm em?"

"Một viên ngọc quý!"

"Được rồi. Lần sau khi ông ta đến, trước khi ông ta kịp ngồi xuống, hãy xin ông ta viên ngọc. Thì ông ta sẽ ra về mà không quấn thân quanh em nữa. Ngày hôm sau, hãy đứng ở cửa am và xin khi ông ta đến đó; và ngày thứ ba, hãy xin ngay khi ông ta mới lên khỏi mặt sông. Ông ta sẽ không đến thăm em nữa."

Người em hứa sẽ làm vậy và trở về am của mình. Hôm sau, khi Long Vương đến, vừa đứng đó ẩn sĩ đã kêu lên: "Xin hãy cho tôi viên ngọc đẹp của ông!" Long Vương bỏ đi ngay mà không ngồi xuống. Ngày kế tiếp, ẩn sĩ đứng ở cửa am và khi Long Vương đến liền gọi: "Hôm qua ông không chịu cho tôi viên ngọc! Vậy hôm nay ông phải cho!" Và Long Vương trượt đi mà không vào am. Ngày thứ ba, ẩn sĩ gọi ngay khi Long Vương vừa ngoi lên khỏi mặt nước: "Đây là lần thứ ba tôi xin ông rồi: nào, hãy cho tôi viên ngọc này!" Và Long Vương, nói từ chỗ của mình dưới nước, từ chối trong hai kệ ngôn:

> "Thức ăn thức uống ngon lành tôi có thể có được dư dả
> Nhờ viên ngọc đẹp mà ông thèm muốn:
> Ông đòi quá nhiều; tôi không cho viên ngọc;
> Và sẽ không đến thăm ông khi nào tôi còn sống.
>
> "Như các chàng trai cầm gươm sẵn sàng trong tay,
> Ông khiến tôi sợ khi đòi viên ngọc của tôi,
> Ông đòi quá nhiều—tôi không cho viên ngọc,
> Và sẽ không đến thăm ông khi nào tôi còn sống!" PTS vp En 199

PTS vp Pali 285 Nói những lời đó, Long Vương lặn xuống nước và trở về nơi của mình, không bao giờ trở lại.

Rồi người ẩn sĩ, không còn thấy bóng Long Vương đẹp đẽ của mình, ngày càng gầy yếu hơn; ông ta trở nên tiều tụy hơn, mất màu da tệ hơn trước, và vàng vọt hơn, gân máu nổi dày hơn trên da!

Người anh nghĩ bụng muốn đến thăm xem em mình ra sao. Ông đến thăm và thấy em vàng hơn trước.

"Ủa, sao vậy? Tệ hơn trước rồi!" ông nói.

Em đáp: "Vì tôi không còn gặp Long Vương đẹp đẽ của tôi nữa!"

"Người ẩn sĩ này," người anh nghĩ khi nghe câu trả lời, "không thể sống thiếu Long Vương của mình;" và ông đọc kệ ngôn thứ ba:

> "Đừng làm phiền người mà tình yêu của ông trân quý,
> Vì cầu xin khiến ông trở nên đáng ghét trong mắt người ấy.
> Vị Bà-la-môn đã cầu xin viên ngọc của Long Vương đến nỗi
> Ông ta biến mất và không bao giờ trở lại."

Rồi ông khuyên em đừng đau khổ, và với lời an ủi đó, ông rời đi trở về am của mình. Sau đó PTS vp Pali 286 hai anh em tu tập Ngũ Căn và các Thiền Chứng, và trở nên định sẵn sẽ tái sinh vào cõi Phạm thiên.

---

Bậc Đạo Sư nói thêm: "Vậy đó, này các Tỳ-khưu, ngay cả trong thế giới loài rắn, nơi có đầy đủ bảy bảo vật, cầu xin cũng bị loài rắn không ưa: huống chi đối với loài người!" Và sau khi dạy bài học này, Ngài nhận diện Kiếp Sinh: "Vào thời đó, Ānanda là người em, còn người anh chính là bản thân Ta."

---

Jātaka, hay Chuyện Tiền Thân Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, xuất bản bởi The Cambridge University Press.

  • Quyển 1, Robert Chalmers dịch, 1895.
  • Quyển 2, W.H.D. Rouse dịch, 1895.
  • Quyển 3, H.T. Francis và R.A. Neil dịch, 1897.
  • Quyển 4, W.H.D. Rouse dịch, 1901.
  • Quyển 5, H.T. Francis dịch, 1905.
  • Quyển 6, E.B. Cowell và W.H.D. Rouse dịch, 1907.

Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006–tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và những người khác.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-khưu Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến