Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 251Saṅkapparāga Jātaka — Chuyện Tiền Thân Về Tư Duy Ái Dục

Tên Pāli / Sanskrit:Saṅkapparāgajātaka

📖2,356 từ · ~9 phút đọc
2
Tóm tắt

"Không một cung thủ nào"—Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể lại tại Jetavana, liên quan đến một vị Tỳ-kheo thối thất đạo tâm.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Những Câu Chuyện Về Các Tiền Thân Của Đức Phật

Quyển 3 Tikanipāta

251. Saṅkapparāga Jātaka

PTS vp Pali 271 "Không có cung thủ nào," v.v. — Câu chuyện này Bậc Đạo Sư kể tại Jetavana, về một vị tỷ-kheo thoái tâm.

Một vị quý tộc trẻ, sống ở Sāvatthī, đã thành tâm với giáo lý về Tam Bảo và gia nhập cuộc sống tu hành. Nhưng một ngày, khi đi khất thực ở Sāvatthī, anh ta tình cờ nhìn thấy một người phụ nữ ăn mặc lộng lẫy. Đam mê nổi lên trong tim anh; anh trở nên u sầu.

Khi các thầy, cố vấn và bạn bè nhìn thấy anh như vậy, họ liền hỏi nguyên nhân. Thấy rằng anh ta muốn trở lại đời thế tục, họ nói với nhau: "Bạn ơi, Bậc Đạo Sư có thể xóa bỏ tội lỗi của những ai bị dày vò bởi tội lỗi của dục vọng và những tội tương tự, và bằng cách tuyên bố Tứ Thánh Đế, Ngài đưa họ đến hưởng thụ quả vị thánh. Nào, hãy dẫn anh đến Bậc Đạo Sư." Vậy là họ dẫn anh đến Bậc Đạo Sư.

Ngài hỏi: "Tại sao các tỷ-kheo lại dẫn vị này đến chống lại ý muốn của anh ta?" Họ cho Ngài biết lý do. "Đây có đúng không," Ngài hỏi, "rằng anh là người thoái tâm như họ nói?" Anh ta thừa nhận. Bậc Đạo Sư hỏi lý do, và anh ta kể lại những gì đã xảy ra.

Ngài nói: "Ôi tỷ-kheo, trước đây những người phụ nữ này đã gây ra bất tịnh ngay cả trong những sinh linh trong sạch mà tội lỗi đã bị ngăn chặn bởi năng lực của định xuất thần. Lẽ nào những người phàm phu như anh không bị ô nhiễm khi ngay cả những người trong sạch cũng bị ô nhiễm? Ngay cả những người đức hạnh cao nhất cũng đã rơi vào sự mất danh dự; huống hồ là người chưa thanh tịnh!

Liệu gió rung núi Tu-di không cũng khuấy động một đống lá khô hay sao? PTS vp Pali 272 Tội này đã làm khổ ngay cả vị Phật Giác Ngộ khi ngồi trên ngai của mình, và nó không thể làm khổ một người như anh sao?" và theo lời thỉnh cầu của họ, Ngài kể một câu chuyện thời xưa.

Ngày xưa, khi Brahmadatta làm vua ở Benares, Bồ-tát được sinh ra trong một gia đình bà-la-môn giàu có, gia sản lên đến tám trăm triệu đồng tiền. Ngài lớn lên, được giáo dục tại Takkasila, và trở về Benares. Ở đó ngài lấy vợ; và khi cha mẹ qua đời, ngài thực hiện lễ tang của họ. PTS vp En 190 Rồi khi ngài xem xét tài sản của mình, ngài suy nghĩ: "Tài sản vẫn còn đây, nhưng những người đã tích lũy nó thì không còn nữa!" Ngài bị xúc động sâu sắc, và mồ hôi tuôn ra từ khắp cơ thể.

Ngài sống lâu ở nhà, bố thí rộng rãi; ngài chinh phục các đam mê; rồi rời bỏ những người thân đang khóc lóc, ngài vào Himalaya, nơi ngài xây một am thất ở một chỗ đẹp đẽ, và sống bằng hoa quả dại và rễ cây trong rừng, tìm kiếm trong những chuyến đi lại. Chẳng bao lâu ngài tu tập các Căn và các Thành tựu, và sống một thời trong hỷ lạc thiền định.

Rồi một ý nghĩ đến với ngài. Ngài sẽ đến giữa loài người, để mua muối và đồ gia vị; như vậy cơ thể ngài sẽ cường tráng, và ngài sẽ đi bộ khắp nơi. "Tất cả những ai bố thí cho một người đức hạnh như ta," ngài nghĩ, "và chào hỏi ta với sự kính trọng, sẽ lấp đầy cõi thiên đường." Vậy là ngài từ Himalaya xuống, và dần dần, khi bộ hành tiếp tục, ngài đến Benares lúc mặt trời lặn. Ngài nhìn quanh tìm chỗ nghỉ, và thấy vườn ngự. "Đây," ngài nói, "là chỗ phù hợp để nghỉ ngơi; ta sẽ trú ở đây." Vậy là ngài vào vườn, ngồi dưới một gốc cây, và trải qua đêm trong hỷ lạc thiền định.

Hôm sau, vào buổi sáng, sau khi lo xong việc vệ sinh, chỉnh tề mái tóc bện, tấm da và y vỏ cây, ngài cầm bát khất thực; tất cả các căn của ngài đều an tĩnh, kiêu ngạo được lắng dịu, ngài giữ dáng điệu cao quý, không nhìn xa hơn một khoảng cày phía trước; bởi ánh hào quang từ hình thức của ngài, hoàn hảo mọi phương diện, PTS vp Pali 273 ngài thu hút mắt của thế gian. Theo cách này ngài vào thành, và xin ăn từ cửa nhà này đến cửa nhà khác, cho đến khi đến hoàng cung.

Lúc bấy giờ nhà vua đang trên sân thượng, đi qua lại. Ngài trông thấy Bồ-tát qua cửa sổ. Ngài hài lòng với phong thái của ngài; "Nếu," ngài nghĩ, "có điều gì đó như sự an tịnh hoàn hảo, thì nó phải được tìm thấy ở người này." Vậy là ngài sai một cận thần, bảo đi đón vị ẩn sĩ. Người đó đến với lời chào và cầm bát của Bồ-tát, nói: "Nhà vua sai gọi Ngài, thưa Ngài."

"Người bạn cao quý ơi," Bồ-tát đáp, "nhà vua không biết ta!"

"Vậy thì, thưa Ngài, xin hãy ở lại đây cho đến khi tôi trở lại." Vậy là anh ta cho nhà vua biết điều vị ẩn sĩ đã nói. Rồi nhà vua nói: "Ta không có vị cố vấn thân cận: hãy đi, đón ngài về;" và đồng thời ra hiệu qua cửa sổ, gọi ngài: "Này, vào đây, thưa Ngài!"

Bồ-tát giao bát khất thực cho cận thần và bước lên sân thượng. Rồi nhà vua chào hỏi ngài, và đặt ngài lên ghế của vua, và dâng cúng tất cả các món ăn thức uống được chuẩn bị cho chính mình. Khi ngài đã dùng xong, nhà vua đặt ra một vài câu hỏi; và những câu trả lời PTS vp En 191 được đưa ra làm ngài càng lúc càng hài lòng hơn, đến nỗi với một lời kính trọng, ngài hỏi:

"Thưa Ngài, Ngài sống ở đâu? Ngài đến đây từ đâu?"

"Ta sống ở Himalaya, bệ hạ hùng mạnh, và từ Himalaya ta đã đến đây."

Nhà vua hỏi: "Tại sao?"

"Vào mùa mưa, ôi vua, chúng ta phải tìm một chỗ trú cố định."

"Vậy," nhà vua nói, "hãy ở lại đây trong vườn ngự của trẫm, Ngài sẽ không thiếu bốn vật dụng cần thiết; và trẫm sẽ tích lũy công đức dẫn đến thiên đường."

Lời hứa được đưa ra; và sau khi dùng bữa, ngài cùng với Bồ-tát vào vườn, và ra lệnh xây một am thất bằng lá ở đó. Một con đường dạo bộ có mái che đã được làm, và tất cả các nơi sinh hoạt ban đêm và ban ngày đã được chuẩn bị cho ngài. Tất cả vật dụng và đồ dùng cho cuộc sống của một ẩn sĩ đã được mang đến, và sau khi bảo ngài hãy thoải mái, ngài giao ngài cho người giữ vườn chăm sóc.

Mười hai năm sau đó, PTS vp Pali 274 Bồ-tát trú ở đó.

Có một lần, một vùng biên cương nổi loạn. Nhà vua muốn tự mình đi dẹp loạn. Gọi hoàng hậu lại, ngài nói: "Khanh ơi, hoặc khanh hoặc trẫm phải ở lại."

"Tại sao Ngài lại nói vậy, bệ hạ?" nàng hỏi.

"Vì vị ẩn sĩ đức hạnh."

"Thần thiếp sẽ không xao nhãng ngài," nàng nói. "Đây là phần của thần thiếp để chăm sóc Đức Phụ; Ngài hãy ra đi không lo lắng."

Vậy là nhà vua ra đi; và rồi hoàng hậu chăm chú phục vụ Bồ-tát.

Lúc bấy giờ nhà vua đã đi; đến mùa cố định Bồ-tát đến.

Khi vừa ý, ngài sẽ đến hoàng cung và dùng bữa ở đó. Một ngày, ngài trú lại lâu. Hoàng hậu đã chuẩn bị sẵn thức ăn cho ngài; nàng tắm gội và trang điểm, chuẩn bị một chiếc ghế thấp; khoác một tấm y sạch một cách lỏng lẻo, nàng nằm nghỉ, chờ Bồ-tát đến.

Lúc bấy giờ Bồ-tát chú ý đến giờ giấc; ngài cầm bát khất thực, và bay qua không trung, đến bên cửa sổ lớn. Nàng nghe tiếng xào xạc của y vỏ cây của ngài, và khi đứng dậy vội vàng, chiếc y vàng của nàng tuột xuống. Bồ-tát để cho cảnh tượng khác thường này thấm vào các giác quan, và nhìn nàng với ham muốn.

Rồi đam mê xấu xa đã được lắng dịu bởi năng lực của định xuất thần, nổi lên như một con rắn hổ mang dựng mang khi trỗi dậy từ cái rọ mà nó bị nhốt trong: ngài như một cây sữa bị rìu đốn. Khi đam mê của ngài tăng lên, sự an tịnh xuất thần của ngài sụp đổ, các giác quan ngài mất đi sự thanh tịnh; ngài như một con quạ gãy cánh. Ngài không thể ngồi xuống như trước và dùng bữa; dù nàng xin ngài ngồi xuống, ngài cũng không thể.

Vậy là hoàng hậu đặt tất cả thức ăn vào bát khất thực của ngài; PTS vp Pali 275 nhưng hôm đó ngài không thể làm như ngài vẫn thường làm PTS vp En 192 sau bữa ăn, và ra ngoài cửa sổ qua không trung; mang thức ăn theo, ngài đi xuống cầu thang lớn, và vào trong rừng cây.

Khi đến đó, ngài không thể ăn gì. Ngài đặt thức ăn xuống dưới chân chiếc ghế của mình, thầm thì: "Người phụ nữ gì thế! Đôi tay đẹp đẽ, đôi chân đẹp đẽ! Vòng eo ấy, đôi đùi ấy!" v.v. Vậy là ngài nằm đó bảy ngày. Thức ăn đều thối rữa, và được bao phủ bởi một đám ruồi đen.

Rồi nhà vua trở về, đã dẹp yên biên cương. Thành phố được trang hoàng rực rỡ; ngài đi vòng quanh trong đoàn rước trang trọng, luôn giữ nó bên phải, rồi tiến vào hoàng cung. Tiếp theo ngài vào rừng cây, mong muốn được gặp Bồ-tát. Ngài để ý thấy sự bụi bặm và rác rưởi xung quanh am thất, và nghĩ ngài hẳn đã đi mất, ngài đẩy cửa am thất ra và bước vào. Ẩn sĩ nằm đó. "Chắc ngài đang bệnh," vua nghĩ. Vậy là ngài cho dọn bỏ thức ăn thối rữa, và sắp xếp am thất ngăn nắp lại, rồi hỏi:

"Thưa Ngài, có chuyện gì vậy?"

"Tâu bệ hạ, thần bị thương!"

Bấy giờ nhà vua nghĩ: "Chắc kẻ thù của trẫm đã làm điều này. Chúng không có cơ hội với trẫm, vì vậy chúng quyết định làm hại điều trẫm yêu quý." Vậy là ngài lật người ngài ra, tìm vết thương; nhưng không thấy vết thương nào. Rồi ngài hỏi: "Thưa Ngài, vết thương ở đâu?"

"Không ai làm hại ta," Bồ-tát đáp, "chỉ là ta đã làm tổn thương trái tim mình." Và ngài đứng dậy, ngồi trên một chiếc ghế, và đọc những đoạn kệ sau:

"Không có cung thủ nào giương tên lên tai

Để gây nên vết thương này; không có mũi tên nào có lông vũ ở đây

Nhổ từ cánh chim công, được trang trí lộng lẫy

Bởi những người thợ làm tên khéo léo — Chính trái tim ta này,

"Từng được thanh tịnh khỏi đam mê bởi ý chí kiên định của ta,

Và trí tuệ sắc bén, đã gây nên vết thương qua ham muốn

Đang đe dọa giết ta một cách công bằng,

Và cháy đốt qua mọi chi trong ta như lửa.

PTS vp Pali 276 "Ta không thấy vết thương nào từ đó máu có thể chảy ra:

Chính sự ngu si của trái tim ta là điều đâm xuyên như vậy."

Vậy là Bồ-tát giải thích sự tình cho nhà vua qua ba đoạn kệ này. Rồi ngài yêu cầu nhà vua rời khỏi am thất, và dẫn vào trong trạng thái thiền huyền bí; và nhờ vậy ngài khôi phục được định xuất thần đã bị gián đoạn. Rồi ngài rời am thất, và ngồi trong không trung, khuyên bảo nhà vua. Sau đó ngài tuyên bố rằng ngài sẽ lên Himalaya. Nhà vua muốn can ngăn ngài, nhưng ngài nói:

"Ôi vua, hãy xem sự nhục nhã nào đã xảy đến cho ta khi ta trú ở đây! Ta không thể sống ở đây nữa." Và dù nhà vua khẩn cầu, ngài bay lên không trung và ra đi đến Himalaya, nơi ngài trú suốt cuộc đời mình, rồi đến Phạm Thiên giới.

PTS vp Pali 277 Khi Bậc Đạo Sư đã kết thúc bài giảng này, Ngài tuyên bố Tứ Thánh Đế và xác nhận Chuyện Tiền Thân — vào cuối phần Tứ Thánh Đế, vị tỷ-kheo thoái tâm trở thành một bậc Thánh, và một số vào Đạo Thứ Nhất, một số vào Đạo Thứ Hai, và một số vào Đạo Thứ Ba — "Ānanda là nhà vua, và Ta là vị ẩn sĩ."

Jātaka, hay Những Câu Chuyện Về Các Tiền Thân Của Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, xuất bản bởi Nhà Xuất Bản Đại Học Cambridge.

Quyển 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.

Quyển 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.

Quyển 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.

Quyển 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.

Quyển 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.

Quyển 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Những bản dịch này thuộc miền công cộng. Bạn tự do làm bất cứ điều gì với chúng.

Được scan, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006 – tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và những người khác.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến