Ja 228Kamanita Jātaka
Tên Pāli / Sanskrit:Kāmanītajātaka
"Ba tòa thành lũy" — Câu chuyện này Đức Bổn Sư kể tại Jetavana, nhân duyên từ một vị Bà-la-môn tên Kamanita. Hoàn cảnh dẫn khởi sẽ được giải thích trong Quyển Mười Hai và bản Kama Jātaka.
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
Chuyện Tiền Thân Đức Phật
Quyển 2 Dukanipāta
228. Kamanita Jātaka
"Ba thành trì kiên cố," v.v. — Câu chuyện này được Đức Thế Tôn thuyết tại Jetavana nhân câu chuyện về một vị Bà-la-môn tên Kamanita. Hoàn cảnh sẽ được trình bày trong Quyển Mười Hai, mục Kama Jātaka.
[Vua thành Benares có hai hoàng tử.] Trong hai hoàng tử ấy, người anh lên Benares kế thừa ngôi vua; người em trở thành phó vương. Vị vua ấy hoàn toàn bị chinh phục bởi lòng tham muốn tài vật, nhục dục ái ân và sự hám lợi.
Lúc bấy giờ, Bodhisatta là Sakka, thiên vương của chư thiên. Khi Ngài dõi nhìn xuống cõi Ấn Độ và thấy rõ vị vua này đang chìm đắm trong những tham muốn ấy, Ngài tự nhủ: "Ta sẽ cảnh giới vị vua đó, khiến ông phải biết hổ thẹn." Thế là Ngài hoá thân thành một thiếu niên Bà-la-môn, đến gặp nhà vua và nhìn thẳng vào mặt ông.
"Gã trẻ này muốn gì vậy?" nhà vua hỏi.
Vị ấy đáp: "Tâu Đại vương, thần thấy có ba thành trì thịnh vượng, phong nhiêu, với voi ngựa, xa mã và bộ binh đầy đủ, tràn ngập châu báu vàng ròng. Những thành ấy có thể chinh phục bằng một đạo quân rất nhỏ. Thần đến đây xin dâng lên Đại vương điều đó!"
"Khi nào chúng ta khởi hành, hỡi chàng trẻ?" nhà vua hỏi.
"Tâu, ngày mai."
"Vậy hãy lui đi; sáng sớm ngày mai ngươi sẽ lên đường."
"Kính vâng, tâu Đại vương: xin hãy mau chuẩn bị binh mã!" Nói xong PTS vp Pali 213, Sakka trở về cõi trời của mình.
Ngày hôm sau, nhà vua truyền đánh trống tập họp, chỉnh bị quân đội; rồi triệu tập các quan hầu cận, phán rằng:
"Hôm qua có một thiếu niên Bà-la-môn đến hứa sẽ chinh phục cho ta ba thành: Uttarapancala, Indapatta và Kekaka. Vậy nay ta sẽ cùng người ấy đi hạ những thành đó. Hãy triệu ông ta đến ngay!"
"Tâu Bệ hạ, Người đã ban cho ông ta nơi nào để trú ngụ?"
"Ta chưa ban cho ông ta chỗ nào cả," nhà vua nói.
"Vậy Bệ hạ có ban cho ông ta tiền để trọ không?" PTS vp En 150
"Không, ta cũng chưa cấp điều đó."
"Vậy làm sao chúng thần tìm được ông ta?"
"Hãy tìm khắp đường phố trong kinh thành," nhà vua phán.
Họ đã tìm nhưng không thấy. Rồi họ vào hầu nhà vua và tâu: "Tâu Bệ hạ, chúng thần không thể tìm thấy ông ta đâu cả."
Một nỗi buồn thảm khổ sâu xa đổ xuống nhà vua. "Vinh quang nào đã bị cướp mất khỏi tay ta!" ông than thở; lòng ông nóng bừng, khí huyết rối loạn, bệnh lỵ phát sinh, các thái y đều không sao chữa được.
Sau ba bốn ngày, Sakka xuất định chiêm nghiệm và hay biết căn bệnh của nhà vua. Ngài tự nghĩ: "Ta sẽ chữa lành cho ông ấy." Rồi hoá thân thành một vị Bà-la-môn, Ngài đến đứng trước cổng cung. Ngài nhắn tin vào tâu nhà vua: "Có một Bà-la-môn thầy thuốc đến xin chữa bệnh cho Bệ hạ."
Nghe tin ấy, nhà vua đáp: "Tất cả thái y danh tiếng trong cung đã không chữa được bệnh ta. Hãy tặng ông ta một khoản tiền và để ông lui đi." Sakka nghe vậy liền đáp lại: "Tôi không cần tiền trọ, cũng không nhận thù lao chữa bệnh. Tôi sẽ chữa lành cho Người: xin để nhà vua tiếp kiến tôi!"
"Vậy hãy để ông ta vào," nhà vua nói khi nhận được tin đó. Sakka bước vào, chúc thắng lợi cho nhà vua rồi ngồi sang một bên. "Ngài sẽ chữa bệnh cho ta chăng?" nhà vua hỏi.
Ngài đáp: "Thưa đúng vậy, tâu Đại vương."
"Vậy hãy chữa ta!" nhà vua nói.
"Kính vâng, tâu Bệ hạ. Xin hãy cho ta biết các triệu chứng bệnh và bệnh phát sinh như thế nào — Bệ hạ đã ăn uống hay nghe thấy điều gì mà dẫn đến bệnh này?"
"Thưa vị bằng hữu, bệnh của ta phát sinh từ một điều ta đã nghe."
Vị kia hỏi: "Đó là điều gì vậy?" PTS vp Pali 214
"Thưa ngài, có một thiếu niên Bà-la-môn đến hứa sẽ chinh phục và dâng cho ta quyền lực trên ba thành. Thế mà ta chẳng cho ông ta nơi trú ngụ, cũng không cấp tiền để trọ. Chắc ông ta đã tức giận mà bỏ đi theo vị vua khác rồi. Khi ta nghĩ đến việc vinh quang to lớn như vậy đã bị cướp mất, căn bệnh này bèn phát khởi. Nếu có thể, xin hãy chữa cho ta khỏi bệnh vì lòng tham lam này đã gây ra." Để làm rõ điều đó, nhà vua đọc lên kệ đầu tiên:
Bấy giờ Sakka nói: "Tâu Đại vương, bằng thuốc từ thảo dược và rễ cây, Người không thể PTS vp En 151 chữa khỏi, mà phải chữa bằng thuốc của trí tuệ." Rồi Ngài đọc lên kệ thứ hai như sau: PTS vp Pali 215
Đại Sĩ giảng giải ý nghĩa như vậy rồi thêm rằng: "Tâu Đại vương, dù Người có chiếm được ba thành đó, rồi cai trị cả bốn thành, liệu Người có thể mặc bốn đôi áo cùng một lúc, ăn từ bốn cái bát vàng cùng một lúc, nằm trên bốn long sàng cùng một lúc không? Tâu Đại vương, không nên để lòng tham chinh phục mình. Tham dục là gốc rễ của mọi điều bất thiện; khi tham dục tăng trưởng, kẻ ôm ấp nó sẽ bị ném vào tám đại địa ngục, mười sáu tiểu địa ngục và đủ mọi loại khổ đau." Như vậy Đại Sĩ khiến nhà vua kinh sợ trước hiểm hoạ của địa ngục và khổ đau, và thuyết giảng cho ông.
Nhà vua, nhờ lắng nghe bài pháp thoại ấy, thoát khỏi nỗi đau khổ trong lòng, và chỉ trong khoảnh khắc, căn bệnh của ông được chữa lành. PTS vp Pali 216 Sau khi ban giáo huấn và giúp nhà vua an trú trong giới hạnh, Sakka trở về cõi chư thiên. Từ đó về sau, nhà vua bố thí và làm các điều lành, rồi ra đi thọ nhận quả báo xứng đáng với nghiệp đã tạo.
Khi bài pháp thoại này kết thúc, Đức Thế Tôn xác định các nhân vật trong tiền thân: "Vị Tỳ-khưu bị dục vọng trói buộc lúc đó là nhà vua; còn chính Ta là Sakka."
---
Jātaka, hay Chuyện Tiền Thân Đức Phật, do E.B. Cowell chủ biên, Nhà xuất bản Đại học Cambridge ấn hành.
- Quyển 1, Robert Chalmers dịch, 1895.
- Quyển 2, W.H.D. Rouse dịch, 1895.
- Quyển 3, H.T. Francis và R.A. Neil dịch, 1897.
- Quyển 4, W.H.D. Rouse dịch, 1901.
- Quyển 5, H.T. Francis dịch, 1905.
- Quyển 6, E.B. Cowell và W.H.D. Rouse dịch, 1907.
Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Quý vị có toàn quyền sử dụng theo ý muốn.
Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng Giêng 2006 – tháng Hai 2010, bởi John Bruno Hare và nhiều cộng sự. Xin tri ân Sacred Texts Archive đã cung cấp các văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.
Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Bhikkhu Sujato.
Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.
🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.