Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 212Ucchittha-Bhatta Jātaka

Tên Pāli / Sanskrit:Ucchiṭṭhabhattajātaka

📖885 từ · ~4 phút đọc
2
Tóm tắt

"Nóng bừng từ trên xuống" — Đây là câu chuyện Đức Bổn Sư kể khi đang trú tại Jetavana, nhân duyên từ một vị Tỳ-kheo còn vương vấn người vợ đã mất. Vị Tỳ-kheo ấy được Đức Bổn Sư hỏi rằng có thật sự đang tương tư chăng. Ông thưa rằng đúng vậy. "Vì ai?" là câu hỏi tiếp theo. "Vì người vợ cũ của con." Đức Bổn Sư dạy: "Này Tỳ-kheo, chính người đàn bà ấy thuở xưa đã gian ác, bắt thầy ăn đồ thừa của tình nhân nàng." Rồi Ngài kể câu chuyện quá khứ này.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân Đức Phật

Quyển 2 Dukanipāta

212. Ucchittha-Bhatta Jātaka

"Nóng bên trên," v.v. Đây là câu chuyện Bậc Đạo Sư kể khi ở Jetavana, về một người vương vấn người vợ đã mất. Vị Tỳ-kheo này được Bậc Đạo Sư hỏi liệu có thực sự đang tương tư không. Vâng, vị ấy nói đúng vậy. "Vì ai?" là câu hỏi tiếp theo. "Vì người vợ cũ của con." "Này Tỳ-kheo," Bậc Đạo Sư nói, "người đàn bà này trong thời trước cũng đã xấu xa, và đã bắt ông ăn thức ăn thừa của tình nhân bà ta." Rồi Ngài kể câu chuyện xưa.

Ngày xưa, khi Brahmadatta trị vì ở Benares, Bồ-tát sinh ra trong một gia đình nghệ sĩ xiếc nghèo sống bằng nghề ăn xin. Khi lớn lên, Ngài thiếu thốn và lam lũ, và sống bằng việc ăn xin.

Lúc đó, trong một làng ở Kasi, có một vị Bà-la-môn với người vợ xấu xa, tàn ác, và cư xử sai trái. PTS vp Pali 168 Và việc xảy ra là người chồng ra ngoài một hôm vì công việc, và người tình của bà ta nhân cơ hội đến thăm nhà. Sau khi bà ta đón tiếp ông ta, ông ta nói: "Ta sẽ ăn một chút trước khi đi." Vì vậy bà ta nấu cơm, dọn lên cơm nóng với nước dùng và cà-ri, và mời ông ta ăn: bà ta đứng ở cửa canh chừng chồng về. Và trong khi người tình đang ăn, Bồ-tát đứng chờ để xin một miếng.

Đúng lúc đó người chồng Bà-la-môn quay mặt về nhà. Vợ ông ta trông thấy ông đang đến gần, liền chạy vào nhanh chóng — "Dậy đi, chồng ta về rồi!" — và bà ta bắt người tình xuống kho. Người chồng vào; bà ta đưa cho ông một chỗ ngồi và nước rửa tay; và trên phần cơm nguội còn lại từ người kia, bà ta đổ thêm cơm nóng lên, rồi đặt trước mặt ông. Ông cho tay vào đống cơm, và cảm thấy nó nóng bên trên lạnh bên dưới. "Đây chắc là thức ăn thừa của người nào đó," ông nghĩ; và vì vậy ông hỏi người đàn bà về điều đó bằng câu kệ đầu tiên:

"Nóng bên trên, lạnh bên dưới, có vẻ không giống nhau:
Ta muốn hỏi nàng về lý do: thôi nào, phu nhân, hãy trả lời ta!"

Ông hỏi đi hỏi lại, nhưng bà ta, sợ bị phát hiện hành động của mình, im lặng không nói. Bấy giờ một ý nghĩ nảy ra trong đầu người nhào lộn của ta: "Người đàn ông dưới kho chắc là tình nhân, và đây là chủ nhà: vợ không nói gì vì sợ bị phát giác. Hay đó! Ta sẽ tiết lộ toàn bộ sự việc, và cho vị Bà-la-môn biết có một người đàn ông đang trốn trong kho của ông ta!" PTS vp Pali 169 Và Ngài nói PTS vp En 118 cho ông biết toàn bộ sự tình: rằng khi ông ra khỏi nhà, một người khác đã vào, và đã làm điều xấu; rằng người đó đã ăn phần cơm đầu, và vợ ông đã đứng ở cửa canh đường; và rằng người kia đã bị giấu trong kho. Và khi nói như vậy, Ngài đọc câu kệ thứ hai:

"Con là người nhào lộn, thưa Ngài: con đến đây với ý định xin ăn;
Người mà ngài tìm đang trốn trong kho, nơi hắn đã chui vào!"

Túm lấy búi tóc, ông kéo người đàn ông ra khỏi kho, và bảo hắn cẩn thận đừng làm như vậy nữa; rồi ông ta rời đi. Người chồng Bà-la-môn mắng nhiếc và đánh cả hai, và dạy cho họ một bài học khiến họ không có khả năng làm như vậy nữa. Về sau ông qua đời để thọ phần tùy theo nghiệp của mình.

Khi Bậc Đạo Sư kết thúc bài giảng, Ngài công bố Tứ Thánh Đế và nhận diện Bổn Sinh — vào cuối lúc công bố Tứ Thánh Đế, vị Tỳ-kheo đang tương tư đã chứng đắc quả vị Sơ Đạo — "Người vợ cũ của ông lúc bấy giờ là vợ vị Bà-la-môn; bạn, vị Tỳ-kheo đang tương tư, là chính người chồng Bà-la-môn; và Ta là người nhào lộn."

Chuyện Tiền Thân, hay Các Câu Chuyện Về Những Kiếp Trước Của Đức Phật, do E.B. Cowell chủ biên, Nhà xuất bản Đại học Cambridge ấn hành.

  • Quyển 1, do Robert Chalmers dịch, 1895.
  • Quyển 2, do W.H.D. Rouse dịch, 1895.
  • Quyển 3, do H.T. Francis và R.A. Neil dịch, 1897.
  • Quyển 4, do W.H.D. Rouse dịch, 1901.
  • Quyển 5, do H.T. Francis dịch, 1905.
  • Quyển 6, do E.B. Cowell và W.H.D. Rouse dịch, 1907.

Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006 – tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và các cộng sự. Cảm ơn Sacred Texts Archive đã làm cho các văn bản này có thể truy cập dưới dạng kỹ thuật số.

Được chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến