Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 201Bandhanāgāra Jātaka – Chuyện Ngục Tù và Những Xiềng Xích

Tên Pāli / Sanskrit:Bandhanāgārajātaka

📖967 từ · ~4 phút đọc
2
Tóm tắt

"Không phải xiềng xích sắt"—Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể trong thời gian trú tại Jetavana, về ngục tù trói buộc.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân của Đức Phật

Quyển 2 – Dukanipāta

201. Bandhanāgāra Jātaka

PTS vp Pali 139 "Không phải xích sắt," v.v. — Câu chuyện này Đức Thế Tôn kể khi đang trú tại Jetavana, liên quan đến nhà tù.

Vào thời điểm câu chuyện này xảy ra, chúng ta được biết rằng một băng đảng trộm cướp, cướp đường và kẻ giết người đã bị bắt và điệu ra trước mặt vua xứ Kosala. Nhà vua ra lệnh xiềng họ lại bằng dây xích, thừng và gông cùm. Ba mươi vị tỳ-kheo ở thôn quê, muốn đến bái kiến Đức Thế Tôn, đã đến thăm ngài và dâng lễ kính bái.

Ngày hôm sau, trong khi đi khất thực, họ đi ngang qua nhà tù và trông thấy những tên tội phạm bị trói chặt bằng xích và gông cùm, đang trong cảnh khổ cực. Họ không thể bẻ gãy xiềng xích mà trốn đi. Buổi chiều, sau khi từ vòng khất thực trở về, họ đến gặp Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, hôm nay trong lúc đi khất thực, chúng con thấy tại nhà tù có nhiều kẻ phạm pháp bị trói chặt bằng xích và gông cùm, đang trong cảnh cùng khổ.

Họ không thể bẻ gãy xiềng xích mà trốn thoát. Có loại xiềng xích nào mạnh hơn những thứ này không?"

Đức Thế Tôn đáp: "Thưa các Tỳ-kheo, đó đích thực là xiềng xích; nhưng xiềng xích gồm lòng tham tài sản, lúa thóc, con cái, vợ chồng và con cái — còn mạnh hơn chúng gấp trăm lần, thậm chí gấp nghìn lần. Thế mà ngay cả những xiềng xích khó bẻ gãy như thế, những bậc trí giả thuở xưa cũng đã bẻ gãy được, rồi đến Himālaya xuất gia ẩn tu." Sau đó Ngài kể một câu chuyện ngày xưa.

Thuở xưa, trong khi Brahmadatta trị vì tại Bārāṇasī, Bồ-tát được sinh ra trong một gia đình nghèo khó. Khi lớn lên, cha ngài qua đời. Ngài đi làm thuê kiếm tiền nuôi mẹ. Mẹ ngài, bất chấp ý muốn của ngài, đã cưới vợ cho ngài, và얼마 sau bà cũng qua đời. Vợ ngài mang thai. Không biết vợ đã mang thai, ngài nói với nàng: "Vợ ơi, em phải tự lo kiếm sống; còn anh sẽ xuất gia." Nàng nói: "Không được, vì em đang mang thai. Hãy đợi xem đứa con sinh ra là ai, rồi hẵng đi xuất gia." Ngài đồng ý. PTS vp Pali 140 Vậy khi nàng hạ sinh, ngài nói: "Này vợ, em đã sinh xong rồi, anh phải đi tu rồi." "Hãy đợi," nàng nói, "cho đến khi đứa con cai sữa đã." Và sau đó nàng lại mang thai lần nữa.

"Nếu ta cứ chiều theo lời nàng," Bồ-tát nghĩ, "ta sẽ chẳng bao giờ ra đi được. Ta sẽ bỏ trốn mà không nói một lời với nàng, rồi đi tu." Vậy ngài chẳng báo cho nàng biết, mà đứng dậy vào đêm khuya bỏ trốn. PTS vp En 98 Lính canh thành bắt ngài lại. "Ta có mẹ già phải phụng dưỡng," ngài nói — "thả ta ra!" — và ngài khiến họ thả ngài ra. Sau khi dừng lại ở một nơi nào đó, ngài qua cửa thành chính rồi tìm đường đến Himālaya, nơi ngài sống đời ẩn tu; và ngài làm cho Thần Thông và các Thiền Chứng phát sinh trong mình, khi ngài trú trong trạng thái hỷ lạc thiền định. Ngụ tại đó, ngài hoan hỷ thốt lên: "Sợi dây trói buộc vợ con, sợi dây đam mê — khó bẻ gãy dường ấy — đã bị cắt đứt!" và ngài đọc những vần kệ sau:

"Không phải xiềng sắt — bậc trí đã nói rõ —Không phải thừng hay song tre vững chắc,Bằng đam mê và tình yêu con cái, vợ chồng,Trang sức quý báu và đôi bông tai vàng óng.

"Những xiềng xích nặng nề này — ai có thể tìm ra
Sự giải thoát khỏi những thứ đó? — đây là những trói buộc ràng rịt:
Những điều này nếu bậc trí có thể bẻ gãy, thì họ được tự do,
Để lại mọi tình yêu và mọi ước muốn đằng sau!"

PTS vp Pali 141 Và Bồ-tát, sau khi đọc xong khát nguyện này, không phá vỡ trạng thái thiền định, đạt được cõi Phạm thiên.

Khi Đức Thế Tôn kết thúc bài giảng, Ngài tuyên thuyết Tứ Diệu Đế — vào lúc kết thúc Tứ Diệu Đế, một số vị chứng Sơ Đạo, một số chứng Nhị Đạo, một số chứng Tam Đạo, và một số chứng Tứ Đạo — "Trong câu chuyện, Mahāmāyā là người mẹ, vua Suddhodana là người cha, mẹ của Rāhula là người vợ, chính Rāhula là đứa con, còn ta là người đã rời bỏ gia đình đi xuất gia."

---

Jātaka, hay Chuyện Tiền Thân của Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, xuất bản bởi The Cambridge University Press.

  • Quyển 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.
  • Quyển 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.
  • Quyển 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
  • Quyển 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.
  • Quyển 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.
  • Quyển 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006 – tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và các cộng tác viên khác. Cảm ơn Sacred Texts Archive đã cung cấp các văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Bhikkhu Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến