Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 193Cūḷapadumajātaka — Jātaka 193: Tiền Thân Tiểu Sen (Culla-Paduma)

Tên Pāli / Sanskrit:Cūḷapadumajātaka

📖2,319 từ · ~9 phút đọc
2
Tóm tắt

"Chính ta đây—không ai khác"—Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể trong thời gian trú tại Jetavana, về một vị Tỳ-kheo hoàn tục. Hoàn cảnh dẫn khởi sẽ được giải thích trong Tiền thân Ummadanti.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Tiền Thân Tiểu Sen — Cūḷapadumajātaka

Chuyện Tiền Thân Đức Phật

Quyển 2 — Dukanipāta (Phẩm Nhị Kệ)

193. Cūḷapadumajātaka

"Chính ta — không ai khác," v.v. — Câu chuyện này Đức Đạo Sư kể tại Kỳ Viên (Jetavana), nhân việc một vị Tỳ-kheo phạm giới hoàn tục. Hoàn cảnh sự việc sẽ được giải thích trong Tiền Thân Ummadanti. Khi vị Tỳ-kheo này được Đức Đạo Sư hỏi có thực sự phạm giới hoàn tục không, ông xác nhận. "Ai," Đức Đạo Sư hỏi, "đã khiến ông hoàn tục?" Ông đáp rằng đã thấy một người phụ nữ ăn mặc diêm dúa, bị lòng ái dục chinh phục mà hoàn tục. Rồi Đức Đạo Sư nói: "Này Tỳ-kheo, người đàn bà nào cũng bội bạc và phản trắc; những bậc trí giả thuở xưa còn ngu muội đến mức lấy máu từ chính đầu gối phải của mình cho họ uống, cúng dường suốt đời, mà vẫn không thể chiếm được lòng dạ họ." Rồi Ngài kể câu chuyện thuở xưa.

PTS vp Pali 116 Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh ra là con của vị Hoàng Hậu Chính Cung. Trong lễ đặt tên, ông được gọi là Vương Tử Paduma, tức Vương Tử Hoa Sen. Sau ông còn có sáu người em trai. Lần lượt từng người trưởng thành, lập gia đình và ổn định cuộc sống, sống như những người bạn đồng hành của nhà vua.

Một ngày kia, nhà vua nhìn ra sân thượng, thấy những người con này đang đi cùng đông tùy tùng để đến yết kiến. Ông ta nảy sinh nghi ngờ rằng họ có ý định giết ông và chiếm vương quốc. Ông triệu tập họ đến và nói như sau:

"Các con của ta, các con không thể ở lại thành này. Vậy hãy đi nơi khác, và khi ta mất, các con sẽ trở về và kế thừa vương quốc thuộc về dòng tộc ta."

Họ chấp thuận lời vua cha; rồi ra về khóc than. "Dù đi đâu cũng không sao!" họ than; rồi mang theo vợ, rời thành phố lên đường. Đi mãi, họ đến một khu rừng, không kiếm được thức ăn hay nước uống. Không thể chịu đựng cơn đói, họ quyết tâm giữ mạng bằng cách hy sinh những người phụ nữ. Họ bắt người vợ của người em út, giết đi; xẻ thân thành mười ba phần, ăn thịt. Nhưng Bồ-tát và vợ để dành một phần, phần còn lại hai người ăn chung nhau.

Sáu ngày như vậy, họ giết và ăn thịt sáu người phụ nữ; mỗi ngày Bồ-tát để dành một phần, tổng cộng ông có sáu phần dự trữ. PTS vp En 82 Đến ngày thứ bảy, những người kia muốn bắt vợ Bồ-tát để giết; nhưng thay vì vậy, ông đưa cho họ sáu phần đã để dành. "Hãy ăn những thứ này," ông nói; "ngày mai ta sẽ lo liệu." Tất cả đều ăn thịt; và khi đến lúc họ ngủ say, Bồ-tát và vợ lén lút bỏ đi.

Đi được một lúc, người phụ nữ nói: "Chàng ơi, thiếp không thể đi tiếp nữa." Vậy Bồ-tát cõng vợ lên vai, và khi mặt trời mọc ông ra khỏi khu rừng. Khi mặt trời đã lên, nàng nói: "Chàng ơi, thiếp khát nước!"

"Không có nước, vợ hiền ơi!" ông đáp.

Nhưng nàng van nài mãi, đến mức ông đâm kiếm vào đầu gối phải của mình, PTS vp Pali 117 và nói:

"Không có nước; nhưng hãy ngồi xuống và uống máu từ đầu gối ta đây." Và nàng đã làm vậy.

Sau đó, họ đến sông Hằng (Gaṅgā) hùng vĩ. Họ uống, tắm, ăn đủ loại hoa quả và nghỉ ngơi tại một nơi dễ chịu. Tại đó, bên một khúc quanh của dòng sông, họ dựng một túp lều ẩn sĩ và sinh sống ở đó.

Chuyện xảy ra là một tên cướp ở vùng thượng lưu sông Hằng đã phạm tội phản nghịch. Tay chân, mũi tai của y bị chặt đứt, y được đặt vào một chiếc thuyền nhỏ và thả cho trôi xuôi theo dòng sông lớn. Y trôi đến chỗ này, rên rỉ đau đớn. Bồ-tát nghe tiếng kêu thảm thiết đó.

"Chừng nào ta còn sống," ông nói, "không sinh linh khốn khổ nào sẽ chết khi ta có thể cứu!" Rồi ông đến bờ sông và cứu người đó. Ông đưa vào lều, dùng thuốc cầm máu và dầu thuốc điều trị vết thương.

Nhưng người vợ tự nhủ: "Đây là một gã lười biếng anh ta kéo lên từ sông Hằng, để ta phải chăm sóc!" và nàng đi lại khạc nhổ khinh bỉ kẻ đó.

Khi vết thương của người đó đang lành lại, Bồ-tát để y ở trong lều cùng với người vợ, còn ông vào rừng kiếm đủ loại hoa quả để nuôi cả hai. Sống chung với nhau như vậy, người vợ nảy sinh tình cảm với kẻ đó, và phạm tà hạnh. Rồi nàng muốn giết chết Bồ-tát và nói với ông: "Chàng ơi, khi thiếp ngồi trên vai chàng lúc từ rừng ra, thiếp trông thấy ngọn đồi kia, và thiếp đã nguyện rằng nếu chúng ta được an toàn thoát nạn, thiếp sẽ dâng lễ vật cho thần linh trên đồi đó. Nay thần linh ấy đang hiện đến trong thiếp; thiếp muốn hoàn thành lời nguyện!"

"Được thôi," Bồ-tát nói, không biết chút gì về âm mưu của vợ. Ông chuẩn bị đồ cúng tế, đưa lễ vật cho vợ, rồi leo lên đỉnh đồi. PTS vp Pali 118 Rồi người vợ nói với ông:

"Chàng ơi, không phải thần linh trên đồi, mà chính chàng là vị thần tối cao của thiếp! Vậy trước tiên để thiếp dâng lễ hoa rừng cúng chàng, rồi kính cẩn đi vòng quanh chàng, giữ chàng bên phải thiếp, và đảnh lễ chàng: sau đó thiếp mới dâng lễ cho thần núi." Nói vậy xong, nàng đặt ông đứng quay mặt vào vách đá, rồi giả vờ muốn đảnh lễ ông một cách cung kính. Lợi dụng lúc đứng sau lưng ông, nàng đánh mạnh vào lưng ông và đẩy ông xuống vực. Rồi nàng vui mừng reo lên: "Ta đã thấy lưng kẻ thù của ta!" và từ trên núi bước xuống, vào nơi tình nhân đang ở.

Còn Bồ-tát thì lao xuống vực; nhưng ông mắc lại trên một chùm lá trên ngọn một cây sung không có gai. Ông không thể trèo xuống đồi, nên ở lại trên các cành cây và ăn trái sung. Chuyện xảy ra là một con Kỳ Nhông khổng lồ thường leo từ chân đồi lên và ăn quả của cây sung này. Hôm đó nó nhìn thấy Bồ-tát và bỏ chạy. Hôm sau nó lại đến ăn trái ở một phía của cây. Lần này rồi lần khác, cuối cùng nó kết bạn với Bồ-tát.

"Bằng cách nào ngài đến được chỗ này?" nó hỏi; và Bồ-tát kể cho nó nghe mọi sự.

"Thôi, đừng sợ," con Kỳ Nhông nói; rồi cõng ông trên lưng, từ từ leo xuống đồi và đưa ông ra khỏi khu rừng. Tại đó nó đặt ông xuống đường cái, chỉ đường cho ông đi, rồi bản thân trở vào rừng.

Ông tiếp tục đến một ngôi làng và ở đó cho đến khi nghe tin cha mình đã mất. Nghe vậy, ông lên đường về Ba-la-nại. Ở đó ông kế thừa vương quốc thuộc về dòng tộc, được gọi là vua Paduma (Hoa Sen); mười điều luật nhân chính dành cho vua ông không vi phạm, và ông trị vì công bình. Ông xây sáu Điện Bố Thí, một tại mỗi trong bốn cổng thành, một ở giữa thành và một trước cung điện; và mỗi ngày ông phân phát bố thí sáu trăm nghìn đồng tiền.

Người vợ xấu xa thì cõng tình nhân trên vai, bước ra khỏi rừng; nàng đi ăn xin trong dân chúng, kiếm gạo và cháo để nuôi kẻ đó. PTS vp Pali 119 Nếu ai hỏi người đàn ông đó là ai đối với nàng, nàng sẽ đáp: "Mẹ anh ta là chị ruột của cha thiếp, anh ta là anh họ của thiếp; gia đình thiếp đã gả thiếp cho anh ta. Dù anh ta có bị kết án tử hình, thiếp cũng sẽ cõng chồng thiếp trên vai, chăm sóc anh ta, và đi ăn xin để nuôi sống anh ta!"

"Người vợ thật thủy chung tuyệt vời!" mọi người đều nói. Và từ đó họ cho nàng càng nhiều thức ăn hơn. Một số người còn khuyên: "Đừng sống kiểu này nữa. Vua Paduma là chúa tể Ba-la-nại; bằng lòng hào phóng ông đã làm toàn cõi Ấn Độ chấn động. Thấy hai người, ông sẽ vui mừng và ban thưởng hậu hĩ. Hãy đặt chồng vào chiếc giỏ này và tìm đến ông." Nói vậy, họ thuyết phục nàng và tặng cho một chiếc giỏ liễu gai.

Người vợ xấu xa đặt tình nhân vào giỏ, vác lên vai, đến Ba-la-nại và sống bằng những gì nhận được tại các Điện Bố Thí. Nay Bồ-tát thường cưỡi một con voi cực kỳ cao quý sang trọng đi đến điện bố thí; và sau khi ban thí cho tám đến mười người, ông lại lên đường về cung. Rồi người vợ xấu xa đặt tình nhân vào giỏ, vác lên, đứng ở nơi nhà vua hay đi qua. Nhà vua trông thấy nàng. "Người này là ai?" ông hỏi. "Một người vợ thủy chung," câu trả lời vang lên. Ông truyền gọi nàng đến, và nhận ra nàng. Ông truyền hạ chiếc giỏ xuống và hỏi: "Người đàn ông này là ai đối với nàng?"

"Anh ta là con trai của dì ta, do gia đình thiếp gả, là chồng thiếp," nàng đáp.

"Ồ, người vợ thủy chung thay!" mọi người đều kêu lên: vì họ không biết đầu đuôi câu chuyện; và họ ca ngợi người vợ xấu xa.

"Sao — kẻ đó là anh họ của ngươi? Gia đình ngươi đã gả ngươi cho hắn sao?" nhà vua hỏi; "Chồng của ngươi à?"

Nàng không nhận ra nhà vua; và "Thưa phải, bẩm Ngài!" nàng trả lời trơ tráo.

"Và đây là con trai vua Ba-la-nại sao? Ngươi không phải là vợ của Vương Tử Paduma, con gái của vị vua nọ, tên như vậy sao? Ngươi không uống máu từ đầu gối của ta sao?

Ngươi không yêu gã côn đồ này và đẩy ta xuống vách đá sao? Ồ, ngươi tưởng ta đã chết, và nay ngươi xuất hiện với cái chết viết trên trán — còn ta đây, còn sống!" PTS vp Pali 120 Rồi ông quay sang các đại thần. "Các ông có nhớ điều ta đã kể khi các ông hỏi ta không?

Sáu người em trai ta đã giết và ăn thịt sáu người vợ của họ; nhưng ta giữ vợ ta bình an, đưa nàng đến bờ sông Hằng, nơi ta sống trong túp lều ẩn sĩ: ta kéo một tên tử tù lên khỏi dòng sông và nuôi sống hắn; người vợ này đem lòng yêu hắn và đẩy ta xuống vách đá, nhưng ta thoát chết nhờ lòng từ bi. Không ai khác chính là người vợ xấu xa đã đẩy ta xuống vách đá: và không ai khác chính là tên tử tù khốn nạn kia!" Rồi ông đọc những bài kệ sau:

"Chính ta — không ai khác, và con mẹ này chính là nàng;

Tên không tay khốn nạn, không ai khác, đó là kẻ kia;

Nàng nói — 'Đây là người chồng của thời trẻ ta.'

Phụ nữ đáng bị chết; chúng không có chút chân thật."

"Hãy dùng gậy lớn đánh chết tên khốn nạn

Đang rình rập để cướp vợ người láng giềng.

Rồi hãy bắt con đĩ trung thành kia vào,

Và cắt mũi tai nó trước khi nó chết."

PTS vp Pali 121 Mặc dù Bồ-tát không thể nuốt trôi cơn giận, và quy định hình phạt này cho họ, nhưng ông không thực hiện; mà PTS vp En 85 ông nén cơn thịnh nộ lại, truyền khóa chặt chiếc giỏ trên đầu nàng đến mức nàng không tháo ra được; tên côn đồ thì ném vào đó, rồi hai người bị đuổi ra khỏi vương quốc của ông.

Khi Đức Đạo Sư kết thúc pháp thoại này, Ngài tuyên thuyết Tứ Đế và xác nhận Tiền Thân — vào cuối phần Tứ Đế, vị Tỳ-kheo hoàn tục kia chứng đắc Quả Dự Lưu — "Trong thời đó, một số trưởng lão chính là sáu người em trai; Chiñca Mānavikā (Chiên-già Ma-nặc-bà-la) là người vợ; Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) là tên tội phạm; Ānanda (A-nan) là con Kỳ Nhông; và vua Hoa Sen chính là Ta."

Jātaka (Kinh Tiền Thân), hay Chuyện Tiền Thân Đức Phật, do E.B. Cowell chủ biên, do Nhà Xuất Bản Đại Học Cambridge ấn hành.

Quyển 1, do Robert Chalmers dịch, 1895.

Quyển 2, do W.H.D. Rouse dịch, 1895.

Quyển 3, do H.T. Francis và R.A. Neil dịch, 1897.

Quyển 4, do W.H.D. Rouse dịch, 1901.

Quyển 5, do H.T. Francis dịch, 1905.

Quyển 6, do E.B. Cowell và W.H.D. Rouse dịch, 1907.

Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Quý vị được tự do sử dụng theo bất kỳ hình thức nào.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006 – tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và các cộng sự. Cảm ơn Kho Lưu Trữ Văn Bản Thiêng Liêng đã cung cấp các văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến