Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 185Anabhirati Jātaka

Tên Pāli / Sanskrit:Anabhiratijātaka

📖806 từ · ~3 phút đọc
2
Tóm tắt

"Thick, muddy water" — Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể lại trong thời gian Ngài lưu trú tại Jetavana, nhân sự việc liên quan đến một vị Bà-la-môn trẻ tuổi.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân Đức Phật

Quyển 2 Dukanipāta (Nhị Tập)

185. Anabhirati Jātaka

"Nước đục ngầu…" v.v.—Câu chuyện này được Bậc Đạo Sư kể lại khi trú tại Kỳ Viên, nhân dịp nói về một vị thanh niên Bà-la-môn.

Một vị thanh niên Bà-la-môn, được biết, thuộc thành Xá-vệ (Sāvatthī), đã thông thạo Tam Vệ-đà và từng dạy các kệ thánh kinh cho nhiều thanh niên Bà-la-môn và Sát-đế-lợi (kshatriya). Sau đó ông lập gia đình. Tâm trí ông nay bận bịu với của cải và đồ trang sức, tôi trai tớ gái, đất đai tài sản, trâu bò và trâu nước, con trai con gái, ông trở nên bị ràng buộc bởi ái dục, tà kiến, si mê.

Điều này che khuất trí tuệ ông, khiến ông quên mất cách đọc đúng thứ tự các kinh chú, và thỉnh thoảng các thần chú không còn rõ ràng trong tâm trí nữa. Một hôm người này kiếm được nhiều hoa và hương thơm, và mang đến dâng Đức Phật trong vườn Kỳ Viên. Sau khi đảnh lễ, ông ngồi xuống một bên.

PTS vp Pali 100 Bậc Đạo Sư nói chuyện thân mật với ông. "Này chàng trai, ông là người dạy kinh thánh. Ông có thuộc lòng chúng không?" "Thưa Ngài, trước đây con biết rõ lắm, nhưng từ khi cưới vợ, tâm trí con bị mờ tối và con không còn nhớ nữa." "Ồ, này chàng trai," Bậc Đạo Sư nói, "điều tương tự đã xảy ra từ trước; lúc đầu tâm trí ông trong sáng và ông biết tất cả các kinh câu hoàn hảo, nhưng khi tâm trí bị che khuất bởi đam mê và dục vọng, ông không còn nhìn thấy chúng rõ ràng nữa." Rồi theo yêu cầu của ông, Bậc Đạo Sư kể câu chuyện sau đây.

Thuở xưa, khi Brahmadatta làm vua ở Benares, Bồ-tát sinh ra trong gia đình một đại Bà-la-môn. Khi lớn lên, Ngài học với một vị thầy nổi tiếng ở Takkasilā, nơi Ngài học tất cả các thần chú huyền diệu. PTS vp En 69 Sau khi trở về Benares, Ngài dạy những thần chú này cho nhiều thanh niên Bà-la-môn và Sát-đế-lợi.

Trong số các thanh niên ấy, có một vị Bà-la-môn trẻ đã học thuộc lòng Tam Vệ-đà; ông trở thành bậc thông tuệ về lễ nghi và có thể đọc toàn bộ kinh văn thiêng liêng mà không vấp phải một dòng nào. Dần dần ông lập gia đình. Rồi những lo toan gia đình che mờ tâm trí ông, và ông không còn có thể đọc các kinh câu thiêng liêng nữa.

Một hôm, người thầy đến thăm ông. "Này chàng trai," ông hỏi, "ông có thuộc lòng hết các kinh câu không?" "Thưa thầy, từ khi con làm chủ hộ," đó là câu trả lời, "tâm trí con bị mờ đục, con không thể đọc chúng nữa." "Con ơi," người thầy nói, "khi tâm trí bị mờ đục, dù đã học thuộc kinh sách hoàn hảo đến đâu, chúng cũng sẽ không hiện ra rõ ràng. Nhưng khi tâm trí thanh tịnh thì không bao giờ quên mất chúng." Và nhân đó ông đọc hai kệ sau:

"Nước đục ngầu không thể nào phản chiếu

Cá hay sò, cát sỏi nơi đáy sâu:

Tâm trí mờ đục cũng vậy thay:

Lợi mình lợi người đều khuất mờ ngay.

"Nước trong lặng lẽ thấu rõ từng thứ

Dù cá hay sò ở chốn đáy hồ; PTS vp Pali 101

Tâm trí trong sáng rõ soi chiếu mọi điều:

Lợi mình lợi người hiển bày từng nét."

Sau khi Bậc Đạo Sư kết thúc bài pháp này, Ngài tuyên thuyết Tứ Diệu Đế và nhận diện Bổn Sinh—vào lúc kết thúc phần Tứ Diệu Đế, vị thanh niên Bà-la-môn chứng đắc Quả Nhập Lưu—"Ngày ấy, người thanh niên này chính là vị Bà-la-môn trẻ, còn Ta là người thầy của chàng."

The Jātaka, hay Chuyện Tiền Thân Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, xuất bản bởi The Cambridge University Press.

Tập 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.

Tập 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.

Tập 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.

Tập 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.

Tập 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.

Tập 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Những bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006–tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và những người khác. Cảm ơn Kho Lưu Trữ Văn Bản Thiêng Liêng đã cung cấp các văn bản này ở dạng kỹ thuật số.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.

📜Vì sao trong bài có dấu “…”?

Dấu “…” là lối viết tắt có từ chính bản gốc Pāli, gọi là peyyāla. Kinh tạng nguyên thuỷ vốn được tụng thuộc lòng, nên những đoạn lặp lại y nguyên ở bài trước thường được rút gọn lại bằng một dấu lược thay vì chép lại toàn văn. Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu giữ đúng lối ấy. Vì vậy có bài trông ngắn, nhưng đó là hình thức chuẩn mực của kinh điển chứ không phải app thiếu nội dung hay bản dịch bị cắt. Phần bị lược có thể đọc đầy đủ ở các bài liền trước trong cùng phẩm.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến