Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 161Indasamanagotta Jātaka

Tên Pāli / Sanskrit:Indasamānagottajātaka

📖785 từ · ~3 phút đọc
2
Tóm tắt

"Thân cận với ác."—Đây là câu chuyện được Đức Thế Tôn kể tại Jetavana, liên quan đến một người cứng đầu; các tình tiết sẽ được tìm thấy trong bổn sanh Kền Kền ở Quyển Chín. Đức Thế Tôn nói với vị Tỳ-kheo này: "Trong thời xa xưa cũng như bây giờ, ông đã bị voi điên giẫm chết vì quá cứng đầu và không biết lắng nghe lời khuyên của người trí." Và Ngài kể câu chuyện xưa.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân Đức Phật

Quyển 2 Dukanipāta

161. Indasamanagotta Jātaka

PTS vp Pali 41 "Hãy tránh xa kết giao với kẻ ác," v.v.—Đây là câu chuyện Đức Thế Tôn kể khi đang trú tại Jetavana, về một người cứng đầu; và hoàn cảnh sẽ được tìm thấy trong Kền Kền Bổn Sanh, ở Quyển Thứ Chín. Đức Thế Tôn nói với vị Tỳ-kheo này: "Trong những kiếp trước cũng như bây giờ, ông đã bị voi điên giẫm chết vì quá cứng đầu và không chịu nghe lời khuyên của bậc trí." Và Ngài kể câu chuyện xưa.

Thuở xưa, khi Brahmadatta làm vua Benares, Bồ-tát sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn. Lớn lên, Ngài rời bỏ gia đình thế tục và theo đời tu hành, dần trở thành vị lãnh đạo của một nhóm năm trăm ẩn sĩ, tất cả cùng sống với nhau ở vùng Himalaya.

Trong số những ẩn sĩ này có một người cứng đầu, khó dạy tên là Indasamanagotta. Anh ta nuôi một con voi cưng. Bồ-tát triệu anh ta đến khi biết điều này và hỏi liệu anh ta có thực sự nuôi một con voi con không? Có, người đó trả lời, anh ta có một con voi đã mất mẹ. "Vậy thì," Bồ-tát nói, "khi voi lớn lên, chúng sẽ giết ngay cả những người nuôi dưỡng chúng; vì vậy tốt hơn là anh đừng nuôi nó nữa." "Nhưng bạch Thầy, con không thể sống mà không có nó!" người đó đáp. "Ồ, thôi được," Bồ-tát nói, "anh sẽ phải hối hận về điều này."

Tuy nhiên, anh ta vẫn tiếp tục nuôi con vật, và dần dần nó lớn đến kích thước khổng lồ.

Một lần kia, tất cả các ẩn sĩ đã đi xa vào rừng để thu hái củ và trái cây, và họ vắng mặt nhiều ngày. Thoáng theo gió nam, con voi này rơi vào trạng thái điên loạn. PTS vp En 29 "Hãy phá tan cái lều này!" nó nghĩ. "Ta sẽ đập vỡ cái lu nước! Ta sẽ lật đổ cái ghế đá! Ta sẽ phá tan cái giường! Ta sẽ giết vị ẩn sĩ rồi đi thôi!" Vì vậy nó lao vào rừng, đứng đợi theo dõi chờ họ trở về.

Vị thầy đến trước tiên, PTS vp Pali 42 đang mang thức ăn cho con vật cưng của mình. Vừa nhìn thấy anh ta, nó lao đến, nghĩ rằng mọi việc đều ổn. Con voi xông ra từ bụi cây, túm lấy anh ta bằng cái vòi, quật xuống đất, rồi dùng một cú đánh vào đầu dập nát cuộc đời anh ta; và điên cuồng rú lên, nó phi vào rừng.

Các ẩn sĩ khác mang tin này đến Bồ-tát. Ngài nói: "Chúng ta không nên kết giao với kẻ xấu;" rồi Ngài đọc hai bài kệ này—

"Hãy tránh xa kết giao với kẻ ác, người thiện nên biết,
Những người thiện, biết điều phận sự đòi hỏi họ làm:
Dù sớm hay muộn, chúng sẽ gây tai họa,
Như con voi đã giết chết người chủ vậy."

"Nhưng nếu ngươi gặp được một tâm hồn đồng điệu,Giống mình về đức hạnh, trí tuệ và học thức,Hãy chọn người đó làm bạn trung thành của mình;Bạn lành và phúc lành luôn đi đôi với nhau."

PTS vp Pali 43 Như vậy Bồ-tát đã chỉ dạy cho hội chúng ẩn sĩ của mình rằng thuận thục và không cứng đầu là điều tốt đẹp. Rồi Ngài cử hành lễ tang cho Indasamanagotta, và tu tập các Ba-la-mật, cuối cùng đến được cõi Trời của Phạm Thiên.

Sau khi kết thúc bài giảng này, Đức Thế Tôn xác nhận Bổn Sanh: "Người cứng đầu khi ấy là Indasamanagotta, và Ta là vị thầy của hội chúng ẩn sĩ."

Jātaka, hay Chuyện Tiền Thân Đức Phật, biên soạn bởi E.B. Cowell, do Nhà xuất bản Đại học Cambridge ấn hành.

Tập 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.

Tập 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.

Tập 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.

Tập 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.

Tập 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.

Tập 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006–tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và cộng sự. Cảm ơn Sacred Texts Archive đã cung cấp các văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến