Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 140Kaka Jātaka

Tên Pāli / Sanskrit:Kākajātaka

📖1,292 từ · ~5 phút đọc
2
Tóm tắt

"Trong nỗi sợ hãi không ngừng."—Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể tại Jetavana, liên quan đến một vị cố vấn anh minh. Các tình tiết sẽ được trình bày trong Quyển Mười Hai, trong mục bổn sanh Bhaddasala.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Các Tiền Thân Của Đức Phật

Quyển 1 Ekanipāta

140. Kaka Jātaka

"Trong nỗi lo sợ triền miên."— Câu chuyện này do Đức Thế Tôn kể lại tại Kỳ-viên Tịnh Xá (Jetavana), về một vị cố vấn thông thái. Những sự kiện liên quan sẽ được kể trong quyển thứ mười hai trong phần Bhaddasāla-jātaka.

Thuở xưa, khi Phạm-Đức-Đà (Brahmadatta) trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát đản sinh làm một con quạ. Một ngày nọ, vị tư tế của nhà vua ra khỏi thành đến bờ sông, tắm ở đó, rồi xức nước hoa và đội vòng hoa, mặc y phục trang trọng nhất và trở về thành. Trên vòm cổng thành có hai con quạ đang đậu; một con nói với bạn: "Ta muốn ị lên đầu vị bà-la-môn này." "Ôi, đừng làm vậy," con kia nói; "vì vị bà-la-môn này là người có địa vị cao, và gây thù oán với người có địa vị cao là điều xấu.

Nếu ngươi chọc tức ông ta, ông ta có thể tiêu diệt cả giống nòi ta." "Ta nhất định phải làm," con kia nói. "Thôi được, chắc chắn ngươi sẽ bị lộ," con quạ kia nói, rồi bay nhanh đi. Vừa khi vị bà-la-môn đi dưới tháp canh, vật bẩn rơi xuống đầu ông tựa như con quạ đang thả rơi một chuỗi hoa.

Vị bà-la-môn nổi giận liền ôm mối thù oán với tất cả loài quạ.

Lúc bấy giờ tình cờ có một người hầu gái trông coi kho thóc đem gạo phơi nắng ở cửa kho và ngồi đó canh gác, thì cô ngủ gật. Đúng lúc đó, một con dê đực lông xù đến ăn gạo cho đến khi cô thức dậy và đuổi nó đi. Hai ba lần con dê quay lại, ngay khi cô ngủ, và ăn gạo.

PTS vp Pali 485 Vậy là sau khi đuổi con vật đi lần thứ ba, cô nghĩ rằng những lần dê tới liên tục sẽ tiêu tốn mất nửa số gạo và phải có biện pháp để xua đuổi con vật đi hẳn, nhờ đó cô tránh được tổn thất lớn như vậy. Thế là cô cầm một ngọn đuốc cháy, ngồi xuống, giả vờ ngủ như thường lệ. Khi con dê đang ăn, cô bỗng nhảy dậy và đánh lên lưng xù lông của nó bằng ngọn đuốc.

Lập tức bộ lông xù của dê bốc cháy, và để giảm đau, nó lao vào một đống cỏ khô gần chuồng voi và lăn vào đống cỏ. Thế là đống cỏ bắt lửa và ngọn lửa lan đến chuồng ngựa. Khi những chuồng này bắt lửa, các con voi bắt đầu chịu đau, và nhiều con bị bỏng nặng vượt quá khả năng chữa trị của các thú y.

Khi điều này PTS vp En 301 được bẩm với đức vua, ông hỏi vị tư tế liệu có biết cách chữa trị cho voi không. "Thưa đại vương, thần biết," vị tư tế nói, và khi được thúc giục giải thích, ông nói bài thuốc của mình là mỡ quạ. Bấy giờ đức vua ra lệnh giết quạ và lấy mỡ.

Ngay lập tức xảy ra một cuộc tàn sát quạ lớn, nhưng chưa bao giờ tìm thấy mỡ nào trong chúng, và thế là họ tiếp tục giết cho đến khi xác quạ chất thành đống khắp nơi. Và một nỗi sợ hãi lớn bao trùm tất cả loài quạ.

Trong những ngày đó, Bồ-tát cư trú tại một nghĩa địa lớn, dẫn đầu tám mươi nghìn con quạ. Một trong số đó mang tin tức đến cho ngài về nỗi sợ hãi đang bao trùm loài quạ. Và Bồ-tát, cảm thấy không ai ngoài ngài có thể đảm nhận sứ mạng này, quyết tâm giải thoát đồng loại khỏi nỗi sợ hãi to lớn. Nhớ lại Mười Pháp Ba-la-mật (Mười Pháp Hoàn Thiện), chọn Từ Bi làm kim chỉ nam, ngài bay thẳng lên không ngừng nghỉ cho đến hoàng cung của đức vua, và nhập vào qua cửa sổ mở, hạ xuống dưới ngai vàng của đức vua. Lập tức một người hầu cố bắt con chim, nhưng đức vua bước vào buồng và ngăn ông lại.

Hồi phục trong chốc lát, Đại sĩ, ghi nhớ Từ Bi, bước ra từ dưới ngai vàng của đức vua và nói với đức vua như thế này: "Tâu đại vương, một vị vua cần ghi nhớ châm ngôn rằng các vua không nên hành xử theo tham dục và các phiền não xấu ác khác trong việc cai trị vương quốc. Trước khi hành động, điều thích hợp là trước tiên phải kiểm tra và biết rõ toàn bộ sự việc, rồi mới làm điều gì đó mà khi làm xong sẽ có lợi ích. Nếu các vua làm điều gì đó mà khi làm xong không có lợi ích, họ làm cho hàng nghìn người sợ hãi, thậm chí sợ hãi cái chết. PTS vp Pali 486 Và trong việc kê đơn mỡ quạ, vị tư tế của ngài đã bị thù oán thúc đẩy mà nói dối; vì loài quạ không có mỡ."

Những lời này đã chinh phục tâm của đức vua, và ông ra lệnh cho Bồ-tát được đặt trên ngai vàng và ở đó được xức dầu thơm quý nhất dưới cánh, và được phục vụ trong những chén đĩa vàng với đồ ăn thức uống của chính đức vua. Rồi khi Đại sĩ đã no và thoải mái, đức vua hỏi: "Bậc Hiền Giả, ngài nói rằng loài quạ không có mỡ. Tại sao vậy?"

"Như thế này," Bồ-tát đáp lại bằng giọng vang khắp hoàng cung, và ngài tuyên bố Chân Lý trong bài kệ này—

Trong nỗi lo sợ triền miên, với muôn người làm kẻ thù,
Cuộc đời trôi qua; và vì thế loài quạ không có mỡ.

Sau khi đưa ra lời giải thích này, Đại sĩ giáo huấn đức vua, rằng: "Tâu đại vương, các vua không bao giờ nên hành động mà không kiểm tra và biết rõ toàn bộ sự việc." Rất hài lòng, đức vua đặt vương quốc dưới chân Bồ-tát, nhưng Bồ-tát đã trao trả lại cho đức vua, người mà ngài an lập trong Ngũ Giới, tha thiết cầu xin ông bảo vệ mọi chúng sinh khỏi bị tổn hại. Và đức vua được động lòng bởi những lời này mà ban miễn tội cho tất cả chúng sinh, PTS vp En 302 và đặc biệt ông không ngừng bố thí cho loài quạ. Mỗi ngày ông cho nấu sáu giạ gạo cho chúng và nêm nếm thơm ngon, và dâng cho loài quạ. Nhưng với Đại sĩ thì có thức ăn như chính đức vua dùng.

Kết thúc bài học, Đức Thế Tôn xác định tiền thân bằng cách nói: "A-nan trong thời đó là vua Ba-la-nại, và chính ta là vua của loài quạ."

Jātaka, hay Chuyện Các Tiền Thân Của Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, xuất bản bởi Cambridge University Press.

  • Tập 1, Robert Chalmers dịch, 1895.
  • Tập 2, W.H.D. Rouse dịch, 1895.
  • Tập 3, H.T. Francis và R.A. Neil dịch, 1897.
  • Tập 4, W.H.D. Rouse dịch, 1901.
  • Tập 5, H.T. Francis dịch, 1905.
  • Tập 6, E.B. Cowell và W.H.D. Rouse dịch, 1907.

Những bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do sử dụng theo ý muốn.

Đã được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1/2006–tháng 2/2010, bởi John Bruno Hare và những người khác. Cảm ơn Sacred Texts Archive đã cung cấp những văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến