Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 136Suvannahamsa Jātaka

Tên Pāli / Sanskrit:Suvaṇṇahaṁsajātaka

📖1,224 từ · ~5 phút đọc
2
Tóm tắt

"Hãy biết tri túc."—Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể về một vị Tỳ-kheo-ni tên là Nandā Mập.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân Đức Phật

Quyển 1 Ekanipāta

136. Suvaṇṇahaṁsa Jātaka

"Hãy biết tri túc." — Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể về một vị Tỳ-kheo-ni tên là Béo Nanda.

Một cư sĩ tại Sāvatthī đã cúng dường cho hội chúng Tỳ-kheo-ni một lượng tỏi, và sau khi cho gọi người quản lý, đã ra lệnh rằng nếu họ đến, mỗi Tỳ-kheo-ni sẽ nhận được hai hoặc ba nắm tay. Sau đó họ thường xuyên đến nhà hay đồng ruộng của ông để lấy tỏi. Vào một ngày lễ, tỏi trong nhà đã hết, và Tỳ-kheo-ni Béo Nanda, đến cùng những người khác và xin tỏi, được cho biết trong nhà không còn, tất cả đã dùng hết tại chỗ, và cô phải ra đồng mà lấy.

PTS vp Pali 475 Vậy là cô ra đồng PTS vp En 293 và lấy đi một lượng tỏi quá mức. Người quản lý nổi giận và nhận xét rằng đám Tỳ-kheo-ni này tham lam quá! Điều này chọc tức những vị Tỳ-kheo-ni điều độ hơn; và các Tỳ-kheo cũng bực bội khi nghe lời trách móc từ các Tỳ-kheo-ni kể lại, và họ tâu trình với Đức Thế Tôn.

Quở trách sự tham lam của Béo Nanda, Đức Thế Tôn nói: "Này chư Tỳ-kheo, người tham lam thì thô lỗ và tàn nhẫn ngay cả với người mẹ đã sinh ra mình; người tham lam không thể cảm hóa những người chưa được cảm hóa, hay làm cho những người đã được cảm hóa tăng trưởng trong ân đức, hay khiến việc bố thí đến được, hay bảo vệ khi đã đến; trong khi người điều độ có thể làm được tất cả những điều này." Như vậy Đức Thế Tôn chỉ ra ý nghĩa đạo đức, kết thúc bằng lời: "Này chư Tỳ-kheo, như Béo Nanda ngày nay tham lam, thì ngày xưa cô ấy cũng tham lam như vậy." Và sau đó Ngài kể câu chuyện sau đây về quá khứ.

Thuở xưa khi Brahmadatta đang trị vì tại Benares, Bồ-tát sinh ra là một Bà-la-môn, và khi trưởng thành đã cưới vợ cùng giai cấp, người đã sinh cho ông ba người con gái tên là Nanda, Nanda-vati và Sundari-nanda. Bồ-tát qua đời, họ được hàng xóm và bạn bè tiếp nhận, trong khi đó ông tái sinh trở lại vào thế gian dưới hình dạng một con ngỗng vàng với ký ức về những kiếp sống trước. Lớn lên, con chim nhìn nhận thân hình tráng lệ và bộ lông vàng óng của mình, và nhớ rằng trước đây mình đã là người.

Khi biết rằng vợ và các con gái đang sống nhờ vào lòng từ thiện của người khác, con ngỗng nghĩ đến bộ lông của mình như vàng được gõ và đập, và cách bằng việc cho họ mỗi lần một chiếc lông vàng có thể giúp vợ và con gái sống trong sung túc. Vậy là nó bay đến chỗ họ đang ở PTS vp Pali 476 và đậu trên đỉnh thanh xà ngang ở trung tâm mái nhà. Khi nhìn thấy Bồ-tát, người vợ và các cô con gái hỏi ông đến từ đâu; và ông cho họ biết rằng ông là cha của họ đã mất và tái sinh thành một con ngỗng vàng, và rằng ông đã đến thăm họ và muốn chấm dứt sự cần thiết khốn cùng của họ phải làm công kiếm sống.

"Các con sẽ có lông của ta," ông nói, "từng chiếc một, và chúng sẽ bán được đủ để nuôi sống tất cả các con trong thoải mái." Nói xong, ông trao cho họ một chiếc lông và ra đi. Và từ thời gian này sang thời gian khác ông quay lại để trao thêm một chiếc lông, và với số tiền thu được từ việc bán chúng, những người phụ nữ Bà-la-môn này trở nên thịnh vượng và khá giả.

Nhưng một ngày, người mẹ nói với các con gái: "Chúng ta không thể tin vào loài vật, các con ơi. Ai mà biết cha các con có thể một ngày nào đó bay đi và không bao giờ quay lại? Hãy để chúng ta tranh thủ thời gian và nhổ sạch lông của ông khi ông đến lần sau, để đảm bảo lấy tất cả lông của ông." Nghĩ rằng điều này sẽ gây đau cho ông, các con gái từ chối.

Người mẹ vì lòng tham một ngày gọi con ngỗng vàng đến khi nó đến thăm, rồi dùng cả hai tay nắm lấy và nhổ lông của nó. Bây giờ lông của Bồ-tát có đặc tính rằng nếu bị nhổ trái với ý muốn của ông, chúng không còn là vàng nữa mà trở thành như lông của loài diệc. PTS vp En 294 Và bây giờ con chim tội nghiệp, dù có vươn cánh, cũng không thể bay được, và người đàn bà ném nó vào một thùng gỗ và cho nó ăn ở đó.

Theo thời gian lông của nó mọc lại (dù chúng là những lông trắng bình thường bây giờ), và nó bay về chỗ ở của mình và không bao giờ quay lại nữa.

Kết thúc câu chuyện này, Đức Thế Tôn nói: "Như vậy, này chư Tỳ-kheo, các thầy thấy rằng Béo Nanda xưa kia tham lam như bây giờ. Và lòng tham của cô ấy lúc đó đã làm mất vàng cũng như lòng tham của cô ấy bây giờ sẽ làm mất tỏi. Hơn nữa, hãy chú ý cách lòng tham của cô ấy đã tước đi nguồn cung cấp tỏi của toàn bộ hội chúng Tỳ-kheo-ni, và từ đó hãy học cách điều độ trong ham muốn và tri túc với những gì được trao cho dù nhỏ đến đâu." Nói vậy xong, Ngài thốt lên bài kệ này—

Hãy tri túc, chớ thèm muốn thêm.
Họ nắm lấy ngỗng — nhưng vàng của nó không còn nữa.

Nói vậy xong, Đức Thế Tôn quở trách nghiêm khắc vị Tỳ-kheo-ni lầm lỗi và quy định giới luật rằng bất kỳ Tỳ-kheo-ni nào ăn tỏi đều phải sám hối. Rồi PTS vp Pali 477 nhận diện mối liên hệ, Ngài nói: "Béo Nanda chính là người vợ của Bà-la-môn trong câu chuyện, ba người chị em của cô ấy chính là ba người con gái của Bà-la-môn, và bản thân ta là con ngỗng vàng."

Jātaka, hay Chuyện Tiền Thân Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, xuất bản bởi The Cambridge University Press.

  • Quyển 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.
  • Quyển 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.
  • Quyển 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
  • Quyển 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.
  • Quyển 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.
  • Quyển 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Những bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn có thể tự do làm bất cứ điều gì với chúng.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006 – tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và những người khác. Cảm ơn Lưu trữ Văn bản Thiêng liêng đã cung cấp các văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến