Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 123Jātaka Nangalisa

Tên Pāli / Sanskrit:Naṅgalīsajātaka

📖1,205 từ · ~5 phút đọc
2
Tóm tắt

"Để áp dụng phổ quát."—Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể tại Jetavana, liên quan đến Trưởng lão Laludayi, người được cho là có thói quen luôn nói những điều không đúng lúc.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Truyện Tiền Thân Của Đức Phật

Quyển 1 Ekanipāta

123. Jātaka Naṅgalīsa (Jātaka Nangalisa)

"Để dùng phổ quát."—Câu chuyện này được Đức Bổn Sư kể lại khi Ngài đang ở Jetavana, về trưởng lão Laludayi, người được nói là có thói quen luôn nói sai lúc. Ngài không bao giờ biết dịp thích hợp cho các bài pháp khác nhau. Ví dụ, nếu đó là một lễ hội, ngài sẽ bỗng dưng đọc những bài kệ u ám: "Ngoài cổng thành họ rình rập, và nơi bốn ngã tư gặp nhau." Nếu đó là đám tang, ngài sẽ bùng phát với "Niềm vui tràn ngập lòng chư thiên và nhân loại," hoặc "Ôi mong bạn thấy một trăm, thậm chí một nghìn ngày vui như vậy!"

Một ngày nọ các vị Tỳ-kheo trong Giảng Đường Sự Thật đang bàn về sự bất thường kỳ lạ trong chủ đề và tài năng của ngài trong việc luôn nói sai lúc. Khi họ đang ngồi nói chuyện, Đức Bổn Sư bước vào và sau khi hỏi về chủ đề của cuộc trò chuyện, được nghe kể. "Này các Tỳ-kheo," Ngài nói, "đây không phải lần đầu tiên sự ngu ngốc của Laludayi khiến ngài nói sai lúc. Ngài đã luôn vụng về như bây giờ." Nói vậy xong, Ngài kể câu chuyện của quá khứ này.

PTS vp En 272 Thuở xưa, khi Brahmadatta đang trị vì ở Benares, Bồ-tát sinh vào một gia đình Bà-la-môn giàu có, và khi lớn lên, am tường mọi kiến thức và là một giáo sư danh tiếng toàn thế giới với năm trăm vị Bà-la-môn trẻ để dạy dỗ.

Vào thời câu chuyện của chúng ta, trong số những vị Bà-la-môn trẻ có một người luôn có những ý tưởng ngốc nghếch trong đầu và luôn nói sai lúc; anh ta đang học kinh điển cùng những người khác với tư cách là học trò, nhưng vì sự ngu ngốc của mình không thể nắm vững chúng. Anh ta là người hầu tận tụy của Bồ-tát và phục vụ ngài như một người nô lệ.

Một ngày nọ sau bữa tối, Bồ-tát nằm xuống giường và được người Bà-la-môn trẻ đó tắm rửa và xoa thơm ở tay, chân và lưng. Và khi người trẻ quay bước đi, Bồ-tát nói với anh ta: "Hãy chèn đỡ chân giường trước khi đi." Và người Bà-la-môn trẻ chèn đỡ chân giường ở một phía đúng cách, nhưng không tìm thấy thứ gì để chèn đỡ phía kia. Vì vậy anh ta dùng chân mình làm trụ đỡ và trải qua đêm như vậy. Khi Bồ-tát thức dậy vào buổi sáng và nhìn thấy người Bà-la-môn trẻ, ngài hỏi tại sao anh ta ngồi đó. "Thưa thầy," người trẻ nói, "con không tìm thấy một trong những đinh chèn giường; vì vậy con đã đặt chân con vào để chèn đỡ thay vào đó."

Xúc động trước những lời này, Bồ-tát nghĩ: "Thật sùng mộ! Và điều đó lại đến từ kẻ ngu nhất trong tất cả học trò của ta. Nhưng làm sao ta có thể truyền đạt kiến thức cho anh ta?" Và ý nghĩ đến với ngài rằng cách tốt nhất là hỏi người Bà-la-môn trẻ khi anh ta trở về từ chuyến đi lấy củi và lá, về thứ gì đó anh ta đã thấy hoặc đã làm vào ngày đó; và sau đó hỏi nó giống như cái gì. "Vì," ngài nghĩ, "điều này sẽ dẫn anh ta đến việc so sánh và lý giải, và việc thường xuyên so sánh và lý giải từ phía anh ta sẽ cho phép ta truyền đạt kiến thức cho anh ta."

PTS vp Pali 448 Do đó ngài cho gọi người trẻ đến và nói với anh ta luôn luôn khi trở về từ chuyến đi lấy củi và lá, hãy nói những gì anh ta đã thấy, ăn hoặc uống. Và người trẻ hứa sẽ làm vậy. Vì vậy một ngày nọ, sau khi đã thấy một con rắn khi đi lấy củi trong rừng cùng các học trò khác, anh ta nói: "Thưa thầy, con đã thấy một con rắn." "Nó trông như thế nào?" "Ồ, như cán cày." "Đó là một so sánh rất hay. Rắn giống như những cán cày," Bồ-tát nói, và bắt đầu có hy vọng rằng ngài cuối cùng có thể thành công với học trò này.

Một ngày khác, người Bà-la-môn trẻ nhìn thấy một con voi trong rừng và kể với thầy. "Và con voi trông như thế nào?" "Ồ, như cán cày." Thầy không nói gì, vì ngài nghĩ rằng, vì vòi và ngà voi có một sự giống nhau nhất định với cán cày, có lẽ sự ngu ngốc của học trò khiến anh ta nói chung chung như vậy (mặc dù anh ta đang nghĩ về cái vòi cụ thể), vì không có khả năng đi vào chi tiết chính xác. PTS vp En 273

Một ngày thứ ba, anh ta được mời ăn mía, và đã kể với thầy đúng hẹn. "Và mía trông như thế nào?" "Ồ, như cán cày." "Đó không hẳn là một so sánh hay," thầy nghĩ, nhưng không nói gì. Một ngày khác nữa, các học trò được mời ăn mật đường với sữa đông và sữa, và điều này cũng được thuật lại đúng hẹn. "Và sữa đông và sữa trông như thế nào?" "Ồ, như cán cày." Rồi thầy nghĩ với mình: "Người trẻ này hoàn toàn đúng khi nói một con rắn giống như cán cày, và đúng ít nhiều, dù không chính xác, khi nói con voi và mía có sự giống nhau tương tự. Nhưng sữa đông và sữa (luôn trắng về màu sắc) lấy hình dạng của bất kỳ chiếc bình nào chứa chúng; PTS vp Pali 449 và ở đây anh ta đã bỏ lỡ hoàn toàn sự so sánh. Kẻ ngu này sẽ không bao giờ học được." Nói vậy xong, ngài đọc kệ này—

Để dùng phổ quát, anh taDùng một thuật ngữ có ý nghĩa hạn chế.Cán cày và sữa đông đối với anh ta đều xa lạ như nhau,—Kẻ ngu cho rằng hai thứ là một.

Khi bài học kết thúc, Đức Bổn Sư xác định Tiền Thân bằng cách nói: "Laludayi là kẻ ngu thuở đó, và Ta là vị giáo sư danh tiếng toàn thế giới."

---

The Jātaka, or Stories of the Buddha's Former Births, chủ biên E.B. Cowell, xuất bản bởi The Cambridge University Press.

  • Tập 1, bản dịch Robert Chalmers, 1895.
  • Tập 2, bản dịch W.H.D. Rouse, 1895.
  • Tập 3, bản dịch H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
  • Tập 4, bản dịch W.H.D. Rouse, 1901.
  • Tập 5, bản dịch H.T. Francis, 1905.
  • Tập 6, bản dịch E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Những bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do làm bất cứ điều gì với chúng.

Đã được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng Giêng năm 2006–tháng Hai năm 2010, bởi John Bruno Hare và những người khác.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Bhikkhu Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến