Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 122Dummedha Jātaka

Tên Pāli / Sanskrit:Dummedhajātaka

📖1,243 từ · ~5 phút đọc
2
Tóm tắt

"Địa vị cao sang mang lại đau khổ lớn cho kẻ ngu."—Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể tại Trúc Lâm, liên quan đến Devadatta. Bấy giờ các vị Tỳ-kheo tụ họp tại Giảng đường Chân Lý, đang bàn luận về việc khi Devadatta nhìn thấy những công đức viên mãn và các tướng hảo của Đức Phật thì liền điên cuồng; do lòng嫉妒 đố kỵ mà ông ta không thể nhẫn chịu khi nghe người ta ca ngợi trí tuệ toàn giác của Đức Phật.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Các Tiền Thân Của Đức Phật

Quyển 1 Ekanipāta

122. Dummedha Jātaka

"Địa vị cao sang mang lại đại khổ cho kẻ ngu."— Câu chuyện này do Đức Thế Tôn kể lại tại Trúc Lâm Tịnh Xá, liên quan đến Đề-bà-đạt-đa (Devadatta). Các Tỳ-kheo họp nhau trong Giảng Đường Pháp Hội, đang bàn luận về việc chứng kiến những phẩm tính hoàn hảo và các tướng đặc trưng của quả Phật đã khiến Đề-bà-đạt-đa phát điên; và trong tâm đố kỵ, ông không thể chịu nghe người ca ngợi trí tuệ vô thượng của Đức Phật. Bước vào Giảng Đường, Đức Thế Tôn hỏi đề tài đàm luận của họ là gì. Khi được nghe, Ngài bảo: "Này các Tỳ-kheo, như hiện tại, xưa kia Đề-bà-đạt-đa cũng đã phát điên khi nghe người ca ngợi ta." Nói xong, Ngài kể câu chuyện thời quá khứ.

Thuở xưa, khi vua Magadha trị vì tại Rājagaha trong xứ Magadha, Bồ-tát (Bodhisatta) đản sinh làm một con voi. Thân toàn trắng, hội đủ mọi vẻ đẹp của hình dáng như đã mô tả ở trên. Nhờ vẻ đẹp đó, đức vua đã chọn ngài làm voi ngự.

Một ngày hội, đức vua trang hoàng kinh thành tựa như thành của chư thiên, cưỡi lên lưng voi được trang sức lộng lẫy, thực hiện cuộc tuần du trọng thể quanh kinh thành với đoàn tùy tùng hùng hậu. Suốt dọc đường, dân chúng xúc động trước cảnh con voi tuyệt đẹp, đồng thanh thốt lên: "Ôi, dáng đi uy nghi! Dáng vóc sang trọng! Vẻ đẹp lộng lẫy! Ân sủng kỳ diệu! Một con bạch tượng như vậy xứng đáng với một Chuyển Luân Thánh Vương." Tất cả những lời ca ngợi voi của ông PTS vp En 270 đã đánh thức lòng đố kỵ trong vua, và ông quyết tâm xô ngã nó xuống vực để giết chết. Vậy là ông triệu tập người quản tượng đến hỏi rằng có gọi đó là con voi đã được thuần dưỡng không.

"Thưa đại vương, nó được thuần dưỡng rất tốt," người quản tượng thưa. "Không, nó rất kém thuần dưỡng." "Thưa đại vương, nó được thuần dưỡng tốt." PTS vp Pali 445 "Nếu nó được thuần dưỡng tốt như vậy, ngươi có thể cho nó leo lên đỉnh núi Vepulla không?" "Thưa đại vương, được." "Vậy thì đi đi," đức vua phán. Rồi ông bước xuống khỏi lưng voi, để người quản tượng cưỡi thay, và tự mình đến chân núi, trong khi người quản tượng cưỡi trên lưng voi leo lên đỉnh Vepulla. Đức vua cùng triều thần cũng leo núi, và cho dừng voi tại mép vực. "Bây giờ," ông nói với người quản tượng, "nếu nó thuần dưỡng tốt như ngươi nói, hãy khiến nó đứng bằng ba chân."

Và người quản tượng trên lưng voi chỉ khẽ chạm con vật bằng mũi câu móc như một tín hiệu và gọi: "Này, đẹp của ta ơi, hãy đứng bằng ba chân." "Bây giờ hãy khiến nó đứng bằng hai chân trước," đức vua ra lệnh. Và Đại sĩ giơ hai chân sau lên, chỉ đứng bằng hai chân trước. "Giờ bằng chân sau," đức vua nói, và con voi phục tùng giơ hai chân trước lên cho đến khi chỉ còn đứng bằng hai chân sau. "Giờ bằng một chân," đức vua bảo, và con voi đứng bằng một chân.

Thấy voi không ngã xuống vực, đức vua kêu lên: "Bây giờ nếu có thể, hãy khiến nó đứng trên không."

Bấy giờ người quản tượng tự nghĩ: "Khắp Ấn Độ không có con voi nào sánh được với con voi này về tài thuần dưỡng. Chắc chắn đức vua muốn khiến nó ngã xuống vực mà chết." Thế là ông thì thầm vào tai voi: "Con ơi, đức vua muốn con ngã xuống vực mà bị giết. Ông ta không xứng với con. Nếu con có khả năng du hành trên không, hãy bay lên cùng ta trên lưng con và bay qua không trung đến Ba-la-nại (Benares)."

Và Đại sĩ, vốn được phú bẩm những năng lực kỳ diệu phát sinh từ Phước đức, lập tức bay lên không trung. Bấy giờ người quản tượng nói: "Thưa đại vương, con voi này, với những năng lực kỳ diệu phát sinh từ Phước đức, quá tốt cho một kẻ vô dụng như ngài. Chỉ có một vị vua hiền minh và tốt đức mới xứng đáng làm chủ nó. Khi những kẻ vô dụng như ngài có được một con voi như thế này, họ không biết giá trị của nó, và vì thế họ mất đi con voi, và cùng với đó mất đi tất cả hào quang và uy thế." Nói xong, người quản tượng ngồi trên cổ voi, đọc bài kệ này—

Địa vị cao sang mang lại đại khổ cho kẻ ngu;
Kẻ ấy trở thành mối họa cho mình và người.

PTS vp Pali 446 "Và bây giờ, vĩnh biệt," ông nói với đức vua sau khi hoàn tất lời quở trách; rồi bay lên không trung, đi đến Ba-la-nại và dừng giữa không trung PTS vp En 271 phía trên sân triều. Cả thành phố xôn xao và tất cả đều kêu lên: "Nhìn xem con voi ngự đã bay qua không trung đến với vua ta và đang lơ lửng trên sân triều." Tin tức được chuyển ngay đến cả với đức vua, ông bước ra và nói: "Nếu sự hiện đến của ngươi là vì lợi ích của ta, hãy hạ xuống đất." Và Bồ-tát hạ xuống.

Bấy giờ người quản tượng xuống khỏi lưng voi, đảnh lễ trước mặt đức vua, và trả lời những câu hỏi của vua, kể toàn bộ câu chuyện rời bỏ Rājagaha của họ. "Thật tốt lành thay," đức vua nói, "khi các ngươi đến đây"; và trong niềm hoan hỷ, ông cho trang hoàng thành phố và an trí voi vào chuồng ngự tượng của mình. Rồi ông chia vương quốc làm ba phần, trao một phần cho Bồ-tát, một phần cho người quản tượng, và giữ lại một phần cho mình.

Quyền lực của ông lớn mạnh kể từ ngày Bồ-tát đến cho đến khi toàn Ấn Độ thần phục. Với tư cách Thiên Tử Ấn Độ, ông bố thí và làm nhiều việc lành cho đến khi qua đời, thọ sinh theo nghiệp của mình.

Kết thúc bài học, Đức Thế Tôn xác định tiền thân bằng cách nói: "Đề-bà-đạt-đa trong thời đó là vua xứ Magadha, Xá-lợi-phất là vua Ba-la-nại, A-nan là người quản tượng, và ta là con voi."

Jātaka, hay Chuyện Các Tiền Thân Của Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, xuất bản bởi Cambridge University Press.

  • Tập 1, Robert Chalmers dịch, 1895.
  • Tập 2, W.H.D. Rouse dịch, 1895.
  • Tập 3, H.T. Francis và R.A. Neil dịch, 1897.
  • Tập 4, W.H.D. Rouse dịch, 1901.
  • Tập 5, H.T. Francis dịch, 1905.
  • Tập 6, E.B. Cowell và W.H.D. Rouse dịch, 1907.

Những bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do sử dụng theo ý muốn.

Đã được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1/2006–tháng 2/2010, bởi John Bruno Hare và những người khác. Cảm ơn Sacred Texts Archive đã cung cấp những văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến