Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 107Jātaka Salittaka

Tên Pāli / Sanskrit:Sālittakajātaka

📖1,269 từ · ~5 phút đọc
2
Tóm tắt

Câu chuyện này được Đức Bổn Sư kể tại Jetavana, liên quan đến một vị Tỳ-kheo ném đá trúng một con thiên nga.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Truyện Tiền Thân Của Đức Phật

Quyển 1 Ekanipāta

107. Jātaka Sālittaka (Jātaka Salittaka)

PTS vp Pali 418 "Hãy trân quý kỹ năng."—Câu chuyện này được Đức Bổn Sư kể lại khi Ngài đang ở Jetavana, về một vị Tỳ-kheo đã ném trúng một con thiên nga. Chúng ta được biết rằng vị Tỳ-kheo này, xuất thân từ một gia đình tốt ở Sāvatthī, đã có được kỹ năng tuyệt vời trong việc ném đá trúng đích; và sau khi nghe giảng Pháp một ngày, ngài đã để tâm vào đó và từ bỏ thế tục, được thọ đại giới xuất gia. Nhưng trong học tập cũng như trong thực hành, ngài không vượt trội như một vị Tỳ-kheo.

Một ngày nọ, cùng một vị Tỳ-kheo trẻ, ngài đến sông Aciravati, và đang đứng trên bờ sau khi tắm, thì thấy hai con thiên nga trắng đang bay qua. Ngài nói với vị Tỳ-kheo trẻ hơn: "Ta sẽ ném trúng con thiên nga phía sau vào mắt và hạ nó xuống." "Hạ nó xuống thật sao!" người kia nói; "ông không thể nào ném trúng được." "Để ông xem một lúc. Ta sẽ ném trúng vào mắt bên này xuyên qua mắt bên kia." "Ồ, vô lý." "Được rồi; ông cứ chờ xem."

Rồi ngài cầm một viên đá ba cạnh trong tay và ném theo con thiên nga. Viên đá bay xé gió và con thiên nga, nghi ngờ có nguy hiểm, dừng lại để lắng nghe. Lập tức vị Tỳ-kheo cầm một viên đá tròn nhẵn và khi con thiên nga đang dừng nhìn về hướng khác, ngài ném trúng ngay vào mắt của nó, đến nỗi viên đá vào ở một mắt và ra ở mắt kia. Và với một tiếng kêu lớn, con thiên nga rơi xuống đất trước chân họ. "Đó là một hành động rất không đúng đắn," vị Tỳ-kheo kia nói, và đưa ngài đến trước Đức Bổn Sư, cùng với thuật lại những gì đã xảy ra. Sau khi khiển trách vị Tỳ-kheo ấy, Đức Bổn Sư nói: "Kỹ năng ấy đã là của ngươi trong thời quá khứ cũng như bây giờ, này các Tỳ-kheo." Và Ngài kể câu chuyện của quá khứ này.

Thuở xưa, khi Brahmadatta đang trị vì ở Benares, Bồ-tát là một trong những triều thần của nhà vua. Và vị quốc sư thời đó là người hay nói và dài dòng đến nỗi, khi ông ta bắt đầu nói, không ai khác có thể chen vào được một lời. Vì vậy nhà vua tìm cách để cắt lời quốc sư, và tìm kiếm khắp nơi một người có thể làm điều đó.

Lúc bấy giờ ở Benares có một người tàn tật là một xạ thủ phi thường với đá, và những đứa trẻ thường đặt ông ta lên một chiếc xe nhỏ PTS vp Pali 419 và kéo ông đến cổng thành Benares, nơi có một cây đa lớn có nhiều cành phủ đầy lá. Ở đó họ tụ tập xung quanh và cho ông tiền, nói "Hãy tạo hình con voi," hay "Hãy tạo hình con ngựa." Và người tàn tật sẽ ném hết viên đá này đến viên đá khác cho đến khi ông đã cắt xén lá cây thành những hình dạng được yêu cầu.

Và mặt đất phủ đầy những chiếc lá rụng.

Trên đường đến vườn ngự uyển, nhà vua đi qua chỗ đó, và tất cả những đứa trẻ chạy tán loạn vì sợ vua, để lại người tàn tật đó không có ai giúp đỡ. Khi thấy đống lá rụng, nhà vua hỏi khi đang ngồi trên xe của mình đi qua, ai đã cắt những chiếc lá đó. Và người ta cho ngài biết người tàn tật đã làm vậy. Nghĩ rằng đây có thể là cách để bịt miệng vị quốc sư, nhà vua hỏi người tàn tật ở đâu, và người ta chỉ cho thấy ông đang ngồi dưới gốc cây. Rồi nhà vua cho dẫn ông đến và, ra hiệu cho tùy tùng đứng sang một bên, nói với người tàn tật: "Ta có một vị quốc sư rất hay nói. Ngươi có nghĩ ngươi có thể ngăn ông ta nói không?"

"Thưa bệ hạ, vâng—nếu thần có một ống thổi đầy phân dê khô," người tàn tật nói. Rồi nhà vua cho đưa ông đến cung điện và đặt ông ngồi với một ống thổi đầy phân dê khô sau một tấm rèm có khe hở, đối diện với ghế của quốc sư. Khi vị Bà-la-môn đến bái kiến nhà vua và ngồi vào chỗ đã chuẩn bị cho ông, ngài bắt đầu cuộc trò chuyện.

Và quốc sư lập tức độc chiếm cuộc trò chuyện, không ai khác có thể chen vào được một lời. Lúc đó người tàn tật ném từng viên phân dê một, như những con ruồi, qua khe hở trong tấm rèm thẳng vào cổ họng của quốc sư. Và vị Bà-la-môn nuốt những viên đó khi chúng vào, như thể đó là dầu, cho đến khi tất cả đã biến mất.

Khi toàn bộ ống thổi đầy viên đã nằm trong bụng quốc sư, chúng phình to bằng nửa đấu; và nhà vua, biết là đã hết, nói với vị Bà-la-môn những lời này: "Thưa ngài, ngài hay nói đến nỗi ngài đã nuốt hết một ống thổi đầy phân dê mà không hay biết. Đó là khoảng bao nhiêu ngài có thể tiếp nhận trong một lần ngồi. Bây giờ hãy về nhà và uống thuốc bổ và nước để gây nôn, và phục hồi sức khỏe lại."

PTS vp Pali 420 Từ ngày đó vị quốc sư giữ im lặng và ngồi yên lặng trong các cuộc trò chuyện như thể miệng ông bị niêm phong.

"Vậy thì, đôi tai của ta nhờ người tàn tật này mà được nhẹ nhõm," nhà vua nói, và ban cho ông bốn ngôi làng, một ở phương Bắc, một ở phương Nam, một ở phương Tây, và một ở phương Đông, mỗi làng sản xuất một lạc vàng một năm.

Bồ-tát đến gần nhà vua và nói: "Trong thế gian này, thưa bệ hạ, PTS vp En 251 kỹ năng nên được người trí tu tập. Chỉ riêng kỹ năng nhắm bắn đã mang lại cho người tàn tật này tất cả sự thịnh vượng này." Nói vậy xong, ngài đọc kệ này—

Hãy trân quý kỹ năng, và hãy chú ý đến người ném đá tàn tật;
—Bốn ngôi làng là phần thưởng cho khả năng nhắm bắn của ông.

Khi bài học kết thúc, Đức Bổn Sư xác định Tiền Thân bằng cách nói: "Vị Tỳ-kheo này là người tàn tật thuở đó, Ānanda là nhà vua, và Ta là vị triều thần trí tuệ."

---

The Jātaka, or Stories of the Buddha's Former Births, chủ biên E.B. Cowell, xuất bản bởi The Cambridge University Press.

  • Tập 1, bản dịch Robert Chalmers, 1895.
  • Tập 2, bản dịch W.H.D. Rouse, 1895.
  • Tập 3, bản dịch H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
  • Tập 4, bản dịch W.H.D. Rouse, 1901.
  • Tập 5, bản dịch H.T. Francis, 1905.
  • Tập 6, bản dịch E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Những bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do làm bất cứ điều gì với chúng.

Đã được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng Giêng năm 2006–tháng Hai năm 2010, bởi John Bruno Hare và những người khác.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Bhikkhu Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến