Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch)

Quán Sát Chư Pháp Hạnh Kinh quyển 2

Tên chữ Hán:觀察諸法行經

📖6,208 từ · ~25 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản →
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

PHẨM THỨ HAI : CẦN (SIÊNG) ĐỜI TRƯỚC TƯƠNG ỨNG

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo Đại Bồ tát Hỷ Vương rằng :

– Này Hỷ Vương ! Lại nữa, Bồ tát biết các pháp chẳng nương (y); nên biết các pháp chẳng xuất, chẳng diệt, chẳng tác, chẳng sinh; xa lìa nhẹ rỗng (khinh hư) tự không chẳng chắc, chẳng lấy, chẳng bỏ; nên biết các pháp vô thường, khổ, vô ngã, tịch tịnh; nên biết các pháp không, vô tướng, vô nguyện, nên biết các pháp vô ngã, vô chúng sinh, vô mạng, vô phú già la (20). Nên biết các pháp chẳng hợp, chẳng nên làm, không tự thể, không tướng, không có; nên biết các pháp lìa nhiễm chẳng hành, lìa hý luận chẳng hành, đến tối thắng chẳng đủ thứ (30). Không hí luận, lìa hí luận, chẳng thể lấy, chẳng giữ, không trú xứ, chẳng lại, chẳng đi, chẳng trụ, không chữ, chẳng thể nói (40). Các pháp chẳng thể nói, chẳng thể đem lại, không nghiệp, không báo; nên biết các pháp chẳng phân biệt, không đủ thứ phân biệt, đoạn hết phân biệt, các tưởng và niệm đều đã đoạn trừ, phá trời bằng đời được qua năm đường, qua khỏi chúng sinh, thắng chúng ma la, vượt qua ma la phiền não, ra khỏi ma la tụ họp, đoạn dứt ma chết, đầy trí vô trước, nhiếp lấy thắng sắc ba đời, được sự yêu thích của các chúng sinh, được sự cúng dường của người trí, có thể ở các pháp thấy được pháp thể ấy, được nhục nhãn tịnh đến thiên nhãn sáng đến trí nhãn hành chẳng động pháp nhãn, đầy đủ Phật nhãn như trăng hiển chiếu, biết tâm của các chúng sinh, người chẳng cần hợp (siêng hợp) phải tạo sự xét biết, bỏ những cái đã thủ lấy (50). Ở trong ba ngàn đại thiên thế giới, vì những trời người tạo tác chi thể, đế tướng thuận theo, được tịnh hạnh địa, thông cõi vô ngã, biết đến cõi phát xuất, chỗ của các chúng sinh, phải tạo tác gần gũi tôn trọng, lìa tăng thượng mạn, có được sức nhẫn vượt qua năm chướng ngại, có thể với danh sắc biết bản tánh ấy, giác ngộ thuận theo ngôn từ mà các đức Phật đã nói, thuận giác ba mươi tướng (60). Với được, chẳng được lòng có sở thủ (lấy) đều đã vượt qua cái được của thế gian mà được thế pháp chẳng nhiễm, với các chúng sinh sẽ vì họ làm nhà, mở cửa Niết bàn, khiến cho các chúng sinh vào được thành Vô úy, cho vị cam lộ, diễn nói đến pháp, tỉnh ngủ phiền não, tan nóng của chúng sinh, đoạn dứt sự chấp trước, các kiến trói buộc.v.v... của họ; sáu căn chẳng nhiễm mà vì chúng sinh nói pháp, được mười sáu chữ, cửa đã phát xuất Đà la ni. Cái gì là mười sáu thứ Đà la ni đó ? Đó là chữ A là nghĩa chẳng sinh, chữ Ba là nghĩa tối thắng, chữ Già là nghĩa bốn thật, chữ Na là nghĩa biết danh sắc sinh, chữ Đà là nghĩa điều phục, chữ Sa là nghĩa vượt qua chấp trước, chữ Ca là nghĩa chẳng mất nghiệp báo, chữ Ta là nghĩa các pháp bình đẳng, chữ Dà là nghĩa thậm thâm, chữ Tha là nghĩa thế lực, chữ Xà là nghĩa vượt qua sinh lão tử, chữXa là nghĩa đoạn phiền não không còn, chữ Tha (Sa) là nghĩa xuất phát cao, chữ Sá là nghĩa trụ, chữ Trà là nghĩa giáo hóa Di lê xa ở biên địa (bản chữ Phạm cũng thiếu một chữ). Này thiện gia tử ! Đây là được mười sáu chữ đã phát ra Đà la ni. Gọi là được Đà la ni là chỗ sinh ra trí khéo léo giải biết các pháp vốn tự rỗng không, khéo sinh ra trí tự âm (chữ âm thanh) giải biết được không, ưa giải thoát của Phật; bỏ ái, chẳng ái mà không nuối tiếc, với lập luận khác của các ngoại đạo thì đúng như pháp mà hàng phục; nói tiếng rống sư tử, đắc được Phật trí, hưng khởi Pháp thí, vứt bỏ các phiền não, phá nghĩa oán ác, tin pháp luân của chư Phật chuyển, thông đạt được Như cho đến biết pháp, sân hận kiêu mạn đã lìa, bùn dục chẳng nhiễm, điều ngự chúng sinh, trừ khử dơ bẩn, có thể dùng nước bị gột rửa chúng sinh, thống lĩnh đồ chúng, thuận được thế lực, vượt qua già chết, nghĩ ngàn số kiếp, tổng trì pháp tạng, thông đạt cõi tịch tịnh, được “không đẳng” trí, thuận giác hết pháp, các chúng sinh.v.v... đã ứng lời khen ngợi, đầy vô chướng trí, được không nhiệt não, huân tập thuận hạnh, tiêu diệt quân ma, bóng che ba ngàn đại thiên thế giới, thuận niệm đời trước, chiêu tập Niết bàn địa, tạo tác thú hướng y chỉ, người tại gia ấy đều che hộ hết; biết chỗ và chẳng phải chỗ, chẳng bỏ lời thề trước; với các chúng sinh đem “từ” đầy khắp, biết gom sở niệm của chúng sinh, nghe ý sẽ tạo tác chánh chơn, được giới hương Chiên đàn na, được đường sinh tử, thuận được Niết bàn, biết các pháp như chữ Na chạm xúc trụ. Này Hỷ Vương ! Đó là chữ Na trở lên không chữ. Đó cũng không tên, cũng chẳng thể nói, cũng không có tiếng, chẳng thi thiết (thi hành thiết lập) tên, chẳng biết tên gọi. Trong ngôn từ các tiếng đó chẳng quá khứ, chẳng vị lai, chẳng hiện tại. Các đức Phật đó chẳng đã nói, chẳng nay nói, chẳng sẽ nói, chẳng sinh, chẳng xuất. Các pháp tướng như vậy.v.v... Bồ tát phải biết. Này Hỷ Vương ! Lại có mười sáu chữ nhập môn Đà la ni. Cái gọi là giác ngộ hành tướng của chữ là nói Pháp thắng nghĩa, qua khỏi bốn dòng (tứ lưu), nói pháp không có danh sắc, khéo léo bố thí, tự thủ (giữ) ở Nhẫn, chẳng cậy sáu căn, hành theo lục độ, khiến diệt phiền não dục mà vì chúng sinh nói pháp, khéo biết các pháp sai biệt, không được nghi ngờ sâu, nói xứ chẳng phải xứ, biết sở hạnh của các chúng sinh, nhịn lời thô ác, xả bỏ da thịt tủy, biết hạnh niệm ý, an trụ pháp giới, giải biết chữ Na vào hết các pháp. Này Hỷ Vương ! Đây là mười sáu thứ chữ nhập môn Đà la ni. Này Hỷ Vương ! Nếu Đại Bồ tát hiểu đúng mười sáu thứ chữ nhập môn Đà la ni đó như chữ A là nghĩa vô sinh, chữ Ba là nghĩa tối thắng chữ Già là nghĩa độ bốn dòng, chữ Na là nghĩa nói danh sắc, chữ Đà là nghĩa bố thí tự giữ hòa hợp, chữ Sa là nghĩa trí lục thông, chữ Ca là nghĩa chẳng thấy nghiệp báo, chữ Sà (?) là nghĩa các pháp bình đẳng, chữ Dà là nghĩa thậm thâm, chữ Tha là nghĩa thị hiện thế lực, chữ Xà là nghĩa thị hiện sinh tử, chữ Xoa là nghĩa thị hiện sức nhẫn, chữ Xa là nghĩa vứt bỏ phiền não cực ác, chữ Ta Ma là nghĩa tự đại chứng giác, chữ Ta Tha là nghĩa nói xứ chẳng phải xứ, chữ Đa là nghĩa nói tận biên... thì những Bồ tát đó được những điều này gọi tên là Quyết Định Quan Sát các pháp hạnh Tam ma địa. Nhân mười sáu thứ chữ Đà la ni này, các Đại Bồ tát chẳng bị sự quở trách của người trí, bỏ tham dục, sân hận, ngu si, diễn nói đạo “đến bờ kia”, được bốn vô úy, thọ thân lực sĩ, cắt đứt cành dục, được sức mười lực, gặp được diệu âm, được diệt nhiệt não, trao ký cho Thanh văn, Độc giác, xa lìa tả đạo, được Như Lai địa, lời nói của Như, tạo tác của Như liền được, chúng sinh cao mạn sẽ khiến cho giải thoát, làm sự nghiệp của Phật, thuận được tụ trí, chúng sinh bị nghi thì đoạn sự nghi hoặc ấy, do sự có hòa thiện nên chung trụ yên vui, tràn đầy đại bi, vượt cảnh giới ma, tràn đầy tiếng hay, trừ kiêu mạn phóng dật mà được với Nhẫn, giỏi Định sâu, khiến qua các đường mà vì nói pháp, ở trong các pháp khiến cho được chỗ nông (cạn ?) vì trụ bờ kia khiến đến chỗ đất, biết sở hạnh của các chúng sinh, biết phương tiện hạnh của các pháp, nhớ vô số kiếp giữ các pháp thể, tịch diệt các ác, thanh tịnh các nghi, được không đẳng trí, thuận đến chỗ diệt phiền não, chóng đạp lên Giác trường, trời rồng phải khen ngợi, thuận giác các trí, khéo diệt cháy nóng, nói tự thể của các chúng sinh, ăn món ăn cam lộ, đoạn các nghi thụy (nghi hoặc, thụy miên), lìa bỏ theo chấp trước tập khí sở hữu, dùng đại bi ấy che chở các chúng sinh, nghĩ trước đời trước, thấy công đức ở Niết bàn, thuận hiểu sở hạnh của phàm phu, được đại trí mật hủy hoại các niệm khác, kêu với loa pháp, khiến trụ Phật trí, vượt chủng loại tướng, thuận hiểu sinh ra, biết chỗ chúng sinh, có thể khiến cõi Phật phong mãn, không cháy rực kia, lìa khỏi già bệnh, chóng có thể thuận hiểu mật ngữ phương tiện, đoạn đường sinh tử, thuận đến Niết bàn yên ổn, với bọn ác ma chóng có thể hàng phục, ở trong vô lượng thế giới thấy Phật Thế Tôn, ly dục rồi mà nghe pháp, cũng chẳng quên trí, như đã hy vọng thủ lấy cõi Phật, khéo biết du hý, sinh ra các Tam ma địa. Này Hỷ Vương ! Đại Bồ tát nếu được Thuyết quyết định quan sát chư pháp hạnh Tam ma địa này thì phải biết cũng được Nhất thiết trí. Vì sao vậy ? Nhưng lúc nào thì Bồ tát đó muốn chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác ? Hoặc một đời, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn, hoặc năm, hoặc mười, hoặc hai mươi, hoặc trăm đời, hoặc ngàn đời, hoặc trăm ngàn đời, hoặc một kiếp, hoặc trăm kiếp, hoặc ngàn kiếp, hoặc trăm ngàn kiếp... cho đến muốn vào thời gian lâu thì Bồ tát đó cũng lâu mới chứng giác. Dùng nguyện tự tại, ở trong lưu chuyển, đến tận bờ cõi kiếp sau cùng. Vì sao vậy ? Nhưng về sau, ở trong các pháp tự tại.

Khi đức Phật nói bản pháp phẩm Đà la ni tự môn này thì ba mươi hai ngàn Bồ tát được Nhẫn. Lúc đó ba ngàn đại thiên thế giới này sáu thứ chấn động. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nói bài tụng ca này rằng :

Không lẫn không đục không uế tạp

Lìa phi thú (chẳng phải đường) đi đến cam lồ

Ứng trời đất cúng, không ai so (Vô Đẳng)

Trì phương tiện này, hành mười lực

Vui làm ly oan, hoang trần diệt

Mặt như hoa nở, người trời vui

Bậc Ứng Thắng, đức độ “hữu lưu” (dòng hữu = chỉ thế gian)

Trì phương tiện này hành mười lực.

Trừ diệt chúng khác, khéo hạnh khác

Người trời ái trọng, ý khác tan

Phân biệt hạnh khác ý khéo khôn

Trong đạo này hành hạnh mười lực.

Hữu, thủ, bất Như hạnh bỏ hết

Xét hiểu người trời, ý quyết Như

Hạnh hiển như trăng trong cõi hư (không)

Bậc Hữu nhãn hạnh hành kẻ trí.

Người trời thương yêu người ý đó

Chẳng ưa cảnh “hữu thú”, không lầm

Phân nói trong chúng, hạnh hàng trăm

Hạnh bậc trí này soi các hướng.

Được mười, hai mươi... có hai khoảng (phục hữu nhị ?)

Người trời phụng các tướng đẹp tươi

Được, mất chẳng trước, lìa cả hai

Kia được hạnh này soi mọi hướng

Thí chủ cam lồ hành thí thiện (giỏi, khéo)

Thường cùng thắng trì thế ngưu vương

Sức lớn mười lực, lực khác hàng (qui phục)

Chẳng lâu được hạnh người trí ấy.

Phân biệt nhiều đức, thắng niệm ý

Tịch diệt nhiều khổ cùng nhiều vui

Nhiều người tôn trọng, khéo phụng thờ

Học đây, vui công đức trí Phật.

Như vua trâu, chẳng lâu hàng phục

Diệt trăm nhiệt não, các nhiệt (nóng) lìa

Bay đường hư không, trăm cõi qua

Hành phương tiện này soi các hướng.

Chỗ tin khéo léo các thế tín

Tin ý thẹn (tàm) trụ niệm không (ai) bằng (vô đẳng)

Chấn khử trăm phước (đắm trước) tạo thế hương (hương đời)

Trì phương tiện này, trăm đức tụ (gom)

Phân biệt nhiều đức, trừ ba cấu

Đó có lời mỹ diệu trơn thuần

Giỏi nói trong trời đất trăm phần

Trì đức này tài (của) thắng vô tỷ (không ai bằng).

Độ người trời, trụ thành vô úy

Lời nói Như, thôi bỏ ám trần

Như hành, vô não hành Như hành (?)

Trì phương tiện này, hạnh mười lực.

Của cam lồ thắng danh nghe được

Thắng đức vô đẳng được hành Như

Ý Như, người trời, lời nói Như (?)

Người trí học đạo cam lộ ấy.

Vô trần soi khắp mười phương cõi

Thoát mạn, chúng sinh thẳng không co

Đến thành vô úy, lìa mạn kiêu

Trì phương tiện này, hạnh mười lực.

Hợp hóa người trời bằng ngôn thuyết

Chẳng vui thích dục, thích pháp chơn

Nói làm, người làm, nói trăm hành (động)

Học phương tiện này, bậc thiện ý.

Tịnh chúng sinh đẳng hạnh, đẳng ý

Nói thiện hợp, thiện mỹ, thiện hành

Trong các pháp khéo thường vui cùng

Hành phương tiện này ưa móc ngọt (cam lộ)

Lực ác ma, chẳng lâu hàng phục

Trừ bỏ hoang cấu, ba cấu tan

Hành ở đất này của cải thêm

Trì phương tiện ấy, hạnh mười lực

Hành thắng thú (đường), vượt qua đường ác

Chúa thú (vật) voi ngựa, hành giả đùa ( giỡn)

Khen đức, trì đức, trăm đức thừa (đầy tràn)

Chẳng lâu được hạnh người trí ấy.

Hành xử khéo léo, chẳng trụ “hữu”

Thị hiện thế lực quyết định hơn (thắng lực)

Đến đất, trụ nước cấu bẩn tan

Như học hạnh này, mười lực hạnh.

Bỏ thành cùng đất đai thôn xóm

Bỏ ái, chẳng ái, cảnh chẳng yêu

Bỏ thắng thọ (cây), bỏ người oán thù

Người trí học đây, lực quyết tiến.

Nhiều trăm kiếp quá khứ ức niệm

Nhớ chết và sinh trong các đời

Và nhớ pháp thuở trước nghe rồi

Trì tịch tịnh này, thắng định ý

Đuốc pháp cháy rực, thường khiến “Hữu”

Vui pháp, tài pháp kia thí ban

Và sở hạnh mười lực giữ gìn

Trì tịch tịnh này thắng định ý.

Trụ Xá ma tha có từ ý

Tịch tịnh chỉ ý tịch tịnh căn

Tịnh giới, tiếng ái ngữ ngọt ngon

Trì Tam ma địa này phải có

Như tê giác đi, không ngã sở

Được đến phương nhàn cùng đạo nhàn

Theo chỗ trụ, lìa tám chẳng nhàn.

Trì tịch tịnh này, thắng ý định.

Với niệm giác, biết hạnh tự tính

Cũng sẽ biết tận pháp hoàn toàn

Lực kham nhẫn tối thắng hiện lên

Ở trong này học hạnh nghĩa thắng

Nên được các thế gian tán thán

Được hàng trăm trời sẽ ngợi khen

Chỗ làm, người làm làm lặng yên ( tịch tịnh)

Ở biến trí này trụ thân cận.

Dấu chân chim bay sẽ hành thuận

Dược tịch diệt với các não phiền

Phương tiện đó, ma la chẳng làm

Tịnh này khó thấy, siêng tương ứng

Nói quyết định giác, Thiện Thệ hạnh

Tạo vô hữu, bứng hữu ái lên

Được người trong đời cung phụng luôn

Trì tịch tịnh này, thắng định ý.

Người đoạn đã hợp với tịnh ấy

Đoạn xong phiền não, ba cõi soi

Tạo tác bóng che khắp mọi nơi

Nếu trì Thắng tam muội này được

Nghĩ sở hạnh mình và người khác

Nghĩ rồi vì (họ) nói như thuận hành

Hạnh bậc thể thắng không mạn hành

Trì Tịch tịnh này thắng định ý.

Có thí xả rồi, điều phục ý

Thú hướng Thiện Thệ đi đến mau

Nói vô úy, ban vô úy cho

Định thượng thắng này thì liền được.

Ở trong các đời sẽ thân thích

Lầm lẫn khỏi rồi lại hiểu thông

Họp chung nói bàn thật khéo khôn

Nếu người tu hành tam muội ấy.

Thân bằng kim cương hợp nhất lại

Mau chóng phá tan quân ma la

Thuần bạch tịnh soi không bợn dơ

Trì tịch tịnh này Thắng định ý.

Phải chỗ mà trụ, phù hợp chỗ

Ở chỗ chẳng trụ được ý trên

Ở chỗ phi xứ có khéo khôn

Nếu người định ý này giữ gìn được.

Không trước (chấp) biện nói Phật công đức

Sinh ra câu trí giác giải nhiều (câu trí : đơn vị tính số lượng)

Kia chẳng chính ý không nghi ngờ

Thắng định ý này có thể giữ.

Chóng có thể tin cam lộ đó

Cũng thường tin cùng với người vui

Hộ đời khác khi được quả rồi

Thắng định ý này có thể giữ.

Tự biết rỗng không đối với tụ (sự vật gom lại)

Kia không lẫn lộn không mê lầm

Đến trong ba “hữu” các hạnh lành

Tam muội này, nếu người gìn giữ.

Sẽ được xa lìa lão bệnh tử

Khéo thẳng ngay chẳng bị người hàng (phục)

Tâm ấy trì giới luôn vui mừng

Định ý này nếu người gìn giữ.

Cắt đứt cây sinh (sinh thọ) là Thánh đạo

Mau chạm đến tịch tịnh Niết bàn

Đất “Di lê xa” (?) chẳng nhiều thêm

Tam muội này nếu người gìn giữ.

Chẳng tự tán dương, lời xảo diệu,

Trên mọi đức, công đức lừng vang

Vào chúng, đoan chính hiện rõ ràng

Như sao Mão, trời, trăng sạch rỗng (trống không

Chúng quyến thuộc, nhà đủ danh tánh

Bà con Thiện Thệ người đó gần

Tài biện (luận) người đó như Thủy vương (vua nước)

Là tam muội này phải gìn giữ.

Tự tính pháp, hạnh tướng vô ngã

Ở trong các đời thuận giác xong

Mau làm chúa dũng kiện ba ngàn

Hạnh bình đẳng Kinh này hiếm có.

Cho đến rừng trong ba ngàn cõi

(Họ) Tính người, ba loại hạnh chúng sinh

Với thắng thượng đó được trí môn

Cần (siêng) này tương ưng chạm cam lộ,

Dao độc và lửa chẳng vào đó

Chẳng sợ cùm trói các não phiền

Dạ xoa, la sát chẳng hại tan

Tương ưng này nếu lòng tịnh tín.

Của không mất, của chẳng ly tán

Không nghiệp báo, không bệnh, không lo

Chẳng câm, chẳng chột cũng chẳng mù

Trì bốn câu này (?) như vậy đó.

Trên hai chân sáu mươi ba ức (?)

Khắp nghĩ đến sự tương ứng này

Chỗ đó nếu cùng tạng Tổng trì

Tịch này khó thấy đã tương ứng.

Nếu Bồ-đề muốn mau chạm đến

Nếu muốn lấy đức yên ổn hơn

Nên khiến hành Thắng kinh này liền

Thì các hy vọng đều đầy đủ.

Kia đã nghe niềm vui thiện hỷ

Nếu người ở trong cầu Bồ-đề

Siêng năng tương ứng bốn ngày qua

Thì kia sẽ được Thắng Tịch định.

Tám mươi câu trí trên hai cẳng (chân) (?)

Còn hơn sáu mươi na do đa (?)

Đều nghĩ cùng với tương ứng này

Tam ma địa này chuyển tụng tác.

Nếu nghe thiện này, lợi ích được

Nghe rồi nếu có tín giải liền

Trong công đức Phật, không nghi nan

Như đến Bồ-đề , trì như vậy.

Thật hạnh này, kia đã nghe nói

Không được không đức vui chay lười

Các phước nhất định đến trong tay

Nếu trì kinh này hoặc ghi chép.

Ta nhớ trước đây vô số kiếp

Có bậc tối thắng tên Biện Tràng

Thắng tam muội này, ngài tuyên dương

Vương tử Nguyệt Diệu nghe điều đó

Mà xuất gia, vương vị chóng bỏ.

Ông ấy nghe một đêm một ngày

Đến lúc chết, trong phần sau này

Lại được sinh đến những cõi khác

Nhiều như cát, kinh đó nghe được

Thấy rồi, lại thấy, thắng vô biên

Các chỗ nghe tam muội này xong

Thì trong ba kiếp, Thắng Giác chứng

Gọi là bậc Bảo Viêm Tối Thắng

Được Phật Nhiên Đăng thọ ký cho.

Nghe kinh này, như vậy lợi to

Nên đã nghe rồi chớ lười biếng.

Ta nay muốn bảo với đại chúng,

Tốt đẹp sở hữu của trời người

Ta ở trong này mở kho báu

Của cải mười lực ông lấy đi !

Lại này Hỷ Vương ! Đời quá khứ trước kia, chẳng sao tính được kiếp, qua chẳng thể tính được sự xa rộng, vô lượng chẳng thể nghĩ, chẳng thể lường, vào thời tiết đó, có đức Phật tên là Biện Tài Anh Lạc Trang Nghiêm Vân Minh Xuất Hống Hiển Âm Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri xuất thế Minh Hành Cụ Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Điều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Giáo Sư Phật Bà Già Bà (Thế Tôn). Đất nước của đức Phật ấy tên là Vô Biên Bảo Công Đức Trang Nghiêm, thế giới tên là Vô Cấu, kiếp tên là Ái Kiến.

Lại này Hỷ Vương ! Đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Biện Tài Anh Lạc Trang Nghiêm Vân Minh Xuất Hống Hiển Âm đó có vô lượng Thanh văn, có bảy mươi hai câu trí Đại Bồ tát. Những vị ấy đều được Nhẫn, đạt đến Quán Đảnh địa.

Lại này Hỷ Vương ! Ở trong chúng Bồ tát đó, có vị Bồ tát nói pháp tên là Vô Biên Công Đức Biện Tràng Du Hí Minh Âm. Vị Bồ tát đó có quá hơn số lượng niệm hành biện tài tàm quí.

Ở trong Đà la ni, ngài dạo bước đến tận cùng, được trí ngũ thông. Vị Bồ tát đó bạch đức Phật kia, xin đức Phật ấy quan sát xong mà vì bốn bộ chúng nói rộng rãi Thuyết Quyết Định Quan Sát Chư Pháp Hạnh Tam Ma Địa này. Lại này Hỷ Vương !

Vào lúc đó, có vương tử tên là Phước Báo Thanh Tịnh Nhân Sơ Ái Minh Thanh Tự Tại mà hình ảnh đẹp, đoan chính của vương tử đó có thật đáng quan sát, tịnh sắc tối thắng, thành tựu mỹ mãn đầy đủ. Ở trong Vô Thượng Chánh Giác ngài đã phát khởi hạnh từ lâu. Này Hỷ Vương !

Vương tử Phước Báo Thanh Tịnh Đa Nhân Sơ Ái Minh Thanh Tự Tại đã nghe Bồ tát Vô Biên Công Đức Biện Tràng Du Hí Minh Âm nói pháp. Pháp nói này tên là Quyết Định Quan Sát Chư Pháp Hạnh Tam Ma Địa. Nếu Bồ tát vào trong thôn, thành, tụ, ấp, kinh đô vua mà nói thì vương tử đó luôn ở bên vị nói pháp đó để nghe Tam ma địa này.

Nghe rồi, vương tử đó vui mừng nhảy nhót, yêu thích thỏa lòng, thiện ý lại sinh đi đến chỗ vị Đại Bồ tát, người nói pháp đó. Đến rồi, vương tử đảnh lễ dưới chân của người nói pháp đó, tôn trọng, kính yêu chắp tay mà trụ ở trong Tam ma địa này. Vương tử ấy lại vui mừng nhiều hơn nữa, muốn nghe Tam ma địa này, người nói pháp đó lại biết vương tử kia đã tịnh tín nhiều hơn, lúc đó lại nói rộng rãi Tam ma địa này.

Này Hỷ Vương ! Như vậy, vị vương tử đó ở bên người nói pháp kia nghe Tam ma địa này xong lại vô cùng hoan hỷ, nhảy nhót, yêu thích thỏa lòng, rồi thiện ý lại sinh, theo chỗ áo mặc mà đem dâng che, nói lời như vầy : “Ngài khiến cho chúng sinh được báu Tam ma địa này”. Vương tử đó do sự xả thí thiện căn của người nói pháp kia, ở trong hiện pháp vưng thờ tám mươi lần cát sông Hằng những đức Phật Thế Tôn, ở bên các đức Phật Thế Tôn đó, nghe được Tam ma địa này, ở chỗ các đức Phật Thế Tôn đó, đều tạo sự cúng dường tối thắng, ở trong giáo pháp của các đức Phật Thế Tôn đó, xuất gia nhiếp thọ chính pháp, ở các chỗ chẳng nghe trăm ngàn câu chi kinh điển mà có thể biện nói, sinh ra ý niệm luôn tròn đầy, thọ sinh biến hóa được trí ngũ thông, được Đà la ni, biện tài vô trước.

Vương tử đó thuận theo thứ lớp hành các pháp trợ Bồ-đề . Mãn rồi, vương tử đó, ở trong cõi Phật Vô Biên Công Đức Bảo Trang Nghiêm, chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, sống lâu không lường, chúng Thanh văn không lường, chúng Bồ tát không lường, ánh sáng không lường, nguyện công đức trang nghiêm không lường. Lại này Hỷ Vương !

Trong thời tiết đó, người nói pháp có tên là Vô Biên Công Đức Biện Tràng Du Hí Minh Âm, ý ông chớ tác khởi dị kiến, vì sao vậy ? Này Hỷ Vương ! Vì đó là Đại Nhãn Như Lai vậy.

Ngài đã được đức Như Lai Bất Động thọ ký Bồ-đề . Lại vương tử tên là Phước Báo Thanh tịnh Đa Nhân Sở Ái Minh Thanh Tự Tại kia thì đức Như Lai Vô Lượng Thọ kia tức là Vương tử lúc đó vậy. Lại này Hỷ Vương !

Vương tử đó nghe Tam ma địa này xong thì nghiệp chướng của bảy mươi ngàn kiếp đều diệt hết, liền được Phân Biệt Chư Pháp Cú Phẩm Xuất Vô Biên Môn gọi là Đà la ni và chẳng xa lìa Tam ma địa cho đến Bồ-đề trường. Này Hỷ Vương ! Nhân duyên đó như vậy nên ông phải biết, Tam ma địa này ở chỗ các Đại Bồ tát như vậy tạo nhiều thanh tịnh chuyển các nghiệp chướng trang nghiêm cõi Phật thanh tịnh chuyển công đức, mau tròn đầy chuyển Phật pháp.

Lại này Hỷ Vương ! Đời quá khứ trước kia, chẳng thể tính được kiếp, qua chẳng thể tính được xa rộng, vô lượng chẳng thể nghĩ, chẳng thể lường, vào lúc đó, có đức Phật hiệu là Tịnh Diện Vô Cấu Nguyệt Diệu Oai Tạng Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Xuất Thế Minh Hành Cụ Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Giáo Sư Phật Bà Già Bà (Thế Tôn). Lại này Hỷ Vương !

Đức Như Lai Ứng Chánh Biến Tri Tịnh Diện Vô Cấu Nguyệt Diệu Oai Tạng đó đã sở hữu một cõi Phật công đức trang nghiêm mà ta hôm nay chẳng thể ở trong một kiếp, rộng nói hết được vô lượng công đức như vậy tụ tập trang nghiêm cõi Phật thanh tịnh. Chúng Đại Bồ tát, ở trong Phật pháp đều đã quyết định hết. Này Hỷ Vương !

Vào lúc đó có con ông trưởng giả tên là Hiển Diệu Quảng Than. Ông đó đi đến chỗ đức Như Lai Tịnh Diện Vô Cấu Nguyệt Diệu Oai Tạng. Đến rồi, ông đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn đó, rồi đem vô lượng chuỗi ngọc báu Ma Ni hàng trăm ngàn xen lẫn phụng che đức Phật đó mà đứng trước mặt đức Phật vì muốn được pháp.

Đức Như Lai đó biết ông ấy đã tịnh tín nên với Tam ma địa này, ngài rộng nói lúc đầu, đoạn giữa và về sau. Này Hỷ Vương ! Như vậy con ông trưởng giả đó ở bên đức Phật kia nghe Tam ma địa này xong vui mừng, nhảy nhót, yêu thích, thỏa lòng rồi thiện ý phát sinh, được đại pháp lực.

Được pháp lực rồi mà chẳng dùng để cầu trong trời người, ông ấy xả bỏ bảy mươi ngàn phụ nữ, xả bỏ một dũ xà na bốn kho tàng lớn, xả bỏ tám trăm vườn rừng, xả bỏ mọi đồ thọ dụng của mình, ở trong giáo hội của đức Thế Tôn đó, cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà sa, dùng niềm tin xuất gia chẳng phải nhà mà tu hành. Lại này Hỷ Vương ! Con ông trưởng giả đó, khi trước ở nhà, đất chẳng trải áo thì chẳng từng đạp chân xuống.

Khi đã xuất gia rồi, trong mười ngàn năm, vẫn chẳng trải áo, chân chẳng đạp đất, chẳng ngồi, chẳng nằm, chỉ trừ khi thọ dụng bữa ăn. Trong mười ngàn năm, ông ngủ nghỉ chẳng lâu, cho đến trong khoảnh khắc gảy ngón tay cũng chẳng từng phân biệt dục, phân biệt sân, phân biệt hại. Trong mười ngàn năm ông chẳng sinh dị tâm (lòng khác) mà chỉ đối với biến trí tương ứng phát khởi tu hành tinh tấn, được Đà la ni Chư Từ Thanh Nhiếp Chư Phật Ngữ Danh, thành tựu Đà la ni Phổ Âm Nhập Môn Danh.

Ông ấy mạnh mẽ tinh tấn đầy đủ như vậy nên mới có sáu mươi nadođa chư thiên ở chỗ vị Bồ tát đó siêng làm cung cấp, hầu hạ, khởi tác tương ứng, khiến cho thân tâm Bồ tát ấy an vui, đủ khả năng tinh tấn. Con ông trưởng giả đó đi xuất gia rồi, tinh tấn mạnh mẽ như vậy, nghe Tam ma địa này nên chín mươi chín câu trí trăm ngàn kiếp lưu chuyển đều quay lưng bỏ hết, hiện tại gặp được bảy mươi ngàn đức Phật. Có những chỗ, trong đó đi xuất gia rồi, ông ấy thọ trì, đọc tụng, tư duy Tam ma địa này, vì người khác giảng nói rộng rãi.

Ông ấy phát khởi tu hành tinh tấn chẳng hành động phóng dật, thành tựu được Tam ma địa này, ở trong tám kiếp chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đạt được tướng trang nghiêm công đức của cõi Phật như vậy mà trụ như cõi Phật sở hữu của đức Thế Tôn Tịnh Diệu Vô Cấu Nguyệt Diệu Oai Tạng Như Lai đó. Ta nay thấy ông ấy ở trong địa phận phương Nam, qua khỏi đây bốn mươi bốn trăm ngàn cõi Phật, tên là thế giới Đại Trang Nghiêm.

Ông ấy ở trong cõi đó làm Phật hiệu là Thiện Ý Hy Lạc Như Lai, ngài đang nói pháp cho vô lượng chúng Đại Bồ tát tụ tập tính chẳng thể hết. Này Hỷ Vương ! Những vị Đại Bồ tát đó nếu muốn mau chóng đối với các pháp thuận theo được tự tại thì phải nghe, phải trì, phải nói, phải nghĩ Tam ma địa này.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại muốn khen ngợi công đức của Tam ma địa này nhiều hơn nữa nên liền nói lời tụng ca rằng :

Ta nhớ đời trước vô biên kiếp

Giống như cát sông Hằng không lường

Có bậc trí dẫn đường thế gian

Các phương nghe biện tài vang tiếng

Có Tỳ kheo trong giáo tối thắng

Trì pháp, nói pháp bậc trí nhân

Định tịch tịnh này kia nói xong

Bên ngài Vương tử đã thính thọ

Liền đem áo mình mà phụng phú (che)

Hồi hướng đạo Tối Thắng Bồ-đề

Lại thấy vô biên những đạo sư

Được đạo, hiệu Vô Lượng Mạng đó

Trước kia tuệ tác nghiệp sở hữu

Đều hết không còn, nghiệp báo không (có)

Nghe tam muội đại diệu này xong

Người có biện tại đủ công đức

Kia về sau trung lúc

Đạo, nếu có muốn cầu

Định này phải nghe mau

Tự sẽ trừ các ác.

Lại Phật Vô Cấu Nguyệt

Nói Tam ma địa này

Con trưởng giả nghe rồi

Hành xuất gia chọn lấy.

Mười ngàn năm ông ấy

Tư duy tam muội này

Chân chẳng đạp không y (áo)

Cũng chẳng vào ngủ nghỉ

Đây được Bồ-đề ấy

Chỉ có cùng chung nghe

Chẳng ưa ở trong nhà

Cũng không muốn tài vật.

Kia đến các cõi Phật

Ở đó đều nghe xong

Các hạnh đã nhập môn

Chẳng lâu đã thuận giác.

Tâm ấy, kia thỏa trước

Cũng đầy xe ý kia (ý xa)

Kia chóng được Bồ-đề

Đây sao chẳng cần tác (siêng làm) ?

Đời đương lai trong lúc

Nhiều người cầu Bồ-đề

Không tư tài, không vui (lạc)

Hành xuất gia chẳng dục (ham muốn)

Giận mắng mà kêu trách

Hủy nhục nói ác ngôn

Mỗi mỗi đều nghe xong

Mà nói sẽ làm Phật.

Khổ hàng ngàn phi nhất(chẳng phải một)

Nhịn chịu vì dục thôi

Vì ái dục làm tôi (tôi tớ)

Mà nói sẽ làm Phật.

Trong mơ đã thấy Phật

Kia tạm được hồi sinh

Với người thường khi nhờn

Bồ-đề ta chẳng ngợ (nghi ngờ)

Đã nghe xong Kinh đó

Tiếng nói, nghĩa chẳng thông

Mà sống lại trong lòng

Chẳng lâu sẽ làm Phật

Những người nghe Kinh Phật

Nếu đã nghe đây xong

Thì họ sở trước không (có)

Như không trung gió thổi

Có người nhà ra khỏi

Cầu Bồ-đề nhiều hơn

Vì tri thức nên sân

Mỗi mỗi mà sinh khởi

Kia nghèo cùng phước thiếu

Nghe ít (hạn chế) liền vui mừng

Với người có khi tâm(lòng lừa dối)

Bờ Bồ-đề ta tới

Đã thấy (ánh) sáng được cõi

Chúng sinh mà cúng dường

Do đây thiếu vui mừng (đẳng hỉ ?)

Biết Bồ-đề sẽ đến.

Bồ-đề đó xa lắm

Nếu dua nịnh ghét ghen

Ta đạt trí đôi lần

Thì càng xa tối thắng.

Đã nghe diệu Kinh điển (này)

Biết sẽ được Bồ-đề

Thấy cõi Phật Di Đà(Vô Lượng Thọ)

Sẽ chẳng lâu làm Phật.

Bồ-đề đó xa lắc

Có được thấy chỗ nương (y chỉ)

Mà lòng chẳng tương ưng

Thì ta chẳng thọ ký.

Và trưởng giả tử ấy

Của cải đã bỏ lìa

Về sau đã xuất gia

Làm người đi khất thực.

Như Tam muội này được

Ở chỗ Phật Nhiên Đăng.

Nếu nghe khéo tu hành

Chẳng lại sinh ái dục.

Kia xuất gia cạo tóc

Lợi tri thức buộc ràng

Trong biển chọn (lấy) ma đam (ý chọn lấy điều không tốt)

Mà xả bỏ trân bảo.

Trong nghe chẳng sạch ráo

Không giới chẳng xuất gia

Tu hành đạo Bồ-đề

Kia chớ nên buông thả.

Sau này nếu có chỗ

Nói pháp phải lắng nghe

Người kia vì bạn bè (tri thức)

Lại làm chẳng khen nói.

Ở trước phải lễ bái

Và phải xưng điều lành

Vậy tung áo cúng dường

Lại làm chẳng khen nói.

Khóc nước mắt vung vẩy

Phụng thí với tự thân

Tại chúng, kia ở trong

Mà nói ác hạnh ấy.

A xà (già) lê, chẳng ái (yêu thương)

Người cận tụng, khinh khi

Vì thiếu mà phá nhau

Do nhà mà ganh ghét.

Chỉ tin phước người khác

Đức mình chẳng nghĩ suy

Độc ác sẽ sinh sôi

Biết người khác giàu cúng (dường)

Hương hoa, bột thơm lựng

Tràng, cái, phan, man hoa (vòng hoa cài tóc)

Tấu nhạc... cúng dường

Ta Rằng : Bồ-đề sẽ được

Đây, ta cúng dường thật

Nghe thắng định này rồi

Lợi tri thức bỏ rơi

Tu hành thì tương ứng

Sao cúng dường thân mạng

Các tụ ta bỏ xong

Nên cúng dường pháp thân

Cũng như cúng thiện thật.

Ái mạng đã bỏ hết

A lan nhã qua đêm

Kinh này tụng niệm luôn

Đến hết mạng tận thế.

Này Hỷ Vương ta bảo

Tu theo điều nghe này

Không chung bọn dưới đây :

Dua nịnh làm phe đảng

Ở trong ta chẳng tán (khen)

Trong chúng phải nói rằng :

Đây thật ! Đây chẳng chân !

Ở trong chớ dục tín (muốn tin)

Chẳng ở chỗ cảnh hiện

Có muốn Phật Bồ-đề

Sở hữu các hạnh kia

Thì Bồ-đề xa lắm.

Thần thông ta đã chứng

Sức đại thể thấy đây

Cấm giới các hữu này

Tu hành ta đã được.

Ái giới (yêu thích giới cấm) mà phân biệt

Trong chúng tợ thú hoang (dã thú)

Lợi tri thức bỏ xong

Riêng ngụ A lan nhã.

Ta không có chỗ đó

Lời ta nói thật đây

Đời mạt thế sau này

Phú chúc ông Kinh ấy.

Vô Lượng Thọ phóng quang

Và Bất Động Pháp Vương

Sáu mươi ba ức Phật

Chúng hội đã thấy hết

Giáo sư (đức Phật) phú chúc cho

Khiến hộ pháp về sau.

Như Kinh này trí ấn

Ta khắp trì ở sau

Ba ngàn (cõi) liền chấn động

Chư thiên xưng lời lành

Có nhiều hoa mưa xuống

Khi nghe phú chúc này.

Nguồn bản dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng KinhGiấy phép: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch) · nguồn: rongmotamhon.net (Liên Phật Hội) · EN: AI translation from Vietnamese source, awaiting source English🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến