Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch)

Đại Trí Độ Luận quyển 27

Tên chữ Hán:大智度論

📖11,059 từ · ~44 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ - QUYỂN 27

QUYỂN 27

42. GIẢI THÍCH ĐẠI TỪ ĐẠI BI
Đại từ, Đại bi đã phân biệt ở trong chương nói về Bốn tâm vô lượng
rồi, nay sẽ nói lược thêm. Đại từ đem vui cho tất cả chúng sanh, Đại bi
cứu khổ tất cả chúng sanh; Đại từ đem nhân duyên hỷ lạc cho chúng
sanh, Đại bi đem nhân duyên lìa khổ cho chúng sanh. Ví như có người,
các con bị lao tù, sắp chịu xử tử, cha nó thương xót, dùng đủ cách khiến
cho nó được khỏi, ấy là Đại bi. Khi được khỏi khổ rồi, lấy năm điều dục
lạc cấp cho nó, ấy là Đại từ. Như thế là sai biệt giữa từ và bi.
Hỏi: Đại từ, Đại bi là như thế, thế nào là Tiểu từ Tiểu bi? Nhân tiểu
ấy mà gọi là đại chăng?
Đáp: Từ bi thuộc trong Bốn vô lượng tâm gọi là tiểu, Đại từ, Đại bi
được thứ lớp nói trong Mười tám pháp không chung, gọi là đại.
Lại nữa, Từ bi trong tâm Phật gọi là đại, Từ bi trong tâm người khác
gọi là tiểu.
Hỏi: Nếu như vậy, cớ sao nói Bồ-tát thực hành Đại từ Đại bi?
Đáp: Đại từ của Bồ-tát, đối với Phật là tiểu, đối với người Nhị thừa
là đại, ấy là giả danh đại. Đại từ Đại bi của Phật, chân thật tối đại.
Lại nữa, Tiểu từ chỉ có tâm nghĩ đến chúng sanh vui mà không có
vui thật sự, Tiểu bi là thấy chúng sanh bị thân khổ tâm khổ, thương xót
mà thôi, chứ không cứu thoát được. Đại từ là nghĩ làm cho chúng sanh
được vui và cũng cho vui thật sự. Đại bi là thương xót chúng sanh khổ và
cùng làm cho thoát khổ.
Lại nữa, Từ bi của người phàm phu, hàng Thanh văn, Bích-chi Phật.
Bồ-tát. gọi là tiểu, Từ bi của Phật mới gọi là đại.
Lại nữa. Đại từ là từ trong tâm đại nhân sanh ra Mười lực, bốn việc
THÍCH KINH LUẬN 2
không sợ, Bôn trí vô ngại, Mười tám pháp không chung, từ trong đại
pháp xuất ra, có thể phá đại khổ của ba đường ác, có thể cho ba thứ vui
lớn là vui trời, vui người: vui Niết-bàn.
Lại nữa, Đại từ trùm khắp chúng sanh mười phương ba đời, cho đến
côn trùng, Từ thấu xương tủy, tâm không lìa bỏ. Chúng sanh trong ba
ngàn đại thiên thế giới, đọa ba đường ác, nếu có người chịu thay hết khổ
đó, làm cho được thoát, lại lấy năm thứ dục lạc, thiền định lạc, thế gian
tối thượng lạc, tự do đem cho được đầy đủ tất cả, rồi đem so với Từ bi
của Phật, trong ngàn vạn phần không kịp một. Vì cớ sao? Vì cái vui thế
gian giả dối không thật, không lìa khỏi sanh tử.
Hỏi: Pháp ở trong tâm Phật, hết thảy đều đại, cớ sao chỉ nói Từ bi
là đại?
Đáp: Các pháp công đức của Phật đều đại.
Hỏi: Nếu như vậy, sao chỉ nói từ bi là đại?
Đáp: Từ Bi là căn bản của Phật đạo. Vì sao? Vì Bồ-tát thấy chúng
sanh bị sanh, già, bệnh, chết khổ. thân khổ, tâm khổ, đời này đời sau bị
các khổ bức não, sanh tâm Đại từ Đại bi cứu các khổ như vậy, rồi sau
phát tâm cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Cũng vì lực Đại từ bi
nên ở trong sanh tử trải vô lượng A-tăng-kỳ kiếp, tâm không chán bỏ.
Do lực Đại từ bi, nên đáng được Niết-bàn từ lâu mà không thủ chứng. Vì
vậy nên Từ bi trong pháp của chư Phật là đại. Nếu không tâm Đại từ Đại
bi thì đã sớm vào Niết-bàn.
Lại nữa, khi đắc Phật đạo, thành tựu vô lượng thiền định sâu xa, các
tam-muội giải thoát, sanh cái vui thanh tịnh, mà xả bỏ không lãnh thọ;
đi vào xóm làng thành ấp dùng các thí dụ nhân duyên để thuyết pháp,
biến hiện thân hình, vô lượng âm thanh, nghinh đón hết thảy, nhẫn chịu
chúng sanh mắng nhiếc phỉ báng, cho đến tự làm kỹ nhạc, đều là do lực
Đại từ Đại bi.
Lại nữa, Đại từ Đại bi, tiếng đại ấy chẳng phải Phật tự nói, mà do
chúng sanh nói, ví như sư tử lực đại, không tự nói lực đại mà đều do
muôn thú xưng gọi, chúng sanh nghe diệu pháp của Phật, biết Phật vì
cứu hộ chúng sanh nên trong vô lượng A-tăng-kỳ kiếp, làm việc khó
làm, chúng sanh nghe thấy việc ấy, mà gọi pháp ấy là Đại từ Đại bi. Ví
như một người có hai bạn thân, người ấy vì có tội phải bị giam lao tù,
một bạn lo cung cấp sự cần dùng, một bạn chịu chết thay; mọi người nói
người bạn chịu chết thay ấy là Đại từ bi. Phật cũng như vậy, đời đời vì
hết thảy chúng sanh đem đầu mắt tủy não bố thí; đều vì hết thảy chúng
sanh, chúng sanh nghe thấy việc ấy, cùng nhau gọi đó là Đại từ Đại bi.
Như vua Thi-tỳ (Sibi) vì cứu chim bồ câu, đem hết thịt trong thân thay
thế, vẫn không cân bằng thân bồ câu, lại lấy tay vịn cân muốn đem cả
thân thay thế. Bấy giờ đại địa chấn động sáu cách, nước biển nổi sóng,
chư thiên đem hương hoa cúng dường vua, chúng sanh xưng tán rằng:
Cảm thương một con chim nhỏ đến như vậy, thật là Đại từ Đại bi. Phật
nhân chúng sanh gọi, nên nói là Đại từ Đại bi. Vô lượng chuyện như vậy,
đều có nói rộng ở trong truyện Bổn sanh.
Hỏi: Các công đức khác như thiền định... vì người ta không biết,
nên không xưng là đại, còn Trí tuệ hay thuyết pháp... khiến người đắc
đạo, cớ sao không xưng là đại?
Đáp: Công năng Trí tuệ của Phật không ai biết hết được, còn Đại
từ Đại bi, vì đời đời không tiếc thân mạng, bỏ cái vui thiền định để cứu
chúng sanh, nên ai nấy đều biết. Đối với Trí tuệ Phật chỉ có thể suy loại
mà biết, chứ không thể biết rõ ràng, còn tâm từ bi thì mắt thấy, tai nghe,
nơi nơi biến hóa, rông lớn tiếng sư tử, cho nên có thể biết được.
Lại nữa, Trí tuệ Phật vi diệu, các Bồ-tát, Xá-lợi-phất còn không thể
biết, huống gì người khác. Tướng Từ bi có thể mắt thấy tai nghe, nên
người tin thọ được; còn Trí tuệ thâm diệu không thể lường biết.
Lại nữa, Đại từ Đại bi ấy, hết thảy chúng sanh đều ưa thích, thí như
thuốc ngon người ta ưa uống, còn Trí tuệ như uống thuốc đắng, phần
nhiều không ai ưa. Người phần nhiều ưa, nên xưng từ bi là đại.
Lại nữa, Trí tuệ thứ người đắc đạo mới tin thọ được, còn tướng đại
từ bi, hết thảy loại tạp đều tin được, như thấy hình tướng, hoặc nghe nói,
đều tin thọ được, và vì làm lợi ích nhiều, nên xưng là Đại từ Đại bi.
Lại nữa, Đại trí tuệ là tướng xả, tướng xa lìa, còn Đại từ bi là tướng
thương xót lợi ích chúng sanh. Sự thương xót lợi ích ấy, được hết thảy
chúng sanh ưa thích, cho nên gọi là đại. Đại từ Đại bi ấy, như trong kinh
Trì Tâm nói: Đại từ Đại bi có ba mươi hai thứ thực hành ở giữa chúng
sanh. Tướng nhiếp thuộc và các duyên của đại từ đại bi như đã nói trong
chương Bốn tâm vô lượng ở trước.
Lại nữa, công đức Đại từ bi của Phật, không nên phân biệt tìm cầu
hết tướng nó như trong pháp của Ca-chiên-diên đã làm. Các luận nghị
sư trên đây dùng pháp của Ca-chiên-diên để phân biệt hiển bày, không
nên tin hết vào đó. Vì cớ sao? Vì Ca-chiên-diên nói Đại từ bi, hết thảy
Trí tuệ là pháp hữu lậu, pháp hệ thuộc, pháp thế gian. Việc ấy không
đúng, vì Đại từ bi là căn bản của hết thảy Phật pháp, cớ sao nói là pháp
THÍCH KINH LUẬN 2
hữu lậu, pháp hệ thuộc, pháp thế gian?
Hỏi: Đại từ bi là căn bản Phật pháp, nên là hữu lậu, như trong bùn
sanh hoa sen, không được nói bùn cũng đẹp, Đại từ bi cũng như vậy, tuy
là căn bản Phật pháp, cũng không thể là vô lậu?
Đáp: Đại từ bi là nói vị Bồ-tát khi chưa thành Phật, hoặc nói là hữu
lậu, sự sai lầm ấy còn ít, nay Phật đã được trí giải thoát vô ngại, nên hết
thảy pháp đều thanh tịnh, tất cả phiền não và tập khí dứt sạch. Thanh
văn. Bích-chi Phật không được trí giải thoát vô ngại, phiền não tập khí
không hết, nhiều chỗ nghi không dứt, cho nên tâm phải hữu lậu, còn chư
Phật thì không có việc ấy, cớ sao nói Đại từ Đại bi của Phật nên là hữu
lậu?
Hỏi: Tôi không dám không kính Phật, nhưng vì tâm từ bi là vì chúng
sanh mà phát sanh, thì nên là hữu lậu?
Đáp: Thế lực chư Phật không thể nghĩ bàn, các Thanh văn, Bích-chi
Phật không thể lìa ý tưởng chúng sanh mà sanh từ bi, còn chư Phật có
thể lìa ý tưởng chủng sanh mà sanh từ bi. Vì cớ sao? Vì như tướng chúng
sanh mười phương là bất khả đắc, mà các A-la-hán, Bích-chi Phật, lại
chấp thủ tướng chúng sanh mà sanh Từ bi, còn chư Phật tìm tướng chúng
sanh mười phương là bất khả đắc, cũng không chấp thủ tướng chúng
sanh mà vẫn sanh từ bi, như trong kinh Vô Tận Ý nói: Có ba thứ Từ bi,
là chúng sanh duyên, pháp duyên, vô duyên.
Lại nữa, dối với hết thảy chúng sanh chỉ có Phật hành cùng tận
pháp không dối. Nếu Phật đối với chúng sanh chấp thủ tướng mà hành
tâm từ bi, thì không gọi là hành pháp không dối. Vì sao? Vì chúng sanh
là rốt ráo không thể có được, Thanh văn, Bích-chi Phật không gọi là
hành cùng tận pháp không dối, cho nên Thanh văn, Bích-chi Phật đối với
chúng sanh, với pháp, hoặc chấp thủ tướng, hoặc không chấp thủ tướng,
không nên nạn vấn, vì không hành tận cùng pháp không dối. Nhất thiết
trí dứt hết thảy các lậu, có thể từ trong tất cả pháp hữu lậu mà sanh ra, có
thể làm nhân duyên cho vô lậu, pháp ấy cớ sao tự là hữu lậu được!
Hỏi: Trí vô lậu mỗi mỗi có sở duyên, không thể duyên hết thảy
pháp, chỉ có trí thế tục mới có thể duyên hết thảy pháp, vì vậy nên nói
Nhất thiết trí là tướng hữu lậu?
Đáp: Trong giáo pháp ông có thưyết ấy. Chẳng phải trong Phật
pháp nói; như người cầm cân đi vào chợ, không đúng với cân của quan,
không ai dùng đến. Ông cũng như vậy, tự dùng pháp của mình không
đúng với Phật pháp, không ai dùng đến. Trí tuệ vô lậu cớ sao nói không
thể duyên hết thảy pháp; trí hữu lậu là giả danh hư dối, thế lực ít ỏi,
không thể chân thật duyên hết thảy pháp, mà trong giáo pháp ông tự nói
trí ấy duyên được hết thảy pháp!
Lại nữa, trong pháp Thanh văn có mười trí, trong pháp Đại thừa
có mười một trí, gọi là Như thật trí (trí thứ mười một). Mười trí ấy vào
trong Như thật trí này, đều thành một trí, đó là trí vô lậu; như nước mười
phương chảy vào trong biển lớn, đều thành một vị. Đại từ Đại bi ấy nhiếp
vào Tam-muội vương Tam-muội, Sư tử du hý Tam-muội của Phật.
Như vậy, đã lược nói nghĩa của Đại từ Đại bi.
KINH: Bồ-tát ma-ha-tát muốn được Đạo trí, hãy tập hành Bát-nhã
Ba-la-mật. Bồ-tát ma-ha-tát muôn lấy Đạo trí làm đầy đủ Đạo chủng trí,
hãy tập hành Bát-nhã Ba-la-mật.
LUẬN: Đạo là một đạo, một mực hướng tới Niết-bàn; đối với thiện
pháp, nhất tâm không phóng dật, đạo theo thân tâm niệm đến.
Đạo lại có hai: Ác đạo, thiện đạo; thế gian đạo, xuất thế đạo; định
đạo, tuệ đạo; hữu lậu đạo, vô lậu đạo; kiến đạo, tu đạo; học đạo, vô học
đạo; tín hành đạo, pháp hành đạo; hướng đạo, quả đạo; vô ngại đạo, giải
thoát đạo; tín giải đạo, kiến đắc đạo; tuệ giải thoát đạo, câu giải thoát
đạo.
Như vậy có vô lượng pháp môn hai đạo.
Lại có ba đạo: Địa ngục đạo, súc sanh đạo, ngạ quỷ đạo. Ba thứ địa
ngục: Địa ngục nóng, địa ngục lạnh, địa ngục tối đen. Ba thứ súc sanh
đạo: súc sanh đi đất, đi nước, đi không. Ba thứ ngạ quỷ đạo: quỷ đói, quỷ
ăn đồ nhơ, quỷ thần. Ba thiện đạo: nhân đạo, thiên đạo. Niết-bàn đạo.
Người có ba hạng: hạng làm tội, hạng làm phước, hạng cầu Niết-bàn.
Lại có ba hạng người: người hưởng dục lạc làm ác, người hưởng dục
lạc không làm ác, người không hưởng dục lạc không làm ác.
Trời có ba hạng: Trời cõi Dục, trời cõi sắc, trời cõi Vô sắc.
Niết-bàn đạo có ba: Đạo Thanh văn, đạo Bích-chi Phật, đạo Phật.
Thanh văn đạo có ba: học đạo, vô học đạo, phi học phi vô học đạo,
Bích-chi Phật đạo cũng như vậy.
Phật đạo có ba: đạo Ba-la-mật, đạo phương tiện, đạo tịnh thế giới.
Phật lại có ba đạo: đạo mới phát tâm, đạo làm các thiện, đạo thành
tựu chúng sanh.
Lại có ba đạo: đạo giới, đạo định, đạo tuệ. Như vậy có vô lượng
pháp môn ba đạo.
Lại có bốn đạo: đạo phàm phu, đạo Thanh văn, đạo Bích-chi Phật,
THÍCH KINH LUẬN 2
đạo Phật.
Lại có bốn đạo: đạo Thanh văn, đạo Bích-chi Phật, đạo Bồ-tát, đạo
Phật.
Đạo Thanh văn có bốn thứ: đạo khổ, đạo tập, đạo diệt, đạo đạo.
Lại có bốn Sa-môn quả đạo.
Lại có bốn đạo: đạo quán thân thật tướng, đạo quán thọ, đạo quán
tâm, đạo quán pháp thật tướng.
Lại có bôn đạo: đạo dứt điều ác bất thiện chưa sanh khiến không
sanh, đạo dứt điều ác đã sanh khiến tiêu diệt, đạo khiến điều thiện chưa
sanh được sanh, đạo khiến điều thiện đã sanh tăng trưởng.
Lại có bốn đạo: đạo dục tăng thượng, đạo tinh tấn tăng thượng, đạo
tâm tăng thượng, đạo tuệ tăng thượng.
Lại có bốn đạo thánh chủng: không lựa chọn áo; đồ ăn, đồ nằm;
thuốc thang; ưa dứt khổ tu định.
Lại có bôn tu hành đạo: đạo khổ khó tu, khổ dễ tu, vui khó tu, vui
dễ tu.
Lại có bốn tu đạo: 1. Vì đời nay vui nên tu. 2. Vì trí sanh tử nên tu.
3. Vì lậu hết nên tu. 4. Vì tuệ phân biệt nên tu.
Lại có bốn thiên đạo: tức là bốn thiền.
Lại có bốn đạo: Thiên đạo, Phạm đạo, Thánh đạo, Phật đạo.
Như vậy có vô lượng pháp môn bốn đạo.
Lại có năm đạo: Địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, người, trời.
Lại có năm đạo chúng vô học: Chúng vô học giới, cho đến chúng
vô học giải thoát tri kiến.
Lại có năm đạo trời Tịnh cư.
Lại có năm đạo trời Dục giới.
Lại có năm đạo nói như pháp.
Lại có năm đạo nói không như pháp.
Lại có năm đạo: phàm phu, Thanh văn, Bích-chi Phật, Bồ-tát,
Phật.
Lại có năm đạo: phân biệt sắc pháp, phân biệt Tâm pháp, phân biệt
Tâm số, phân biệt Tâm bất tương ưng hành, phân biệt Vô vi pháp.
Lại có năm đạo: tu Khổ đế đoạn, tu Tập đế đoạn, tu Diệt đế đoạn,
tu Đạo đế đoạn, Tư duy đế đoạn.
Như vậy có vô lượng pháp môn năm đạo.
Lại có sáu đạo: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, người, trời, A-tu-la.
Lai có đao bỏ sáu trần.
Lại có sáu hòa hợp đạo; sáu thần thông đạo, sáu A-la-hán, sáu địa
ngục, sáu định đạo, sáu Ba-la-mật đạo. Mỗi mỗi Ba-la-mật lại có sáu
đạo.
Như vậy có vô lượng pháp môn sáu đạo.
Lại có bảy đạo: bảy giác ý đạo, bảy địa vô lậu đạo, bảy tưởng định
đạo, bảy tịnh đạo, bảy thiện nhân đạo, bảy tài phú đạo, bảy pháp phước
đạo, bảy trợ định đạo.
Như vậy có vô lượng pháp môn bảy đạo.
Lại có tám đạo: tám chánh đạo, tám giải thoát đạo, tám bội xả
đạo.
Như vậy có vô lượng pháp môn tám đạo.
Lại có chín đạo: chín thứ đệ định, chín địa vô lậu, chín kiến đoạn,
chín A-la-hán, chín Bồ-tát đạo. Đó là sáu Ba-la-mật và phương tiện,
thành tựu chúng sanh, tịnh Phật quốc độ.
Như vậy có vô lượng pháp môn chín đạo.
Lại có mười đạo: đó là mười vô học đạo, mười tưởng đạo, mười trí
đạo, mười nhất thiết xứ đạo, mười bất thiện đạo, mười thiện đạo, cho đến
một trăm sáu mươi hai đạo.
Như vậy có vô lượng đạo môn.
Biết các đạo ấy, biết hết biết khắp, ấy gọi là Đạo chủng trí.
Hỏi: Bát-nhã Ba-la-mật là đệ nhất đạo, nhất tướng gọi là vô tướng
của Bồ-tát, cớ sao nói là các thứ đạo?
Đáp: Các đạo ấy đều vào trong một đạo, đó là thật tướng các pháp.
Bắt đầu học có các thứ sai khác, đến sau đều đồng nhất; không có sai
khác, ví như khi kiếp tận lửa cháy, mọi vật đều đồng hư không.
Lại nữa, vì dẫn dắt chúng sanh, Bồ-tát phân biệt nói ra các thứ đạo,
đó là đạo thế gian đạo, xuất thế gian...
Hỏi: Sao Bồ-tát trụ trong nhất tướng vô tướng mà lại phân biệt đạo
thế gian, xuất thế gian?
Đáp: Danh tự thế gian chỉ từ hai thứ là ức tưởng điên đảo và hư
dối sanh ra, như huyễn, như mộng, như vòng lửa quay, người phàm phu
cưỡng cho là thế gian, thế gian ấy đều từ vọng tưởng đến. Nay cũng hư
vọng, xưa cũng hư vọng, nó thật không sanh không làm. Chỉ từ trong sáu
căn ngoài sáu trần nhân duyên hòa hợp sanh, tùy phàm phu chấp trước
mà gọi là thế gian. Thế gian ấy, bị lưới tà kiến như tơ rối dính nhau,
thường qua lại trong sanh tử. Như vậy là biết thế gian.
Thế nào là đạo xuất thế gian? Nhưthật biết thế gian, tức là đạo xuất
THÍCH KINH LUẬN 2
thế gian. Vì người trí tìm tướng thế gian, xuất thế gian đều bất khả đắc
(không thể có được), nếu không thể có được, nên biết giả danh là thế
gian, xuất thế gian. Chỉ vì phá thế gian nên nói xuất thế gian. Tướng thế
gian tức là xuất thế gian, không còn có riêng khác, vì cớ sao? Vì tướng
thế gian là không thể có được. Xuất thế gian ấy tức là tướng thế gian
thường không, vì định tướng của pháp thế gian là không thể có được.
Như vậy hành giả không ở trong thế gian, cũng không đắm trước xuất
thế gian. Nếu không ở trong thế gian, cũng không đắm trước xuất thế
gian, thì phá trừ ái và mạn, không còn tranh cãi với thế gian. Vì hành giả
từ lâu đã biết thế gian là không, không có gì, vì hư dối nên không khởi
ức tưởng phân biệt.
Thế gian là năm uẩn, tướng năm uẩn, giả sử mười phương chư Phật
tìm nó cũng không thể có được, không chỗ đến, không chỗ ở, không chỗ
đi. Nếu không có tướng năm uẩn đến, ở, đi, tức là xuất thế gian. Hành
giả bấy giờ quán sát thế gian xuất thế gian ấy, thật không thể thấy,
không thấy thế gian với xuất thế gian hợp, cũng không thấy xuất thế
gian với thế gian hợp. Lìa thế gian cũng không thấy xuất thế gian, lìa
xuất thế gian cũng không thấy thế gian. Như vậy thì không sanh hai thức
là thức biết thế gian và thức biết xuất thế gian. Nếu bỏ thế gian, không
thọ lãnh xuất thế gian, ấy gọi là xuất thế gian.
Nếu Bồ-tát biết được như vậy, thì có thể vì chúng sanh mà phân
biệt đạo thế gian, xuất thế gian. Tất cả các đạo hữu lậu, vô lậu cũng như
vậy, nhập vào một tướng, ấy gọi là Đạo chủng trí.
KINH: Muôn lấy Đạo chủng trí làm đầy đủ Nhất thiết trí, hãy tập
hành Bát-nhã Ba-la-mật; muốn lấy Nhất thiết trí làm đầy đủ Nhất thiết
chủng trí, hãy tập hành Bát-nhã Ba-la-mật.
LUẬN. Hỏi: Nhất thiết trí, Nhất thiết chủng trí có gì sai khác?
Đáp: Có người nói không sai khác, hoặc khi nói Nhất thiết trí, hoặc
khi nói Nhất thiết chủng trí.
Có người nói tướng chung là Nhất thiết trí, tướng riêng là Nhất thiết
chủng trí; nhân là Nhất thiết trí, quả là Nhất thiết chủng trí; lược nói là
Nhất thiết trí, rộng nói là Nhất thiết chủng trí.
Nhất thiết trí tổng quát phá bóng tối vô minh đối với hết thảy pháp;
Nhất thiết chủng trí quán các pháp môn phá các vô minh.
Nhất thiết trí thí như nói bôn đế; Nhất thiết chủng trí thí như nói
nghĩa của bốn đế. Nhất thiết trí là như nói Khổ đế: Nhất thiết chủng trí
như nói tám tướng khổ. Nhất thiết trí như nói sanh khổ; Nhất thiết chủng
trí như nói các loại chúng sanh sanh ở các nơi.
Lại nữa, tất cả pháp là từ nhãn và sắc cho đến ý và pháp. Các A-
la-hán, Bích-chi Phật cũng có thể biết tướng chung của nó là vô thường,
khổ, không, vô ngã, còn biết tướng mười hai nhập ấy, gọi là Nhất thiết
trí.
Thanh văn, Bích-chi Phật còn không thể biết hết tướng riêng một
chúng sanh sanh nơi tốt, xấu, sự nghiệp nhiều ít; đời vị lai, hiện tại cũng
như vậy, huống gì biết hết thảy chúng sanh. Như đối với tên gọi vàng
của một cõi Diêm-phù-đề còn không biết được, huống gì các tên gọi của
một vật ở trong ba ngàn đại thiên thế giới. Hoặc trời nói, hoặc rồng nói,
các tên gọi vàng theo các ngôn ngữ như vậy còn không biết được, huống
gì biết nhân duyên vãng sanh ở đâu, tốt hay xấu, sang hay hèn? Nhân
nó mà được phước, nhân nó mà mắc tội, nhân nó mà đắc đạo? Các việc
hiện tại như vậy còn không biết được, huống gì biết tâm tâm số pháp, đó
là các pháp thiền định, trí tuệ...
Phật biết hết tướng chung tướng riêng của các pháp, nên gọi là Nhất
thiết chủng trí.
Lại nữa, ở trong phẩm sau Phật tự nói: Nhất thiết trí là việc của
Thanh văn. Bích-chi Phật; Đạo chủng trí là việc của Bồ-tát; Nhất thiết
chủng trí là việc của Phật. Thanh văn, Bích-chi Phật chỉ có chung Nhất
thiết trí, không có Nhất thiết chủng trí.
Lại nữa, Thanh văn, Bích-chi Phật tuy đối với tướng riêng có biết
một phần mà không biết hết, cho nên gọi là biết tướng chung. Nhất thiết
trí, Nhất thiết chủng trí của Phật đều là chân thật. Thanh văn, Bích-chi
Phật chỉ có tên gọi Nhất thiết trí như ngọn đèn vẽ, chỉ có tên đèn, không
có dụng đèn. Thanh văn, Bích-chi Phật, nếu có người nạn hỏi, có khi
không đáp được, không dứt nghi được. Như Phật ba lần hỏi mà Xá-lợi-
phất không đáp được. Nếu có Nhất thiết trí tại sao không đáp được? Vì
vậy, chỉ có tên gọi Nhất thiết trí hơn kẻ phàm phu, mà không có thật. Do
vậy, Phật là thật Nhất thiết trí, Nhất thiết chủng trí. Như vậy có vô lượng
tên gọi: hoặc khi gọi Phật là bậc Nhất thiết trí, hoặc khi gọi là bậc Nhất
thiết chủng trí.
Như vậy, đã lược nói sự sai khác giữa Nhất thiết trí, Nhất thiết
chủng trí.
Hỏi: Nhưtrong Kinh nói: thực hành sáu Ba-la-mật, ba mươi bảy đạo
phẩm, mười lực, bôn vô sở úy... được Nhất thiết trí, vì sao trong đây nói
chỉ dùng Đạo chủng trí được Nhất thiết trí?
THÍCH KINH LUẬN 2
Đáp: Ông nói sáu Ba-la-mật... tức là đạo. Biết đạo ấy, hành đạo ấy
được Nhất thiết trí, có gì mà nghi?
Lại nữa, từ khi mới phát tâm cho đến khi ngồi đạo tràng, hết thảy
thiện pháp có được ở khoảng giữa đó đều gọi là đạo. Ớ trong đạo ấy,
phân biệt tư duy mà làm, ấy gọi là Đạo trí, như trong Kinh nầy đoạn sau
nói Đạo trí là việc của Bồ-tát.
Hỏi: Việc Phật đạo đã đầy đủ nên không gọi là Đạo trí, còn A-la-
hán, Bích-chi Phật công đức chưa đầy đủ, sao không gọi là Đạo trí?
Đáp: A-la-hán, Bích-chi Phật đối với việc làm của mình đã xong,
cho nên không gọi là Đạo trí. Đạo là tướng thực hành vậy.
Lại nữa, trong Kinh nầy nói Thanh văn, Bích-chi Phật. Trong Thanh
văn gồm nhiếp ba đạo nên không nói, Phật đạo lớn nên gọi Đạo trí.
Thanh văn, Bích-chi Phật đạo nhỏ nên không gọi Đạo trí.
Lại nữa, đại Bồ-tát tự hành đạo, cũng chỉ bày cho chúng sanh mỗi
mỗi hành đạo, vì vậy nói là Bồ-tát hành Đạo trí, được Nhất thiết trí.
Hỏi: Thế nào là nhất thiết pháp của Nhất thiết trí biết?
Đáp: Như Phật bảo các Tỳ-kheo: Ta sẽ vì các ông nói nhất thiết
pháp. Thế nào là nhất thiết pháp? Đó là mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và
mùi, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp, mười hai nhập ấy gọi là nhất thiết
pháp. Lại có nhất thiết pháp, đó là danh và sắc. Như bài kệ trong Kinh
Phật thuyết lợi chúng nói:
Nếu muốn được quán đúng.
Chỉ có danh và sắc.
Nếu muốn biết thật đúng.
Cũng phải biết danh sắc
Tuy suy tâm nhiều tưởng.
Phân biệt theo các pháp.
Không có việc gì khác.
Ra ngoài danh và sắc.
Lại nữa, nhất thiết pháp đó là sắc, vô sắc pháp; khả kiến, bất khả
kiến; hữu đối, vô đối; hữu lậu, vô lậu; hữu vi, vô vi; tâm phi tâm, tâm
tương ưng, chẳng phải tâm tương ưng, cộng tâm sanh, bất cộng tâm sanh;
theo tâm hành; không theo tâm hành; từ tâm nhân, không từ tâm nhân.
Như vậy, vô lượng pháp môn hai pháp, thu nhiếp hết thảy pháp, như
trong phẩm Nhiếp Pháp của A-tỳ-đàm nói.
Lại nữa, nhất thiết pháp đó là thiện pháp, bất thiện pháp, vô ký
pháp, pháp thấy đế dứt, tư duy dứt, không dứt; pháp có báo, pháp không
báo, pháp chẳng có báo chẳng không báo. Như vậy vô lượng pháp môn
ba pháp, thu nhiếp hết thảy pháp.
Lại nữa, nhất thiết pháp đó là pháp quá khứ, pháp vị lai, pháp hiện
tại, pháp chẳng quá khứ, vị lai, hiện tại, pháp hệ thuộc Dục giới, pháp hệ
thuộc Sắc giới, pháp hệ thuộc Vô sắc giới, pháp không hệ thuộc; pháp
từ nhân thiện, pháp từ nhân bất thiện, pháp từ nhân vô ký, pháp từ nhân
chẳng thiện, chẳng bất thiện, chẳng vô ký; pháp có duyên duyên, pháp
không duyên duyên, pháp có duyên duyên cũng không duyên duyên,
pháp chẳng có duyên duyên chẳng không duyên duyên. Như vậy vô
lượng pháp môn bốn pháp, thu nhiếp hết thảy pháp.
Lại nữa, nhất thiết pháp đó là pháp sắc, pháp tâm, pháp tâm sô",
pháp tâm không tương ưng, pháp vô vi, bôn đế và vô ký vô vi. Như vậy,
vô lượng môn năm pháp thu nhiếp hết thảy pháp.
Lại nữa, nhất thiết pháp đó là năm uẩn và vô vi; pháp do Khổ đế
đoạn, pháp do Tập, Diệt, Đạo đế tư duy đoạn, và pháp không đoạn. Như
vậy vô lượng pháp môn sáu pháp thu nhiếp hết thảy pháp. Các pháp môn
bảy, tám, chín, mười pháp... là các nghĩa phân biệt ở trong A-tỳ-đàm.
Lại nữa, nhất thiết pháp đó là hữu pháp, vô pháp, không pháp, thật
pháp, pháp sở duyên, pháp năng duyên, pháp tụ, pháp tán...
Lại nữa, nhất thiết pháp đó là pháp hữu, pháp vô, pháp cũng hữu
cũng vô, pháp không, pháp thật, pháp chẳng không chẳng thật, pháp sở
duyên, pháp năng duyên, pháp chẳng sở duyên chẳng năng duyên.
Lại nữa, nhất thiết pháp đó là pháp hữu, pháp vô, pháp cũng hữu
cũng vô, pháp chẳng hữu chẳng vô, pháp không, pháp chẳng không,
pháp không chẳng không, pháp chẳng không chẳng chẳng không; pháp
sanh, pháp diệt, pháp sanh diệt, pháp chẳng phải sanh chẳng phải diệt,
pháp không sanh không diệt, pháp chẳng phải không sanh, chẳng phải
không diệt. Pháp không sanh không diệt cũng chẳng không sanh chẳng
không diệt, pháp chẳng không sanh cũng chẳng không diệt cũng chẳng
không không sanh chẳng không không diệt.
Lại nữa, nhất thiết pháp đó là pháp có, pháp không, pháp có không,
pháp chẳng phải có chẳng phải không, lìa bỏ pháp bốn câu ấy. Không,
chẳng không, sanh diệt, chẳng sanh, chẳng diệt, năm câu đều cũng như
vậy.
Như vậy vô lượng vô số pháp môn thu nhiếp hết thảy pháp. Lây trí
tuệ vô ngại biết khắp các pháp trên ấy gọi là Nhất thiết trí, Nhất thiết
chủng trí.
THÍCH KINH LUẬN 2
Hỏi: Hết thảy chúng sanh đều cầu trí tuệ, sao chỉ riêng một mình
Phật được Nhất thiết trí?
Đáp: Đối với hết thảy chúng sanh, Phật là bậc nhất nên Phật được
Nhất thiết trí. Như Phật nói giữa hết thảy chúng sanh không chân, hai
chân, bốn chân, nhiều chân, có sắc không sắc, có tưởng, không tưởng,
chẳng phải có tưởng, chẳng phải không tưởng, Phật là bậc nhất, ví như
núi Tu-di tự nhiên là bậc nhất giữa các núi. Như trong bốn đại, hỏa đại
là có lực hay chiếu hay đốt. Phật cũng như vậy, tối đệ nhất giữa hết thảy
chúng sanh, nên được Nhất thiết trí.
Hỏi: Cớ sao giữa hết thảy chúng sanh, Phật tối đệ nhất?
Đáp: Như trước vừa trả lời, vì được Nhất thiết trí, nay sẽ nói thêm:
Phật tự làm lợi ích cũng làm lợi ích chúng sanh, nên ở giữa chúng sanh
là tối đệ nhất, như trong các thứ chiếu sáng, mặt trời là đệ nhất; trong hết
thảy loài người, Chuyển luân thánh vương là đệ nhất; trong hết thảy hoa
sen, hoa sen xanh là đệ nhất, trong hết thảy hoa mọc trên đất, hoa Tu-
mạn là đệ nhất; trong hết thảy mộc hương, hương ngưu đầu chiên đàn là
đệ nhất: trong hết thảy ngọc, ngọc như ý là đệ nhất; trong hết thảy giới,
thánh giới là đệ nhất, trong hết thảy giải thoát, bất hoại giải thoát là đệ
nhất, trong hết thảy thanh tịnh, giải thoát là đệ nhất, trong hết thảy các
pháp quán, quán không là đệ nhất; trong hết thảy pháp, Niết-bàn là đệ
nhất. Có vô lượng các loại đệ nhất như vậy. Phật cũng như vậy, đối với
hết thảy chúng sanh là tối đệ nhất. Vì đệ nhất nên riêng Phật được Nhất
thiết trí.
Lại nữa, Phật từ khi mới phát tâm, lấy đại thệ nguyện làm trang
nghiêm, muôn cứu vớt hết thảy chúng sanh suy vong nên thực hành khắp
đủ các thiện đạo, nhóm đủ mọi điều thiện, hành đủ mọi hạnh khổ, chứa
nhóm hết thảy công đức chư Phật; do vô lượng nhân duyên như vậy, nên
Phật là đệ nhất giữa hết thảy chúng sanh.
Hỏi: Chư Phật ba đời mười phương, cũng có công đức ấy, cớ sao nói
riêng Phật là đệ nhất?
Đáp: Ngoại trừ chư Phật, vì đối các chúng sanh khác nên nói riêng
Phật là đệ nhất, chư Phật đồng đẳng hết thảy công đức.
Lại nữa, Tát-bà-nhã-đa (Sarvaynàtà) là, Tát-bà là nhất thiết. Nhã
là trí. Đa là tướng (tức là tướng Nhất thiết trí). Nhất thiết như trước nói
các pháp danh và sắc... Phật biết hết thảy pháp tướng một, tướng khác,
tướng lậu, tướng phi lậu, tướng làm, tướng chẳng làm... hết thảy pháp
có mỗi mỗi tướng, mỗi mỗi lực, mỗi mỗi nhân duyên, mỗi mỗi quả báo,
mỗi mỗi tánh, mỗi mỗi được, mỗi mỗi mất, do lực Nhất thiết trí nên biết
cùng khắp hết thảy đời, hết thảy chủng loại. Vì vậy nên nói muốn lấy
Đạo chủng trí để được đầy đủ Nhất thiết trí, hãy tập hành Bát-nhã Ba-
la-mật: muốn lấy Nhất thiết trí để được đầy đủ Nhất thiết chủng trí, hãy
tập hành Bát-nhã Ba-la-mật.
Hỏi: Như khi Phật chứng được Phật đạo đã do Đạo trí được đầy đủ
Nhất thiết trí, Nhất thiết chủng trí, sao nay lại nói do Nhất thiết trí được
đầy đủ Nhất thiết chủng trí?
Đáp: Khi Phật đắc đạo tuy do Đạo trí đầy đủ được Nhất thiết trí,
Nhất thiết chủng trí, nhưng chưa dùng Nhất thiết chủng trí, như đại
quốc vương khi mới lên ngôi, cõi nước, kho báu đã đầy đủ cầu mà chưa
dùng.
KINH: Muôn dùng Nhất thiết chủng trí dứt phiền não tập khí, hãy
tập hành Bát-nhã Ba-la-mật. Nầy Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát nên học
Bát-nhã Ba-la-mật như vậy.
LUẬN: Hỏi: Trong nhất tâm đã có được Nhất thiết trí, Nhất thiết
chủng trí, dứt hết thảy phiền não tập khí, sao nay lại nói do Nhất thiết trí
được đầy đủ Nhất thiết chủng trí, do Nhất thiết chủng trí dứt hết phiền
não và tập khí?
Đáp: Thật một lúc được Nhất thiết trí, trong đây vì muôn khiến
người tin Bát-nhã Ba-la-mật, nên thứ lớp nói có sai khác. Muôn khiến
chúng sanh được tâm thanh tịnh, cho nên nói như vậy.
Lại nữa, tuy trong nhất tâm được, cũng có thứ lớp đầu, giữa, cuối.
Như nhất tâm có ba tướng, sanh làm nhân duyên cho trụ, trụ làm nhân
duyên cho diệt. Lại như tâm tâm số pháp, các hành bất tương ưng, và
thân nghiệp, khẩu nghiệp, do Đạo trí đầy đủ Nhất thiết trí, do Nhất thiết
trí đầy đủ Nhất thiết chủng trí, do Nhất thiết chủng trí dứt phiền não và
tập khí cũng như vậy.
Trước nói Nhất thiết chủng trí tức là Nhất thiết trí, Đạo trí gọi là
Kim cang tam-muội. Phật sơ tâm tức là Nhất thiết trí, Nhất thiết chủng
trí, lúc ấy phiền não và tập khí dứt hết. Tướng Nhất thiết trí, Nhất thiết
chủng trí như trước đã nói.
Dứt hết thảy phiền não và tập khí là, phiền não nói lược là ba độc,
nói rộng là chín mươi tám sử trong ba cõi. ấy gọi là phiền não. Phiền
não tập khí là khí tàn dư của phiền não. Hoặc thân nghiệp, khẩu nghiệp
không theo trí tuệ, in tuồng từ phiền não khởi lên, người không biết tâm
người khác, thấy sự khởi lên đó sanh tâm bất tịnh, nhưng đó chẳng phải
THÍCH KINH LUẬN 2
phiền não thật, mà là tập khí phiền não lâu đời khởi lên nghiệp như vậv.
Ví như người bị xiềng chân lâu ngày, bỗng được giải thoát, bước đi tuy
không có khóa vẫn còn tập khí chướng ngại. Lại như áo nhủ mẫu, lâu cũ
dính bẩn, lấy tro giặc sạch, tuy không có bẩn mà hơi bẩn vẫn còn. Áo
như tâm thánh nhân, bẩn như các phiền não, tuy lấy nước trí tuệ tẩy sạch
mà hơi phiền não vẫn còn. Tập khí như vậy, các hiền thánh khác tuy dứt
được phiền não mà không thể dứt tập khí. Như Nan-đà vì tập khí dâm
dục, tuy đắc A-la-hán mà khi ngồi giữa chúng nam nữ, con mắt trước hết
nhìn chúng nữ rồi cùng họ nói năng thuyết pháp. Như Xá-lợi-phất vì tập
khí sân, nên nghe Phật nói ông ăn đồ bất tịnh, liền mửa đồ ăn ra, rồi sau
không chịu nhận lời thỉnh. Lại Xá-lợi-phất tự nói kệ rằng:
Người giấu tội vọng niệm.
Vô trí mà giải đãi.
Trọn không muốn hạng ấy.
Dối đến ở gần tôi.
Như Đại Ca-diếp vì tập khí sân, nên sau khi Phật diệt độ kết tập
pháp, đã bảo A-nan sám hối tám tội Đột-kiết-la (hay sáu tội? - ND), lại
tự kéo tay A-nan đi ra, vì cho ông là người bất tịnh, lậu hoặc chưa sạch
không được cùng kết tập pháp. Như Tất-lăng-già-bà-ta thường mắng
nữ thần sông Hằng là tiểu tỳ. Như Ma-đầu-bà-tư-tra vì tập khí trạo hý
nên có khi từ giá áo nhảy lên xà nhà, từ xà nhà đến gác, từ gác đến nhà.
Như Kiều-phạm-bát-đề vì tập khí nghiệp trâu nên thường nhả thức ăn
mà nhai lại. Các thánh nhân như vậy tuy hết lậu hoặc, mà còn có tập khí
phiền não. Như lửa đốt hết củi vẫn còn tro than, sức lửa mỏng không làm
cho tiêu hết được. Nếu lửa lúc kiếp tận, thì đốt cháy cả ba ngàn đại thiên
thế giới không còn sót vật gì, vì sức lửa lớn. Lửa Nhất thiết trí của Phật
cũng như vậy, đốt cháy các phiền não, không còn tàn dư tập khí. Như
một Bà-la-môn dùng năm trăm lời nói ác, mắng Phật tại giữa chúng,
Phật không đổi sắc, cũng không đổi tâm. Bà -la-môn ấy tâm phục, trở lại
dùng năm trăm lời hay tán Phật, Phật không sắc mừng, cũng không tâm
vui. Đối với lời chê khen, tâm, sắc không thay đổi.
Lại con gái Bà-la-môn tên Chiên-giá (Cinca) độn bát làm bụng chửa
đến phỉ báng Phật, Phật không sắc thẹn, sự tình lộ rõ, Phật không sắc
vui. Lúc Chuyển pháp luân cất tiếng khen ngợi đầy khắp mười phương,
tâm Phật cũng không cao, Tôn-đà-lỵ (Sundari) chết vu oan cho Phật,
tiếng xấu đồn khắp, tâm Phật cũng không hạ. Phật ngồi nằm ở trong
quốc độ A-la-tỳ gió lạnh và nhiều cỏ gai, không cho là khổ. Hạ An cư
ở trong vườn hoan hỷ trên trời, ngồi đá Kiếm-bà, mềm mại trong sạch
như bông tơ trời, cũng không cho là vui. Lãnh thọ đồ ăn của Đại thiên
vương cúng, không cho là ngon; ở nước Tỳ-lan-nhã ăn lúa ngựa, không
cho là dở. Các đại quốc vương cung phụng đồ ăn thượng diệu, không cho
là được, vào thành Tát-la khất thực, mang bát không ra về, không cho
là mất. Đề-bà-đạt-đa xô đá ở núi Kỳ-xà-quật xuống đè Phật, Phật cũng
không ghét, khi ấy La-hầu-la kính tâm tán Phật, Phật cũng không yêu.
A-xà-thế thả voi say muốn để hại Phật, Phật cũng không sợ, hàng phục
voi cuồng, người thành Vương-xá, càng thêm cung kính, đem hương hoa
anh lạc đến cùng dường Phật, Phật cũng không mừng.
Chín mươi sáu phái ngoại đạo cùng lúc hòa nghị với nhau rằng:
Chúng ta cũng là người Nhất thiết trí, rồi từ nước Xá-bà-đề đi đến muôn
luận nghị với Phật, Phật dùng thần thông, từ trên rốn phóng hào quang,
trong hào quang đều có hóa Phật. Quốc vương Ba-tư-nặc cũng ra lệnh
khiến đến, còn không lay động được Phật ngồi trên tòa, huống gì luận
nghị được với Phật. Phật thấy giặc ngoại đạo đi đến, tâm cũng không
thối; phá các ngoại đạo, chư thiên người đời càng thêm cung kính cúng
dường, tâm cũng không tấn.
Dùng đủ cách như vậy muốn đến hủy báng Phật, không thể làm
Phật lay động, ví như vàng thật Diêm-phù-đề, lửa đốt không đổi khác,
đập, gõ, mài, dũa, không hoại không đổi khác. Phật cũng như vậy, trải
qua các sự hủy nhục, chê bai, nghị luận, không động, không đổi khác. Do
vậy biết Phật đã dứt hết phiền não và tập khí không còn.
Hỏi: Các A-la-hán, Bích-chi Phật, đồng dùng trí vô lậu dứt các
phiền não và tập khí, cớ sao có sự hết và không hết?
Đáp: Trước đã nói lực trí tuệ mỏng như lửa thế gian, còn lực của
Phật lớn như lửa lúc kiếp tận. Nay sẽ đáp thêm: Thanh-văn, Bích-chi
Phật chứa nhóm các công đức trí tuệ không lâu, hoặc chỉ trong một đời,
hai đời, ba đời, còn Phật ở trong vô lượng A-tăng-kỳ kiếp rộng tu rộng
tập công đức trí tuệ, huân tập thiện pháp lâu đời, nên các phiền não tập
khí không còn sót lại.
Lại nữa, Phật đã gom nhiếp hết thảy công đức, cho đến đã dứt vĩnh
viễn các phiền não tập khí. Vì sao? vì các công đức thiện pháp làm tiêu
các phiền não. Các A-la-hán không được hết thảy công đức nầy, nên chỉ
dứt tham ái thế gian mà thẳng vào Niết-bàn,
Lại nữa, lực trí tuệ dứt kiết sử của Phật rất bén, dùng mười trí lực
làm đại lực, dùng trí vô ngại đi thẳng qua, nên dứt các kiết sử không còn
THÍCH KINH LUẬN 2
sót lại. Ví như người có trọng tội, quốc vương rất giận, giết cả cội gốc
bảy đời, không cho sót lại. Phật cũng như vậy, đối với giặc nặng phiền
não, giết nhổ gốc rễ. không cho sót lại. Vì vậy nên nói, muôn lấy Nhất
thiết chủng trí dứt hết thảy phiền não tập khí, hãy nên tập hành Bát-nhã
Ba-la-mật.
Hỏi: Chỉ dứt tập khí là cũng trừ phiền não?
Đáp: Có người nói dứt phiền não và tập khí cùng hết, như trước nói
tập khí hết không còn sót. A-la-hán. Bích-chi Phật chỉ dứt phiền não,
không thể dứt tập khí, Bồ-tát dứt hết thảy phiền não và tập khí, làm cho
sạch hết không còn sót.
Có người nói: Phật đã xa lìa dục từ lâu. Như Phật nói: từ khi Ta thấy
Phật Định Quang (Nhiên Đăng) đến nay, đã xa lìa dục, dùng lực phương
tiện, nên thị hiện có sống chết, có vợ con quyến thuộc.
Có người nói: Từ khi được vô sanh pháp nhẫn lại đây, chứng được
thật tướng các pháp, nên dứt hết thảy phiền não và tập khí.
Có người nói: Từ khi Phật mới phát tâm lại đây còn có phiền não,
đến khi ngồi đạo tràng, vào cuối đêm mới dứt hết thảy phiền não và tập
khí.
Hỏi: Các thuyết như vậy, thuyết nào đúng?
Đáp: Đều tự miệng Phật nói ra, thuyết nào cũng đúng. Ớ trong pháp
Thanh văn, Phật dùng lực phương tiện thị hiện chịu lấy phép tắc của con
người có sanh, già, bệnh, lạnh, nóng, đói, khát... Không có ai sanh ra
mà không có phiền não, nên Phật cũng phải theo phép tắc con người, có
phiền não; ở dưới cây, bên ngoài trước phá ma quân, bên trong diệt giặc
kiết sử. Phá giặc trong ngoài xong, nên thành Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác; người đều tin thọ rằng: Người ấy làm được việc ấy, chúng
ta cũng sẽ học tập việc ấy. Nếu nói, từ lâu xa đến nay không có phiền
não, từ nơi đức Phật Nhiên Đăng được vô sanh pháp nhẫn lại đây, dứt
hết phiền não, ấy cũng là phương tiện nói, khiến các Bồ-tát hoan hỷ.
Nếu Bồ-tát từ lâu đã dứt hết thảy phiền não rồi, thì khi thành Phật còn
làm gì nữa?
Hỏi: Phật có nhiều việc, dứt kiết sử là một việc, ngoài ra còn có
việc làm thanh tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh... chưa đầy đủ,
vì để đầy đủ các việc nên gọi là Phật?
Đáp: Nếu như vậy, sao Phật nói dứt kiết sử là thân cuối cùng, con
người nếu hoàn toàn không có kiết sử, làm sao sanh được?
Hỏi: Từ khi được vô sanh pháp nhẫn lại đây, thường được pháp tánh
sanh thân biến hóa chăng?
Đáp: Phép biến hóa, phải có hóa chủ vậy sau mới hóa được, nếu
được vô sanh pháp nhẫn, dứt hết thảy kiết sử, khi chết bỏ nhục thân nầy,
không có thân thật, thì ai biến hóa? Vì vậy nên biết chứng được vô sanh
pháp nhẫn, không phải đã dứt hết kiết sử.
Lại nữa, hàng Thanh văn nói: Bồ-tát không dứt kiết sử, cho đến khi
ngồi đạo tràng mới dứt, vậy là quá lầm. Vì cớ sao? Vì trong pháp của
ông nói Bồ-tát đã mãn ba A-tăng-kỳ kiếp, sau còn có trăm kiếp, thường
được trí Túc mạng, tự nhớ lại thời Phật Ca-diếp từng làm Tỳ-kheo tên
là uất-đa-la tu hành Phật pháp, sao nay còn khổ hạnh sáu năm, tu pháp
tà đạo, ngày ăn một hạt mè, hạt gạo? Hậu thân Bồ-tát, một ngày còn
không nên lầm huống chi sáu năm? Sân hận cũng như vậy, từ thời lâu
xa làm rắn độc, bị thợ săn bắt sống lột da, hãy còn không giận, làm sao
thân cuối cùng mà còn giận năm người? Do vậy nên biết người Thanh
văn nhận lầm nghĩa của Phật nói. Phật dùng lực phương tiện muốn phá
ngoại đạo nên thị hiện sáu năm tu khổ hạnh. Ông nói giận năm người, ấy
là phương tiện, cũng là tập khí sân chứ chẳng phải phiền não.
Nay sẽ nói như thật rằng: Bồ-tát chứng được vô sanh pháp nhẫn,
phiền não đã hết, nhưng tập khí chưa trừ, nhân tập khí thọ và pháp tánh
sanh thân nên có thể tự tại hóa sanh. Có tâm đại từ bi, vì chúng sanh,
cũng vì mãn bản nguyện nên trở lại thế gian thành tựu đầy đủ những
Phật pháp dư tàn. Khi mãn mười địa, ngồi đạo tràng, dùng lực vô ngại
giải thoát, chứng được Nhất thiết trí, Nhất thiết chủng trí, dứt phiền não
tập khí.
Người Đại thừa nói: Bồ-tát chứng được vô sanh pháp nhẫn, hết thảy
phiền não và tập khí đều dứt sạch, cũng là sai lầm! Nếu dứt hết rồi,
không khác gì Phật, cũng không nên thọ pháp tánh sanh thân. Vì vậy
nên Bồ-tát chứng được vô sanh pháp nhẫn, bỏ sanh thân, được pháp
tánh sanh thân. Nếu nói đến khi ngồi đạo tràng, tất cả phiền não và tập
khí đều hết, lời ấy cũng sai! Vì cớ sao? Vì nếu Bồ-tát có đủ ba độc thì
làm sao tích tập vô lượng Phật pháp được? Thí như bình có chất độc, tuy
đựng cam lồ đều không nên ăn. Bồ-tát tích tập các công đức thuần tịnh,
mới được thành Phật. Nếu xen lẫn ba độc thì làm sao đầy đủ Phật pháp
thanh tịnh?
Hỏi: Quán thật tướng pháp và tu bi tâm nên có thể làm cho ba độc
mỏng, mỏng cho nên có thể tích tập công đức thanh tịnh?
Đáp: Mỏng ba độc, chỉ có thể được thân chư thiên, Chuyển luân
THÍCH KINH LUẬN 2
thánh vương, còn muốn được thân công đức của Phật, không có lẽ đó. Ba
độc dứt, tập khí hết, có thể tích tập các công đức.
Lại nữa, gọi là mỏng là như người ly dục, dứt kiết sử ở hạ địa mà
còn có phiền não ở thượng địa. Lại như Tu-đà-hoàn kiết sử do thấy Tứ
đế đoạn đã hết, mà kiết sử do tư duy đoạn chưa hết, ấy gọi là mỏng. Như
Phật nói dứt ba kiết, mỏng dâm, nộ, si, gọi là Tư-đà-hàm. Nếu ông nói
mỏng (như trên) thì phải nói là đoạn. Vì vậy nên khi được vô sanh pháp
nhẫn dứt phiền não, khi được thành Phật mới dứt phiền não tập khí, ấy
là lời nói đúng thật.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát muốn lên pháp vị
Bồ-tát, hãy nên học Bát-nhã Ba-la-mật.
LUẬN: Bồ-tát vị là vô sanh pháp nhẫn. Được pháp nhẫn nầy, xem
hết thảy thế gian là không, tâm không nhiễm trước. Ớ trong thật tướng
các pháp, không còn nhiễm thế gian.
Lại nữa, Ban châu ban tam-muội là pháp vị Bồ-tát. Được Ban châu
ban tam-muội nầy, thấy được chư Phật hiện tại trong mười phương, theo
Phật nghe pháp, dứt các lưới nghi. Bấy giờ tâm Bồ-tát không lay động,
ấy gọi là Bồ-tát vị.
Lại nữa, Bồ-tát vị là đầy đủ sáu Ba-la-mật, sanh trí phương tiện,
cũng không trú nơi thật tướng các pháp, tự biết, tự chứng, không theo lời
người khác, hoặc ma làm hình Phật đi đến, tâm cũng không mê hoặc.
Lại nữa, do lực nhập Bồ-tát pháp vị nên được gọi là Bồ-tát bất
thối.
Lại nữa, đại Bồ-tát, vào trong pháp vị ấy, không đọa vào trong số
phàm phu, gọi là người đắc đạo. Tất cả việc thế gian muôn phá hoại tâm
ấy, không thể làm lay động. Đóng cửa ba đường ác, đứng trong số Bồ-
tát, bắt đầu sanh vào nhà Bồ-tát, thành tựu trí tuệ thanh tịnh.
Lại nữa, trú chót đảnh vị không đọa, ấy là Bồ-tát pháp vị, như nói
ở trong học phẩm. Bồ-tát vị trên, không đọa vào ác thú, không sanh nhà
hạ tiện, không đọa địa vị Thanh văn, Bích-chi Phật, cũng không từ chót
đảnh bị đọa.
Hỏi: Thế nào là chót đảnh bị đọa?
Đáp: Như Tu-bồ-đề nói với Xá-lợi-phất, nếu đại Bồ-tát không có
tâm phương tiện mà hành sáu Ba-la-mật, vào trong không, vô tướng, vô
tác, không thể bước lên Bồ-tát vị, cũng không đọa vào địa vị Thanh văn,
Bích-chi Phật, ái trước các pháp công đức, đối với năm uẩn vô thường,
khổ, không, vô ngã, chấp thủ tướng, tâm nhiễm trước, nói là đạo phi đạo,
là nên làm, là không nên làm, chấp thủ tướng phân biệt như vậy, ấy là
Bồ-tát chót đảnh bị đọa. Thế nào là ở chót đỉnh? Như trên đã nói, dứt
các pháp ái, đối với pháp ái dứt cũng lại không chấp thủ, như nói ở trong
nghĩa trú ở chót đỉnh. Nếu khi Bồ-tát ma-ha-tát hành Bát-nhã Ba-la-mật,
trong nội không, không thấy ngoại không; trong ngoại không, không
thấy nội không; trong ngoại không, không thấy nội ngoại không; trong
nội ngoại không không thấy ngoại không, cho đến vô pháp hữu pháp
không, cũng như vậy.
Lại nữa, Bồ-tát ngôi trên, được tâm vô đẳng đẳng, cũng không tự
cao, biết tâm tướng chân không, các hý luận về hữu, vô dứt.
Hỏi: Sao trong pháp của Thanh văn gọi là chánh vị trong pháp của
Bồ-tát thì vị chỉ gọi là vị?
Đáp: Nếu nói chánh vị, cũng không lỗi. Vì cớ sao? Vì nếu nói Bồ-
tát ấy thì đã là chánh, như trong pháp Thanh văn chỉ nói vị không nói
Thanh văn vị, vì vậy nên nói chánh.
Lại nữa, người học pháp Thanh văn, không có tâm Đại từ bi, vì trí
không lanh lợi, chưa sanh tâm nhàm chán, còn cầu biết nhiều pháp, sanh
nhiều tà kiến nghi hối, còn Bồ-tát ma-ha-tát có tâm Đại từ thương tất
cả, phần nhiều cầu độ thoát chúng sanh khỏi khổ sanh, già, bệnh, chết,
không cầu phân biệt các thứ hý luận. Ví như ông Trưởng giả có một
người con, hết sức yêu nó, nó mắc bệnh, ông chỉ cầu thuốc hay trị lành
bệnh, chứ không cầu phân biệt các tên thuốc, lấy theo thời tiết, hòa hợp
phân số, vì vậy các Bồ-tát từ nơi quả quán Mười hai nhân duyên, không
từ nơi nhân quán. Người kiến nhiều thì từ nơi nhân quán, người ái nhiều
thì từ nơi quả quán. Các người Thanh văn nhân nơi tà vị nên có chánh vị,
Bồ-tát tà vị mỏng nên chỉ gọi là Bồ-tát vị.
Hỏi: Trong pháp Thanh văn, từ khổ pháp nhẫn cho đến đạo tỷ nhẫn,
gọi là chánh vị (Khi mới quán khổ đế, gọi là khổ pháp nhẫn, khi biết rõ
khổ đế, gọi là khổ pháp trí. Cho đến khi mới quán đạo đế của hai cõi
trên, gọi là đạo tỷ nhẫn, khi biết rõ đạo đế của hai cõi trên, gọi là đạo tỷ
trí. Nhẫn là nhân, Trí là quả - ND) như trong Kinh nói: Ớ trong ba ác đạo,
không thể được ba việc là chánh vị, thánh quả, lậu tận. Những người phá
giới, tà kiến, tạo tội ngũ nghịch cũng như vậy. Vậy từ pháp gì được gọi
là Bồ-tát vị?
Đáp: Phát tâm, tu hành, đại bi và phương tiện đầy đủ. Hành bôn
pháp ấy được vào Bồ-tát vị. Như trong pháp Thanh văn, trước hết phải
đủ bốn thiện căn là noãn pháp, nhẫn pháp, đảnh pháp, thế đệ nhất pháp,
THÍCH KINH LUẬN 2
vậy sau mới vào chánh vị “khổ pháp nhẫn”.
Hỏi: Trong sự tu hành đều đã gồm đủ bốn pháp, cớ sao lại phân biệt
làm bốn?
Đáp: Mới phát tâm, tuy có tu hành mà tu chưa lâu nên không gọi là
tu hành. Như người ở nhà, tuy trọn ngày không ở một chỗ, song không
gọi là đi.
Lại nữa, khi mới phát tâm, chỉ có ý nguyện, khi hành mới tạo tác,
lấy của cho người, thọ trì cấm giới, như vậy hành sáu Ba-la-mật, ấy gọi
là tu hành. Tu hành rồi, do Bát-nhã Ba-la-mật biết thật tướng các pháp,
do tâm đại bi thương niệm chúng sanh. Nếu không biết thật tướng các
pháp, nhiễm trước pháp thế gian hư dối, chịu các thứ thân khổ tâm khổ;
ấy chỉ còn mang danh từ đại bi, nên không gọi là tu hành. Phương tiện
là đầy đủ Bát-nhã Ba-la-mật, nên biết các pháp không; đầy đủ đại bi
tâm, nên thương xót chúng sanh. Đối hai pháp ấy, do lực phương tiện,
nên không sanh nhiễm trước. Tuy biết các pháp không, do lực phương
tiện, nên không bỏ chúng sanh; tuy không bỏ chúng sanh, cũng biết các
pháp thật không. Nếu đối hai sự ấy bình đẳng, tức được vào Bồ-tát vị,
như người Thanh văn đối hai pháp định tuệ được bình đẳng tức được vào
chánh vị. Pháp trí, bi, định, tuệ ấy tuy có hành, mà còn có tên gọi khác,
không gọi là tu hành. Từ khi mới phát tâm cho đến khi ngồi đạo tràng,
những sự thực hành ở khoảng trung gian ấy, đều gọi là tu hành. Vì có
sai khác chút ít nên có tên gọi khác, là điều dễ hiểu, ví như có người
mới phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, muốn độ thoát hết
thảy chúng sanh khỏi các khổ thân tâm sanh, già, bệnh, chết, phát lời
thề lớn để trang nghiêm, do công đức và tuệ minh nên sở nguyện đều
viên mãn. Hai việc ấy có sáu phần tu hành gọi là sáu Ba-la-mật, bố thí,
trí giới, nhẫn nhục là phần công đức, tinh tấn, thiền định, trí tuệ là phần
tuệ minh.
Tu hành sáu Ba-la-mật, biết các pháp tướng thậm thâm vi diệu,
khó hiểu khó biết, suy nghĩ rằng: Chúng sanh nhiễm trước các pháp
trong ba cõi, lấy nhân duyên gì để khiến chúng sanh hiểu được các pháp
tướng? Hãy lấy các công đức đầy đủ, trí tuệ thanh tịnh, thành tựu thân
Phật ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp tùy hình, ánh sáng, đầy
đủ thần thông vô lượng. Lấy Mười lực, Bốn vô sở úy, Mười tám pháp
không chung, Bốn trí vô ngại, xem xét người có thể độ, thì thuyết pháp
khai hóa, ví như chim Kim sý xem khắp các con rồng, con nào mạng
sắp tận, dùng cánh quạt khắp biển nước rẽ hai bên, rồi bắt lấy mà ăn.
Phật cũng như vậy, dùng Phật nhãn xem chúng sanh trong năm đường
ở mười phương thế giới, ai đáng được độ, thì đầu tiên hiện thần thông,
tiếp đến mở bày tâm ý họ, do hai việc ấy, trừ ba chướng ngại rồi thuyết
pháp cho họ, đưa chúng sanh ra khỏi ba cõi. Được Phật lực có vô lượng
thần thông, giả sử hư dối còn có thể tin được, huống là nói thật! Ây gọi
là phương tiện...
Lại nữa, Bồ-tát dùng Bát-nhã Ba-la-mật biết tướng các pháp, nhớ
bển nguyện muốn độ chúng sanh của mình mà suy nghĩ rằng, trong thật
tướng các pháp, chúng sanh là không thể có được, sẽ làm sao độ? Lại suy
nghĩ rằng, trong thật tướng các pháp, chúng sanh tuy không thể có được,
nhưng vì chúng sanh không biết thật tướng các pháp ấy, nên muốn khiến
cho chúng sanh biết được thật tướng ấy.
Lại nữa, thật tướng pháp ấy cũng không ngại chúng sanh. Thật
tướng pháp ấy gọi là không bị trừ hoại, cũng không tạo tác, ấy gọi là
phương tiện. Đầy đủ bốn pháp ấy, được vào Bồ-tát vị.
KINH: Muốn qua khỏi địa vị Thanh văn, Bích-chi Phật mà trú địa
vị không thối chuyển, hãy nên học Bát-nhã Ba-la-mật.
LUẬN. Hỏi: Bồ-tát khi vào pháp vị, tức đã qua địa vị Thanh văn,
Bích-chi Phật, mà trú địa vị không thối chuyển, cớ sao còn nói lại?
Đáp: Tuy ba việc một lúc, mà các pháp tương ưng khác nhau, nên
thứ lớp tán thán, như trong nhất tâm một lúc được năm vô lậu căn, mà
phân biệt nói mỗi tướng của nó. Bồ-tát khi vào pháp vị, dứt bao nhiêu
kiết sử, được bao nhiêu công đức, qua khỏi địa vị nào, trú ở địa vị nào,
chỉ có Phật biết được. Cũng vì muốn dẫn dắt các Bồ-tát nên Phật mỗi
mỗi tán thán. Như mở đầu Kinh nầy nói, Phật ở núi Kỳ-xà-quật cùng với
năm ngàn Tỳ-kheo, đều là bậc A-la-hán, đã hết các lậu, việc cần làm
đã làm xong. A-la-hán chính là lậu hết, lậu hết chính là việc cần làm đã
làm xong, cũng vì dẫn dắt người khác khiến cho tâm họ thanh tịnh, nên
mỗi mỗi nói lời tán thán, không có lỗi. Đây cũng như vậy, vào pháp vị
tức là qua khỏi địa vị A-la-hán, Bích-chi Phật, mà trú ở địa vị bất thối
chuyển.
Lại nữa, nhân vào pháp vị nên được qua khỏi địa vị A-la-hán, Bích-
chi Phật mà trú ở địa vị bất thối chuyển.
Hỏi: Vào trong pháp vị là qua khỏi già, bệnh, chết, dứt hết các kiết
sử, phá ba ác đạo v.v... trước đã nói, sao đây lại chỉ nói qua khỏi địa vị
Thanh văn, Bích-chi Phật cũng trú các công đức? Vì sao chỉ nói trú ở địa
vị bất thối chuyển?
THÍCH KINH LUẬN 2
Đáp: Bỏ các việc ác, được các công đức, sau sẽ thứ lớp nói đến
công đức về chỗ ở. Các pháp cần phải có thứ lớp, không thể cùng nói
một lần.
Lại nữa, Bồ-tát khi mới phát tâm, điều đáng sợ nhất là địa vị Thanh
văn, Bích-chi Phật. Giả sử đọa địa ngục cũng không sợ bằng, vì không
vĩnh viễn phá đạo Đại thừa. A-la-hán, Bích-chi Phật đối với Đại thừa
nầy cho là đã diệt vĩnh viễn, ví như chỗ đất trống có cây tên là Xá-ma-lê,
cành lá rộng lớn, nhiều chim tụ lại ngủ, một con bồ câu đến sau, đậu trên
một cành, cành lá đó liền bị khô gãy. Thần đầm hỏi thần cây: Chim lớn
như chim cắt, chim thứu đến đậu thì cây chịu nổi, còn chim nhỏ đến đậu
lại không chịu nổi? Thần cây trả lời: Chim nhỏ này từ trên cây Ni-câu-lô
oan gia với ta bay đến, nó ăn trái cây kia rồi đến đậu trên ta, chắc sẽ ỉa
ra, hạt rơi xuống đất, cây ác lại mọc lên, gây hại rất lớn. Vì vậy, đối với
một chim bồ câu, lòng rất lo sợ, thà bỏ một cành, mà được toàn vẹn cây
to lớn. Bồ-tát cũng như vậy, đối với các ngoại đạo, ma chúng, các kiết
sử, ác nghiệp, không sợ bằng sợ A-la-hán, Bích-chi Phật. Vì cớ sao? Vì
Thanh văn, Bích-chi Phật ở bên Bồ-tát cũng như chim bồ câu kia, làm
bại hoại tâm Đại thừa, dứt luôn sự nghiệp thành Phật, vì vậy nên chỉ nói
qua khỏi địa vị Thanh văn Bích-chi Phật.
Trú ở địa vị bất thối chuyển là từ khi mới phát tâm lại đây, thường
ưa thích trú ở địa vị bất thối chuyển. Nghe các Bồ-tát phần nhiều thối
chuyển nên khi phát tâm, lập nguyện rằng: Lúc nào sẽ được qua khỏi địa
vị Thanh văn, Bích-chi Phật mà trú ở địa vị bất thối chuyển! Vì vậy nên
nói trú ở địa vị bất thối chuyển.
Hỏi: Thế nào là địa vị bất thối chuyển?
Đáp: Nếu Bồ-tát quán hết thảy pháp chẳng sanh chẳng diệt, chẳng
chẳng sanh, chẳng chẳng diệt, chẳng chung chẳng phải không chung,
quán các pháp như vậy, được thoát khỏi ba cõi, chẳng vì không, chẳng
vì phi không, một lòng tin nhận thật tướng trí tuệ của mười phương chư
Phật sở dụng, không thể hoại, không thể động, ấy gọi là pháp vô sanh
nhẫn; pháp vô sanh nhẫn chính là địa vị bất thối chuyển.
Lại nữa, vào Bồ-tát vị là địa vị bất thối chuyển, qua khỏi Thanh
văn, Bích-chi Phật, cũng gọi là địa vị bất thối chuyển...
Lại nữa, trú ở địa vị bất thối chuyển, đời đời thường được quả báo
thần thông, không mất không lui. Nếu Bồ-tát được hai pháp ấy, thì tuy
ngộ được thật tướng các pháp mà vì tâm đại bi nên không bỏ chúng
sanh.
Lại có hai pháp:
1. Trí tuệ thanh tịnh.
2. Trí tuệ phương tiện.
Lại có hai pháp:
1. Thâm tâm niệm tưởng Niết-bàn.
2. Việc làm không lìa thế gian.
Ví như rồng lớn, đuôi ở biển cả, đầu ở hư không, chấn động sấm
chớp mà đổ mưa lớn.
Lại nữa, Bồ-tát bất thối chuyển, được trí tuệ thật tướng của các
pháp ấy, đời đời không mất, không bao giờ tạm lìa, đối với thâm kinh
của chư Phật, không bao giờ nghi cũng không làm trở ngại. Vì cớ sao? Vì
ta chưa được Nhất thiết trí nên không biết vì phương tiện gì, nhân duyên
gì nói ra như vậy. Bồ-tát bất thối chuyển, thường với thâm tâm không
bao giờ sanh ác. Bất thối chuyển với thâm tâm thì tích tập các thiện, còn
thiển tâm thì làm các bất thiện.
Hỏi: Nếu tướng của bất thối chuyển là được pháp vô sanh nhẫn, sao
còn thiển tâm làm các bất thiện?
Đáp: Có hai thứ bất thối chuyển:
1. Được pháp vô sanh nhẫn.
2. Tuy chưa được pháp vô sanh nhẫn, nhưng Phật biết nhân duyên
tác nghiệp quá khứ, vị lai của người ấy, chắc sẽ thành Phật, nên vì lợi
ích người hai bên, Phật thọ ký cho người ấy. Vị Bồ-tát này tuy còn mang
nhục thân sanh tử, kiết sử chưa dứt, nhưng là tối đệ nhất đối với hàng
phàm phu, ấy cũng gọi là tướng bất thối chuyển. Nếu được pháp vô sanh
nhẫn, dứt các kiết sử, thì được thanh tịnh, hết nhục thân cuối cùng, được
pháp tánh sanh thân, kiết sử không làm ngăn ngại, không cần dạy răn,
như chiếc thuyền ở giữa sông lớn, không cần điều khiển, tự trôi đến biển
lớn.
Lại nữa, có khi mới phát tâm, sanh nguyện lớn, nguyện dứt các
phiền não, biết thật tướng các pháp, liền được bất thối chuyển. Có khi
chỉ hành Bô" thí Ba-la-mật, liền đầy đủ sáu Ba-la-mật, cho đến hành
Bát-nhã Ba-la-mật cũng như vậy. Có khi hành sáu Ba-la-mật, chưa được
bất thối chuyển, đến khi sanh tâm đại bi đối với chúng sanh, liền được
bất thối chuyển. Có khi được tâm đại bi mà lại nghĩ rằng: Nếu các pháp
đều không, không có chúng sanh, thì có thể độ ai, khi ấy bi tâm liền yếu
kém. Hoặc thây chúng sanh đáng thương mà đối với các pháp, trí quán
“không” còn yếu kém. Nếu được lực phương tiện đối với hai điều ấy,
THÍCH KINH LUẬN 2
đồng đẳng không thiên lệch, tâm đại bi không ngăn ngại thật tướng các
pháp, ngộ được thật tướng các pháp, không ngăn ngại tâm đại bi phát
sanh, có phương tiện như vậy, khi ấy liền được vào Bồ-tát pháp vị, trú ở
địa vị bất thối chuyển, như đã nói trong phẩm Vãng sanh.
Lại nữa, tướng bất thối chuyển như hai phẩm Bất thối chuyển ở sau
sẽ nói.
LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ

Nguồn bản dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Internet Archive OCR)Giấy phép: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch) · OCR Internet Archive · nguồn: archive.org · EN quarantined by Codex on 2026-07-06: previous bodyEn was short INTI-AI quote-widget noise, not a source English body. · EN: AI translation by Codex from Vietnamese source, awaiting source English🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến